Tận dụng hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học Việt Nam (2 kỳ)

Tận dụng hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học Việt Nam (kỳ 1)
tiasang – 20/04/2020 07:00 – Pierre Darriulat

Mới đây, hai trường Đại học Việt-Đức(VGU) và Việt-Pháp (Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội – USTH) lần lượt kỷ niệm 10 năm thành lập. Đây là một dịp để nhìn lại những gì đã đạt được, và quan trọng hơn, để tự đánh giá xem chúng ta đã tận dụng được tối đa những quan hệ hợp tác ấy hay chưa.


Sinh viên và giảng viên đại học Việt – Đức. Ảnh: ĐH Việt – Đức.

Nghị quyết 14 về đổi mới giáo dục đại học Việt Nam

Hai trường VGU và USTH được thành lập trong giai đoạn Việt Nam thực hiện Nghị quyết 14/2005/NQ-CP về đổi mới toàn diện và cơ bản giáo dục đại học Việt Nam 2006-2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 14)Tôi đọc lại văn bản quan trọng đó trước khi viết bài này và, như thường lệ, có ấn tượng sâu sắc với sự sáng suốt và tầm nhìn của những người soạn ra nó. Nghị quyết 14 đã kêu gọi một sự thay đổi phong cách thực sự, tách khỏi cách tiếp cận từng bước truyền thống và dè dặt.

Tuy nhiên, thực tế triển khai Nghị quyết 14 mang lại những kết quả không như kỳ vọng, thể hiện trong đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) qua các năm 2010 và 2018. Tôi xin không đi vào chi tiết, chỉ tóm tắt lại một số nhận định:

i. Mặc dù học sinh 15 tuổi ở Việt Nam có kiến thức và kỹ năng tương đương hoặc cao hơn so với các nước phát triển, nhưng các em không có nhiều lựa chọn giàu chất lượng và phù hợp đối với giáo dục sau phổ thông.

ii. Dù mở rộng nhanh chóng, khả năng tiếp cận giáo dục đại học ở Việt Nam thuộc loại thấp nhất so với các quốc gia trong khu vực. Số sinh viên đại học được tuyển tăng mạnh từ 0,13 triệu năm 1987 lên 1,77 triệu năm 2017. Thế nhưng, tỷ lệ tuyển sinh 28% của giáo dục sau phổ thông của năm 2016 vẫn là một trong những tỷ lệ thấp nhất trong khu vực Đông Á. Khối công lập chiếm phần lớn (85%) giáo dục đại học. Năm 2017, có 235 trường đại học, trong đó có 170 trường công lập và 65 trường ngoài công lập.

Mười hai năm trước, tôi có vinh hạnh được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một người rất quan tâm đến giáo dục đại học. Ông nhấn mạnh thông điệp: “Các trường đại học Việt Nam cần có một cuộc cách mạng, phải tiếp tục đấu tranh!”.

iii. Hệ thống giáo dục đại học Việt Nam vận hành không tốt nếu xét về chất lượng và tính phù hợp của sinh viên tốt nghiệp và sản phẩm nghiên cứu. Hệ thống không cung cấp các kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng máy tính và kỹ năng chung (giải quyết vấn đề, giao tiếp, làm việc nhóm) cần thiết cho sự tăng trưởng của các ngành xuất khẩu có hàm lượng tri thức cao, các ngành dịch vụ, và tự động hóa. Các trường đại học có quá ít kết quả nghiên cứu, và những kết quả ít ỏi có được phần lớn không đủ chất lượng và không phù hợp với các yêu cầu của nền kinh tế. Chất lượng nghiên cứu thấp gắn liền với sự quản lý manh mún của các chương trình nghiên cứu và phát triển, các quỹ nghiên cứu hầu hết được cấp cho các viện nghiên cứu riêng lẻ thay vì cho các trường đại học, sự đãi ngộ chưa thỏa đáng cho các nhà khoa học; các trường đại học công bị cản trở bởi thiếu sự tự chủ và thiếu tài chính.
iv. Đầu tư công của Việt Nam vào giáo dục đại học chưa thỏa đáng và chưa hiệu quả. Năm 2015, Việt Nam chỉ dành 5% chi tiêu giáo dục của chính phủ cho giáo dục đại học, tương đương với chỉ 0,25% GDP và 0,8% tổng chi tiêu của chính phủ. Đây là một trong những mức thấp nhất so với các nước cùng trình độ phát triển và là rất thấp đối với một nước có mục tiêu trở thành một nền kinh tế tri thức trong tương lai gần. Các trường đại học công lập của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào học phí, mà học phí lại là một thách thức cho nhiều sinh viên vì học bổng và hệ thống vay cho sinh viên chưa đủ phát triển. Việt Nam vẫn cấp ngân sách mang tính định kỳ thay vì những cơ chế khách quan và minh bạch hơn ngày càng phổ biến trên thế giới như dựa theo công thức hoặc dựa theo thành tích.

v. Theo xu hướng toàn cầu về đại học tự chủ, Việt Nam đã bắt đầu cải cách tự chủ đại học, dù mới ở quy mô hạn chế. Từ năm 2005, và đặc biệt là sau khi Luật Giáo dục đại học được thông qua vào năm 2012, Việt Nam bắt đầu hướng đến trao cho các trường đại học công nhiều quyền tự chủ hơn. Tuy nhiên, các trường đại học không có quyền tự chủ giống nhau, và đến nay chỉ có 23 trong 235 trường đại học công (chiếm chưa đến 7% số sinh viên) được trao quyền tự chủ.

vi. Chính phủ đã bắt đầu thúc đẩy những điều kiện mạnh hơn về chất lượng giảng dạy, tính liêm chính trong quản lý và trách nhiệm tài chính, đặc biệt với Luật giáo dục đại học 2012. Đến nay, 75% các trường đại học đã thành lập bộ phận quản lý chất lượng riêng. Tuy nhiên, mục tiêu về thực hiện đánh giá độc lập vẫn chưa đạt được bởi các vấn đề năng lực và thiếu tuân thủ.

vii. Chính phủ đang giải quyết những thách thức trên bằng nhiều cách: đang sửa đổi Luật Giáo dục đại học; chuẩn bị một chiến lược dài hạn cho giáo dục đại học giai đoạn 2021-2030; và thực hiện những cải cách cấp thiết về tăng cường chất lượng, nghiên cứu xuất sắc, cải thiện quản lý ở cấp cơ sở và trên toàn hệ thống, và sự bền vững về tài chính. Một trong những ưu tiên là phát triển một số trường đại học thành những trung tâm xuất sắc.

Có thể thấy, khoảng cách giữa nội dung Nghị quyết 14 và việc thực hiện trên thực tế là đáng thất vọng. Phải chăng vì Nghị quyết 14 đặt ra kỳ vọng quá nhiều và vượt khả năng thực hiện trong thực tế? Hay vì những người có trách nhiệm thực hiện chúng không đủ năng lực và không đủ táo bạo? Tôi cho là cả hai, mỗi thứ một chút. Giáo dục đại học đến nay vẫn chỉ chiếm một phần nhỏ trong nguồn lực của chính phủ, những giải pháp cho hầu hết các vấn đề cấp bách chỉ mang tính ngắn hạn, dường như vẫn đang thiếu một tầm nhìn dài hạn để chèo lái đúng hướng.

Để Nghị quyết 14 được thực hiện hiệu quả, cần có một người phụ trách và chịu trách nhiệm cuối cùng; nhưng đáng tiếc là trách nhiệm thực hiện Nghị quyết 14 lại được phân chia cho nhiều bộ và cơ quan, trong đó có Đại học Quốc gia (VNU) và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST)…, mà kết quả là sự rời rạc và kém hiệu quả.

 Trong phòng thí nghiệm của Đại học Việt – Pháp. Ảnh: ĐH Việt – Pháp.

Bên cạnh đó, các học giả cần được tham gia ý kiến rộng rãi trên các diễn đàn, chẳng hạn trong các hội chuyên ngành như Hội Vật lý Việt Nam, và hình thành các nhóm nghiên cứu để vạch ra các giải pháp thiết thực nhất để triển khai Nghị quyết 14. Nhưng đáng tiếc, những sáng kiến như vậy không được thúc đẩy ở Việt Nam. Tất nhiên là có những phân tích bởi các tác giả Việt Nam hoặc bởi những hội thảo có nhiều người Việt Nam tham dự, hoặc thậm chí bởi các cán bộ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhưng không một ai trong số họ có đủ vai trò để vạch ra một lộ trình rõ ràng.
VGU và USTH: Những chậm trễ trong triển khai đại học kiểu mới

Quyết định 69 của Thủ tướng Chính phủ hồi tháng 1 năm 2019 đã vạch ra một kế hoạch với mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục đại học trong giai đoạn 2019-2025. Những diễn giải của nó vẫn nằm trong định hướng chung của Nghị quyết 14 trước đây. Mục tiêu là tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, thực chất về chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của hệ thống giáo dục đại học đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực; góp phần nâng cao chất lượng và năng suất lao động, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, tăng cường năng lực cạnh tranh của quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Đây là những mục tiêu đầy tham vọng, nhưng điều cần lưu ý là trong đó không đề cập đến cả đại học xuất sắc lẫn đại học kiểu mới.

Trong khi đó, Đại học kiểu mới là một giải pháp quan trọng để thực hiện Nghị quyết 14, theo khuyến nghị của WB trong báo cáo năm 2010: Dự án Đại học kiểu mới (ở đây liên quan đến VGU) là một phần không thể thiếu trong sự hỗ trợ liên tục của WB cho giáo dục đại học và là một ưu tiên chính của Chính phủ Việt Nam trong việc thúc đẩy những cải cách tiếp theo. Nó không chỉ tạo ra một trường đại học khoa học và công nghệ mới đào tạo được những sinh viên ra trường có trình độ cao mà thị trường lao động đòi hỏi; nó cũng sẽ kiểm nghiệm những cải cách đang diễn ra trong giáo dục đại học và đưa ra những bài học và chỉ dẫn cho các trường đại học khác khi chúng có nhiều tự chủ hơn trong các lĩnh vực quản trị, tài chính, và chất lượng. Dự án cũng cần được nhìn trong bối cảnh yêu cầu của chính phủ về việc thành lập, với sự hợp tác chặt chẽ với các đối tác quốc tế, những trường đại học công lập mới, mỗi trường sẽ thí điểm và phát triển một kiểu mô hình khác nhau, tùy theo đối tác cụ thể, nhưng tất cả được đặc trưng và liên kết bởi một mức độ tự chủ lớn hơn so với các trường đại học Việt Nam điển hình hiện nay.
Có thể nói cả VGU và USTH đều lấy cảm hứng từ những hướng dẫn của Nghị quyết 14, nuôi dưỡng tư duy kinh doanh, và quyết tâm đem đến cho giáo dục đại học Việt Nam những giá trị nó còn thiếu – VGU đưa ra những tiêu chí cụ thể: tự do và toàn vẹn học thuật, tính trung thực và minh bạch, cam kết chất lượng, trách nhiệm với người khác và với các thế hệ tương lai, hợp tác quốc tế và tôn trọng lẫn nhau. Họ coi trường và giáo viên là người hướng dẫn chứ không phải người giám sát quá trình học tập của sinh viên; họ cho rằng tinh thần ham hiểu biết và các cơ hội hợp tác học tập dựa trên nghiên cứu tạo ra một môi trường học tập hứng thú.

Cả hai trường đều dạy bằng tiếng Anh và có hệ thống quản lý tương tự nhau. Các Hội đồng trường gồm 20 người, đại diện cho các bộ, các trường đại học, các viện nghiên cứu và các công ty của Việt Nam (10 người) và Đức hoặc Pháp (10 người). Họ thường họp mỗi năm một lần để quyết định các vấn đề quan trọng liên quan đến sự phát triển chiến lược của trường. Chủ tịch Hội đồng là Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với VGU và chủ tịch VAST đối với USTH, cả hai đều là Ủy viên Trung ương Đảng. Để minh họa cho vai trò của họ, Hội đồng trường USTH họp lần gần nhất vào tháng 4/2019 để bổ nhiệm hiệu trưởng mới, ký một thỏa thuận khung giữa USTH và USTH Consortium [liên minh gồm hơn 40 trường đại học và viện nghiên cứu của Pháp – ND] và thông báo về việc gia hạn 5 năm dự án xây dựng khuôn viên mới ở Hòa Lạc, khi đó đã chậm tiến độ và được dự kiến khởi công vào tháng 3/2020.


 Mô hình giáo dục Bologna rất phổ biến và hiệu quả ở châu Âu. Nguồn ảnh minh họa: bmbf.de

Đứng đầu mỗi trường là một nhà khoa học của nước đối tác, Đức và Pháp, được hỗ trợ bởi một phó hiệu trưởng người Việt Nam. Vị trí này ở VGU được gọi là chủ tịch, còn với USTH là hiệu trưởng. Cả hai trường đại học đều được hỗ trợ bởi một liên minh gồm nhiều trường đại học và viện nghiên cứu của nước đối tác, các đơn vị này tham gia vào xây dựng chương trình đào tạo và phụ trách các vấn đề liên quan đến hợp tác giữa trường đại học và các đối tác ở Đức và ở Pháp.
Một khác biệt lớn giữa VGU và USTH là số năm của chương trình học. Ở VGU, chương trình cử nhân kéo dài 4 năm, chương trình thạc sỹ từ 2 đến 2,5 năm, và tiến sỹ từ 3 đến 5 năm. Trong khi đó, USTH áp dụng quy trình Bologna “3 + 2 + 3”, tức là tổng cộng 8 năm thay vì từ 9 đến 11,5 năm như VGU. Để so sánh, chương trình cử nhân của các trường đại học lớn của Việt Nam kéo dài 4 năm (Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội) hoặc 5 năm (Đại học Bách khoa Hà Nội). Tôi không hiểu logic của những sự chênh lệch này. Theo USTH, quy trình Bologna được áp dụng gần như thống nhất ở châu Âu, trong khi VGU khẳng định rằng chương trình của mình theo sát chương trình của các trường đại học ở Đức (mặc dù Đức cũng là một nước châu Âu thực hiện theo quy trình Bologna?). Độ dài chương trình học đại học là một tham số rất quan trọng; tôi ngạc nhiên vì nó không được xem xét một cách nghiêm túc hơn.

VGU gồm hai khoa, khoa Kỹ thuật và khoa Kinh tế và Quản lý. USTH được tổ chức thành chín khoa: khoa Đào tạo đại cương, khoa Khoa học sự sống, khoa Công nghệ thông tin và truyền thông, khoa Năng lượng, khoa Hàng không, khoa Khoa học cơ bản ứng dụng, khoa Vật liệu tiên tiến và công nghệ nano, khoa Nước – môi trường – hải dương học, và khoa Vũ trụ và ứng dụng.

Năm học 2016-2017, VGU có 1200 sinh viên và đặt mục tiêu 5000 sinh viên vào năm 2020. Tuy nhiên, trường vẫn chỉ có khoảng 1300 sinh viên. Năm học 2019-2020, USTH có 750 sinh viên hệ cử nhân và chỉ 35 học viên thạc sỹ năm thứ nhất so với 78 học viên năm học 2016-2017. Cả hai trường đều gặp khó khăn lớn trong tuyển sinh.

Sự phát triển của cả VGU lẫn USTH đều chậm hơn dự kiến, đặc biệt là việc xây dựng các khuôn viên mới. Hệ quả là tháng 8/2015, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng quyết định hoãn mở thêm đại học hợp tác với quốc tế, ít nhất đến 2020. Trong trường hợp của VGU, dự án được khởi công vào tháng 10/2016, với tổng đầu tư hơn 200 triệu USD, trong đó 180 triệu là các khoản vay lãi suất thấp từ Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) và 20 triệu là từ Chính phủ Việt Nam. Tuy nhiên, tiến độ bị chậm do các vấn đề trong quản lý dự án. Dưới sức ép của WB, ngày 12/12/2019, Bộ Giáo dục và Đào tạo tuyên bố quyết tâm xây dựng trên đà đang có của dự án hoàn thành cuối tháng 11/2020 và đạt đến mục tiêu biến VGU thành một trường đại học nghiên cứu tự chủ. Bộ Giáo dục và Đào tạo cam kết cấp đủ vốn đối ứng và vốn IDA để tạo điều kiện cho các hoạt động của dự án được hoàn thành đúng hạn, và đồng ý với WB về mười tám hành động có thời hạn.

Trong trường hợp của USTH, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) soạn một báo cáo sơ bộ vào năm 2010, sau đó là một báo cáo chi tiết vào năm 2012, trong đó mô tả dự án cùng với các mục tiêu và điều kiện thực hiện. Tháng 11/2018, Việt Nam và Pháp ký một thỏa thuận liên chính phủ về việc phát triển USTH trong giai đoạn 5 năm 2019-2023, theo đó Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Pháp khẳng định lại quyết tâm và cam kết phát triển USTH thành một đại học xuất sắc và một trong những đại học hàng đầu khu vực Đông Nam Á. Một hội thảo chiến lược về việc phát triển USTH diễn ra ở Hà Nội vào tháng 12/2019 với mục đích rút ra các bài học từ mười năm vừa qua và đổi mới với những mô hình và quan hệ đối tác mới. Tháng 11/2019, ADB đưa ra dự án cập nhật, trong đó việc xây dựng khuôn viên mới được dự kiến hoàn thành năm 2023.

***

Nếu VGU và USTH thất bại, đó trước hết sẽ là thất bại của Việt Nam chứ không phải thất bại của các nước đối tác. Giúp hai trường thành công là vì lợi ích của Việt Nam hơn là lợi ích của các nước đối tác. Quả bóng đang ở trong chân chúng ta. Các nước đối tác đã dành nhiều thời gian và công sức cho sự phát triển của VGU và USTH, chúng ta thì chưa. Có thể họ đi chệch đường vì thiếu một nhận thức chính xác về tình hình Việt Nam, chúng ta có trách nhiệm giúp họ quay lại con đường đúng. Chúng ta phải thực hiện trách nhiệm của mình. Thiếu chỉ đạo từ trên xuống không phải lý do để cứ mãi thụ động. Những khởi xướng từ dưới lên sẽ giúp thúc đẩy tiến bộ và cần được khuyến khích. Chúng ta không được phép quản lý giáo dục đại học như dự án đường sắt đô thị Hà Nội; ở đây chúng ta không chỉ xử lý hàng trăm triệu USD, mà quan trọng hơn, còn tác động tới tương lai của trẻ em cả nước, tài sản lớn nhất của quốc gia.

Nguyễn Hoàng Thạch dịch

(Còn tiếp)

***

Tận dụng hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học Việt Nam (kỳ 2)

22/04/2020 07:08 –

Tôi đã có nhiều cơ hội để bàn về chủ đề đổi mới giáo dục đại học trên Tia Sáng và cả ở những nơi khác1, đến nỗi những gì tôi sẽ nói chỉ là nhắc lại những gì đã từng nói trước đó. Tôi không đặc biệt thông thái, không có chuyên môn đặc biệt, không có tầm nhìn đặc biệt, không có tài năng đặt biệt; tôi chỉ viết ra những điều hợp lẽ thường; nhiều đồng nghiệp Việt Nam có tư cách hơn tôi để dẫn dắt chúng ta trên con đường cách mạng mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kêu gọi khoảng mười hai năm trước, với thông điệp cơ bản là một cuộc cách mạng đòi hỏi một sự thay đổi mạnh mẽ về phong cách, để biến các trường đại học thành những ngôi đền của sự nghiêm khắc về tri thức và đạo đức. Chúng ta dường như không sẵn sàng hoặc không muốn thúc ép nó. Nhưng không có nó, chúng ta sẽ chắc chắn thất bại.


Sinh viên Việt Nam và Pháp đi thực tập khảo sát mô hình xử lý nước thải tại Gia Lâm. Ảnh: Tăng Thị Chính.

Những vấn đề đang đặt ra

Việc thực hiện những hướng dẫn của Nghị quyết 14 đòi hỏi một tầm nhìn tổng quan bao quát được không chỉ các trường đại học mà toàn bộ giáo dục sau phổ thông, bao gồm cả các trường dạy nghề, có tính đến tình hình quốc tế, xét cả ngắn hạn và dài hạn, và lưu ý đến những ràng buộc của thực tế. Điều này bị cản trở bởi sự thiếu vắng một người lãnh đạo và sự phân tán trách nhiệm giữa các nhân tố liên quan đến cải cách. Trước khi đề xuất cách vượt qua trở ngại chính đó, tôi xin có vài nhận xét sơ bộ.

Câu hỏi đầu tiên là: vì sao các trường đại học kiểu mới sẽ thành công trong khi các trường khác thất bại? Câu trả lời, theo tôi, là mô hình kiểu mới đem đến điều kiện làm việc và thu nhập tốt hơn cho giảng viên của các trường đó. Điều này dẫn đến câu hỏi tiếp theo: làm sao để đảm bảo là họ xứng đáng với những điều kiện tốt hơn đó? Cách duy nhất tôi có thể nghĩ ra là thực hiện một quá trình tuyển chọn khắt khe đối với cả sinh viên lẫn giảng viên, về cả giảng dạy lẫn nghiên cứu. Những điều trên là hiển nhiên, nhưng chúng gợi ra nhiều bình luận. Nếu chúng ta muốn mô hình đại học kiểu mới được các nhân tố của giáo dục đại học chấp nhận, chúng ta phải chỉ ra được những đặc quyền của nó là chính đáng. Không thể đơn giản đưa từ trên xuống một quyết định rằng trường đại học này hay trường đại học kia là trường đại học xuất sắc; đó là những danh hiệu vô nghĩa. Trước khi nhận dạng những trường đại học xuất sắc, cần phải nhận dạng những cá nhân và những nhóm nghiên cứu xuất sắc; chỉ bằng cách khiến cho họ làm việc cùng nhau, chúng ta mới có thể hy vọng xây dựng được những trường đại học xuất sắc. Sự xuất sắc được áp dụng cho cả sinh viên lẫn giảng viên. Sự tuyển chọn kéo theo tính nghiêm túc và tính chính trực. Đối với sinh viên, đó là sự nghiêm túc và chính trực trong kỳ thi tuyển, cũng như trong việc theo dõi sự tiến bộ và việc cấp bằng. Đối với giảng viên, đó là sự nghiêm túc và chính trực trong tuyển dụng và thăng tiến, với ban tuyển dụng đánh giá dựa trên những tiêu chí khách quan: kinh nghiệm và trình độ giảng dạy, số lượng và chất lượng các bài báo khoa học, năng lực lãnh đạo nghiên cứu, kinh nghiệm đào tạo thạc sỹ và/hoặc tiến sỹ, uy tín quốc tế, năng lực phát triển hợp tác, v.v.

Sinh thời GS. Hoàng Tụy thường nói rằng ưu tiên hàng đầu để phát triển các trường đại học Việt Nam là tăng lương đến một mức khá cho giảng viên và nghiên cứu viên. Việc này chỉ có thể được thực hiện cùng với việc đưa ra một hệ thống đánh giá chất lượng công bằng và khách quan. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể bàn về một tác động tài chính ở một quy mô đủ lớn. Chúng ta không thể nói, như một lý do để không hoạt động, rằng thiếu nguồn tài chính, khi mà bao nhiêu tiền bị lãng phí do quản lý yếu kém, chưa kể đến tham nhũng. Hàng triệu USD bị lãng phí vì đầu tư vào các thiết bị không được dùng đến. Trái lại, những quy định mới về tự chủ và cấp ngân sách cho nghiên cứu khoa học đang cản trở sự phát triển và đe dọa sự sống còn của những nhóm nghiên cứu xuất sắc trong cả nước. Sau đây là một thí dụ minh họa cho hỗ trợ eo hẹp dành cho nghiên cứu cơ bản và điều kiện làm việc khó khăn của chúng tôi. Năm ngoái, chúng tôi phải cử một thành viên đi tham gia vận hành Kính thiên văn James Clerk Maxwell trên núi Mauna Kea ở Hawaii; Đài thiên văn Đông Á (East Asian Observatory) đã hào phóng hỗ trợ tiền ăn ở trong thời gian ở đó, nhưng chúng tôi phải bỏ tiền túi để mua vé máy bay cho anh ấy.

Hơn ba thập kỷ từ khi Đổi mới, chúng ta vẫn chưa thể làm giảm thảm họa chảy máu chất xám của nước nhà. Trong việc này, chúng ta không thể trông chờ các đối tác nước ngoài giúp đỡ. Tôi sống ở Việt Nam, và tôi đấu tranh để tài năng của các đồng nghiệp trẻ người Việt được thừa nhận ở Việt Nam. Nếu tôi sống ở Pháp và chào đón những sinh viên Việt Nam gia nhập các đồng nghiệp trẻ của mình, tôi sẽ đấu tranh để tài năng của họ được thừa nhận ở Pháp; tôi sẽ chẳng quan tâm đến nạn chảy máu chất xám ở Việt Nam, tôi thậm chí sẽ góp phần làm cho nó nặng hơn. Ý thức được rằng Việt Nam không thể cho họ điều kiện làm việc thích hợp và không tôn trọng hiểu biết và kỹ năng của họ, tôi sẽ cố hết sức để giữ họ lại Pháp hoặc đâu đó ở châu Âu. Chúng ta sẽ rất sai lầm nếu nghĩ rằng hỗ trợ quốc tế đơn giản là cho sinh viên Việt Nam cơ hội du học và cho giảng viên nước ngoài cơ hội đến Việt Nam một hai tuần để giảng lại những gì họ đã giảng ở nước họ. VGU và USTH sẽ trở thành nơi môi giới du lịch cho giảng viên nước ngoài và phương tiện chảy máu chất xám cho sinh viên Việt Nam nếu chúng ta cứ tiếp tục bỏ quên trách nhiệm của mình. Cụ thể, chúng ta cần: nhận dạng những nhóm nghiên cứu Việt Nam có khả năng tận dụng ưu thế hợp tác với các nhóm nghiên cứu nước ngoài để phát triển về chất lượng và quy mô; hỗ trợ các nhóm đó một cách thiết thực; ngược lại, mỗi sinh viên Việt Nam du học bằng hỗ trợ tài chính của nhà nước phải kèm theo điều kiện được một nhóm hướng dẫn trong nước liên hệ sát sao và theo dõi quá trình học tập.

Không phải mọi trường đại học nước ngoài đều tốt. Ở Mỹ có Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) và Đại học Harvard, nhưng cũng có Đại học Trump và Đại học Pacific Western, nơi người ta có thể mua bằng cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ với vài nghìn đô-la. Có đủ mọi cấp độ giữa hai thái cực đó. Sẽ rất sai lầm khi cho rằng chỉ cần sao chép lại chương trình học của họ là có thể thành công. Chúng ta cần phải học từ cả thành công và thất bại của họ và chuyển sang bối cảnh Việt Nam. Các nước khác nhau có những mỗi ưu tiên khác nhau. Một trường đại học ở Thụy Điển có thể tự hào về việc giảng dạy về biến đổi khí hậu và cắt giảm phát thải CO2. Việt Nam, nơi lượng phát thải COtheo đầu người thấp hơn nhiều so với một số nước phát triển, nơi lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long tăng nhanh hơn nhiều so với sự dâng của mực nước biển, và nơi ô nhiễm nước và không khí ở các thành phố lớn đạt mức báo động, có những ưu tiên khác về môi trường. Nếu không tìm hiểu kỹ để xác định rõ các yêu cầu của Việt Nam, chúng ta sẽ thất bại trong sứ mệnh đóng góp vào sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.

Một thí dụ quen thuộc đối với tôi liên quan đến khoa Vũ trụ và ứng dụng của USTH. Việt Nam cần phải cho USTH biết rõ đất nước có những ưu tiên gì, cụ thể là giữa sản xuất vệ tinh và khai thác vệ tinh, để USTH điều chỉnh việc giảng dạy cho phù hợp với các nhu cầu của chương trình vũ trụ. Một thí dụ khác, vẫn với USTH nhưng ở thời điểm thành lập trường, trước khi chương trình điện hạt nhân thất bại, là nỗ lực tận dụng trình độ của Pháp trong xây dựng và vận hành nhà máy điện hạt nhân để tạo ra một khoa điện hạt nhân trong trường. Chúng tôi không tìm được những người đối thoại Việt Nam suy nghĩ trên lợi ích quốc gia và đủ quan tâm để đưa ra những đề xuất mang tính xây dựng. Việc quốc tế hóa giáo dục đại học Việt Nam là một khái niệm mơ hồ, được mỗi người hiểu theo một cách khác nhau2. Định nghĩa nó một cách cụ thể là việc của chúng ta.

Còn nhiều điều đáng bàn nữa3, nhưng tôi xin phép không đi sâu tiếp do khuôn khổ của bài viết.

Giải pháp với VGU và USTH

VGU và USTH phát triển chậm hơn kỳ vọng và đang trải qua một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng về tuyển sinh. Như đã đề cập trong kỳ trước, nếu hai trường thất bại, đó trước hết sẽ là thất bại của Việt Nam chứ không phải thất bại của các nước đối tác. Giúp hai trường thành công là vì lợi ích của Việt Nam; quả bóng đang ở trong chân chúng ta.


Ngành Nhật Bản học là một trong những ngành có nhiều hợp tác quốc tế với các trường đại học ở Nhật Bản. Nguồn ảnh: Đại học Kinh tế TP HCM. 

Tôi xin gợi ý rằng VGU và USTH có thể bắt đầu những nỗ lực thành lập những nhóm làm việc nhỏ với nhiệm vụ nghiên cứu một cách nghiêm túc tình hình và đưa ra những đề xuất để cải thiện nó. Một số nhóm cần nghiên cứu nhu cầu của Việt Nam về giáo dục đại học để phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội. Chẳng hạn, đối với khoa Vũ trụ và ứng dụng của USTH, một nhóm làm việc nhỏ có thể nghiên cứu thực trạng của chương trình vũ trụ của Việt Nam, sự chia sẻ trách nhiệm giữa các cơ quan và tổ chức thuộc các bộ khác nhau, sự thống nhất và phối hợp nếu có giữa các hoạt động của họ, tầm quan trọng của việc khai thác hình ảnh vệ tinh, triển vọng có được những vệ tinh dành riêng cho những quan trắc trên lãnh thổ Việt Nam, nhu cầu xây dựng thêm các trạm mặt đất, triển vọng dài hạn hơn về khả năng tự chế tạo hoặc thậm chí tự phóng vệ tinh, v.v.

Những nhóm làm việc như vậy sẽ không thuộc về riêng nước nào, mà vận hành trong sự hợp tác giữa Việt Nam và nước đối tác. Phần lớn công việc cần được làm trong nước bởi người Việt Nam, nhưng sự tham gia của các nhà khoa học của nước đối tác cũng là cần thiết, đặc biệt là các nhà khoa học hiện diện ở Việt Nam, chẳng hạn các thành viên của Viện Nghiên cứu và Phát triển (IRD) của Pháp. Thành phần chủ yếu của các nhóm làm việc cần phải là các nhà khoa học chứ không phải các nhà quản lý hay các chính trị gia: giảng viên, nghiên cứu viên, và cả sinh viên – tôi chắc chắn một số sinh viên sẽ tự nguyện đóng góp thời gian vào các nghiên cứu đó nếu được trao cơ hội, và những gì họ sẽ học được là vô giá. Các nhóm làm việc cần thực hiện các báo cáo, gửi cho chủ tịch hay hiệu trưởng của trường đại học, tóm tắt kết quả công việc, phân tích và đề xuất những hành động nhằm giúp trường đại học tiến bộ và phát triển theo đúng hướng. Họ có thể học hỏi Ngân hàng Thế giới (WB) trong việc thực hiện những báo cáo chất lượng về những vấn đề chính liên quan đến sự tiến bộ và phát triển của Việt Nam.

Bên cạnh những nhóm làm việc gắn với các khu vực cụ thể liên quan đến chương trình giảng dạy của trường đại học, cần có một số nhóm giải quyết các câu hỏi chung hơn, chẳng hạn độ dài của chương trình và logic đằng sau nó, hay tiền lương của các nhà khoa học ở đại học công, đại học tư và các viện nghiên cứu, hay nghiên cứu sự tiến triển của nạn chảy máu chất xám và nguyên nhân của nó.

Kết quả của việc đó sẽ vô cùng giá trị. Các báo cáo sẽ tạo thành một nguồn tư liệu quý giá để các hội đồng trường, các liên minh các trường đại học và các ban quản lý [dựa vào đó để] khởi xướng các bước giúp cho sự tiến bộ và phát triển của trường đại học. Quan trọng hơn, chúng sẽ khiến cộng đồng khoa học và sinh viên Việt Nam nhận thức tốt hơn trách nhiệm của mình; chúng sẽ trở thành hình mẫu để các tổ chức, chẳng hạn các hội chuyên ngành, chủ động tham gia vào sự tiến bộ và phát triển của giáo dục đại học Việt Nam, vào việc làm giảm và tiến đến ngăn chặn hoàn toàn nạn chảy máu chất xám.

Cỏ đồng bên bao giờ cũng xanh hơn. VGU và USTH  có thể giúp sinh viên nhảy qua hàng rào sang bên đó, như sinh viên Việt Nam vẫn làm từ hàng thập kỷ. Họ cũng có thể giúp sinh viên tưới nước cho cỏ ở bên này. Quyết định lựa chọn và hành động ở bên nào là của chúng ta.

***

Qua nhiều phân tích minh họa cho cách quốc tế nhìn nhận về giáo dục đại học Việt Nam; tôi luôn bị ấn tượng bởi mối quan tâm lớn mà các học giả nước ngoài dành cho giáo dục đại học Việt Nam, tương phản với thái độ của nhiều học giả trong nước. Tôi nhớ vài năm trước, có lần tôi tiếp cận với hiệu phó của một trường đại học Việt Nam và nói với ông ấy về những khiếm khuyết trong việc cấp bằng tiến sỹ ở Việt Nam; ông ấy trả lời rằng đó không phải việc của mình, và rằng tôi nên tìm đến Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bất cứ ai yêu tri thức và khoa học và muốn thấy đất nước phát triển đều sẽ quan tâm và coi đó là việc của mình, không phải thế sao? Một thí dụ minh họa nữa là một hội thảo chiến lược mới đây của USTH mà tôi có tham dự. Số học giả người Pháp tham dự lớn hơn hẳn số học giả người Việt Nam, mặc dù hội thảo diễn ra ở Hà Nội.

Sẽ là sai lầm nếu cho rằng hỗ trợ quốc tế về giáo dục đại học có thể giúp chúng ta không cần đầu tư thời gian và công sức cho nó, giúp chúng ta thoát khỏi gánh nặng đối mặt với các thách thức, khuyến khích sự vô trách nhiệm và cho phép chúng ta nói rằng mình không quan tâm và đó không phải việc của mình. Trái lại, chúng ta cần được tổ chức một cách hiệu quả để tận dụng tối đa sự hỗ trợ đó. 

Mô hình đồng hướng dẫn
Trong kỳ trước, bài viết đã đề cập mô hình hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học qua việc triển khai mô hình đại học kiểu mới ở hai trường VGU và USTH. Trong kỳ này, tôi xin nêu tiếp một thí dụ về mô hình đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sỹ mà các trường đại học kiểu mới nên tận dụng.
Một luận án cotutelle có những đặc điểm sau: một thỏa thuận được ký, thường ở cấp cao, giữa hai đơn vị đào tạo tiến sỹ của Pháp và của Việt Nam; thỏa thuận đề cập đến các nguồn hỗ trợ tài chính (đi lại và thù lao) và nêu rõ:
i. Nghiên cứu sinh sẽ chia sẻ thời gian làm việc giữa hai nước, gồm ba đợt làm việc ở Pháp xen kẽ với ba đợt làm việc có thời gian tương đương ở Việt Nam, mỗi năm một đợt;
ii. Luận văn được viết bằng tiếng Anh và có các phần tóm tắt bằng tiếng Pháp và tiếng Việt;
iii.Hai người đồng hướng dẫn có trách nhiệm ngang nhau trong đảm bảo việc nghiên cứu vận hành suôn sẻ;
iv.Luận án sẽ được bảo vệ ở một trong hai nước (với chúng tôi, ban đầu các buổi bảo vệ được tổ chức ở Pháp, nhưng ba buổi bảo vệ mới nhất được chuyển về Việt Nam);
v.Hội đồng bảo vệ gồm các thành viên từ cả hai nước (có thể có cả thành viên từ nước khác) với số lượng bằng nhau, có hai đồng chủ tịch là một nhà khoa học Việt Nam và một nhà khoa học Pháp;
vi.Nghiên cứu sinh sẽ đóng học phí ở nước nào (nhưng họ được đăng ký ở cả hai trường ở hai nước);
vii.Sau khi bảo vệ thành công, nghiên cứu sinh sẽ được nhận cả bằng Pháp và bằng Việt Nam.
Các luận án cotutelle là những hoạt động hai bên cùng có lợi, đặc biệt phù hợp với sự hợp tác giữa một nước đang phát triển và một nước phát triển; chúng nên trở thành một công cụ lý tưởng cho sự phát triển của USTH trong những năm tới. Chúng cho Việt Nam lợi thế duy trì được liên hệ chặt chẽ với nghiên cứu sinh trong suốt thời gian nghiên cứu; chúng gieo hạt giống cho những hợp tác trong tương lai; chúng cho Pháp cơ hội hiểu rõ hơn tình hình giáo dục đại học và nghiên cứu ở Việt Nam; chúng cho cả nhóm nghiên cứu ở Việt Nam cơ hội tìm hiểu chủ đề mà nghiên cứu sinh đang nghiên cứu.
Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của chúng tôi, nghiên cứu sinh phải chờ từ một đến hai năm sau khi bảo vệ thành công để được nhận bằng tiến sỹ Việt Nam. Họ phải trải qua một cuộc chạy vượt chướng ngại vật thật sự, làm thêm một khối lượng công việc đáng kể và bảo vệ lại luận án trước một hội đồng thuần Việt Nam. Điều này tạo cho Việt Nam một hình ảnh không đẹp, khi không tôn trọng những điều khoản thỏa thuận và tỏ ra coi thường hội đồng bảo vệ quốc tế cũng như nhóm hướng dẫn của Pháp. Sáu năm trước, chúng tôi có dịp thảo luận vấn đề này với GS. Bùi Văn Ga, khi đó là thứ trưởng phụ trách các trường đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ông Bùi Văn Ga hoàn toàn đồng ý với những điểm chúng tôi đưa ra, và nói rằng Bộ sẽ đơn giản hóa quy định của Việt Nam trong trường hợp cotutelle. Nhưng đến nay vẫn chưa có gì thay đổi.
Tôi tin rằng việc sử dụng cotutelle hiệu quả hơn sẽ rất có lợi cho cả Việt Nam và Pháp, và USTH nói riêng. Sau hội thảo chiến lược USTH, tôi viết về hiệu ứng này và gửi cho những nhà chức trách Việt Nam và Pháp có liên quan. Phía Pháp đã lập tức trả lời, thể hiện sự ủng hộ, nhưng phía Việt Nam không trả lời.

Nguyễn Hoàng Thạch

(Viện Toán học) dịch

—-

1Tôi lưu một số bài viết liên quan tại địa chỉ https://drive.google.com/open?id=11WaVrgi5 MkmbScuKyPM17va8A4vgdvW7

2 https://www.britishcouncil.ph/sites/default/files/06_le_ahn_vinh_vietnam.pdf ; Le AnhVinh, Internationalisation in Vietnamese Higher Education Policies and Practices, 2018.

http://www.vnseameo.org/InternationalConference2018/wp-content/uploads/2018/08/NTMNgoc_Fullpaper.pdf ; Nguyen Thi My Ngoc, Apipa Prachyapruit, Varaporn Bovornsiri, A Quest for International Curriculum Innovation and Change in Vietnam Higher Education Institutions.

https://pdfs.semanticscholar.org/d33c/c4aff98153bc46983951515fd1 f93272e971.pdf; Nguyen Thi Phuong Thu, The internationalisation of higher education in Vietnamese universities, 2018.

3 Tôi liệt kê dưới đây một số tài liệu liên quan:

https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0738059317302584 ; Le Huu Nghia Tran, Game of blames: Higher education stakeholders’ perceptions of causes of Vietnamese graduates’ skills gapInternational Journal of Educational DevelopmentVolume 62, September 2018, Pages 302-312.

https://www.mironline.ca/corruption-vietnamese-education-major-issues/ ; Thinh Ho, Corruption in Vietnamese Education: Major Issues, The McGill International Review, November 22, 2017.

https://doi.org/10.6017/ihe.2018.0.10546; Do Minh Ngoc, Competitive Strategies of Vietnamese Higher Educational Institutions.

https://doi.org/10.1177/1523422318803086 ; Tam T. Phuong, Dae Seok Chai, Talent Development for Faculty: The Case of Vietnam, 3/10/2018.

https://mospace.umsystem.edu/xmlui/bitstream/handle/10355/69969/NguyenThiKieu.pdf?sequence=1 ; Thi Kieu Van Nguyen, Vietnamese educational leaders as border crossers: Vietnam and academic and career guidance and counselling activities, May 2019.

https://doi.org/10.3390/su11236818 ; Thuan Van Pham,Thanh Thi Nghiem, Loc My Thi Nguyen, Thanh Xuan Mai and Trung Tran, Exploring Key Competencies of Mid-Level Academic Managers in Higher Education in Vietnam, Sustainability 2019, 11(23), 6818.

Vo Van Tuan, Phan Quoc Lam, Development of private universities in VietnamInternational research journal, 3/81, March 2019;

https://minerva-access.unimelb.edu.au/bitstream/handle/11343/219372/Lily_Thesis_Dec2018.pdf?sequence=1&isAllowed=y ; Lily Thi Ha Nguyen, Becoming professional researchers: An exploration of the experiences of Vietnamese doctoral students in Australia, September 2018.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s