Đường đến Fulbright từ Mù Cang Chải

TTHành trình từ vùng cao Mù Cang Chải xa xôi đến FUV là cả một câu chuyện dài với nhiều cung bậc thăng trầm, đa dạng cảm xúc. 

Tủa cùng các bạn được cấp học bổng toàn phần (bao gồm học phí, nơi ở) cho năm học Đồng kiến tạo của ĐH này.

Tiếp tục đọc “Đường đến Fulbright từ Mù Cang Chải”

Đầu tư cho giáo dục đại học ở Việt Nam rất thấp

VNN – 27/11/2020    09:53 GMT+7

Theo WB, Việt Nam phân bổ nguồn lực công hơn 5% GDP cho giáo dục, tuy nhiên trong đó, mức đầu tư cho giáo dục đại học hiện rất thấp, chỉ chiếm 0,33%

WB: Nguồn lực cho giáo dục đại học ở Việt Nam còn thấp - VietNamNet
Tổng quan mức đầu tư cho giáo dục đại học của Việt Nam và một số nước trên thế giới.

Tiếp tục đọc “Đầu tư cho giáo dục đại học ở Việt Nam rất thấp”

Kỳ 2: Rối loạn bên trong sẽ thua bên ngoài

Nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh và nguyên Giám đốc Học viện Quốc phòng Võ Tiến Trung:

ANTGCT – 10:06 16/12/2021

Người Việt Nam có thể nhân nhượng việc A, việc B, việc C nhưng không bao giờ nhân nhượng chủ quyền cả. Chúng ta phải vận động nhân dân hiểu rõ bảo vệ biển đảo là trách nhiệm và nghĩa vụ của người dân, từ đó tạo ra thế trận lòng dân và thế trận chiến tranh nhân dân trên biển…

Kỳ 2: Rối loạn bên trong sẽ thua bên ngoài -0

Tiếp tục đọc “Kỳ 2: Rối loạn bên trong sẽ thua bên ngoài”

Giáo dục đại học cho tất cả mọi người

Chào các bạn,

“Tỉ lệ người học đại học Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới.” Chỉ khoảng 28,3% số người trong tuổi đại học, 18 đến 29 tuổi, là có học đại học. Đây là vấn đề đau đớn và tai hại cho phát triển đất nước. Có nghĩa là, chúng ta bỏ phí 71,7% đầu óc thanh niên. Không học đại học thì cũng có thể phát triển đầu óc làm việc khác, nhưng nói chung thì không được học đại học là mất đi cơ hội lớn để phát triển đầu óc. Và đó là một lãng phí cực kỳ lớn cho đất nước, chẳng lãng phí tiền bạc nào có thể so sánh được. Tiếp tục đọc “Giáo dục đại học cho tất cả mọi người”

Dân trí là gì và làm sao để nâng cao dân trí?

Chào các bạn,

Câu mà rất nhiều người, nhiều lãnh đạo, nhiều quan chức, nhiều trí thức Việt Nam thường nói là “dân trí Việt Nam thấp”. Nhưng dân trí là gì? Làm sao để đo lường dân trí? Và làm sao để nâng cao dân trí?

Nếu bạn google tìm đề tài dân trí thì lời giải thường là các nhà bán sách và các quán cà phê sách nói rằng đọc sách để nâng cao dân trí. Còn hầu hết, hình như người ta chỉ nói dân trí ta thấp, mà chẳng có chứng minh tại sao thấp, thấp đến độ nào, và làm sao để nâng cao dân trí. Tiếp tục đọc “Dân trí là gì và làm sao để nâng cao dân trí?”

Tỉ lệ người học đại học Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới

17/06/2019 14:34

TTOMặc dù tổng chỉ tiêu tuyển sinh đại học năm 2019 tăng nhẹ nhưng trên thực tế ở Việt Nam số người trong độ tuổi đi học đại học (từ 18-29 tuổi) tham gia học đại học rất thấp, khoảng 28,3%, thuộc hàng thấp nhất thế giới.

Tỉ lệ người học đại học Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới - Ảnh 1.
Ông Phạm Như Nghệ giải đáp thắc mắc của đại diện các trường tại buổi tập huấn phần mềm tuyển sinh sáng 17-6 – Ảnh: TRẦN HUỲNH

Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học – Bộ GD-ĐT Phạm Như Nghệ – cho biết như vậy trong hội nghị tập huấn tuyển sinh đại học hệ chính quy năm 2019 do Bộ GD-ĐT tổ chức tại TP.HCM hôm nay 17-6.

Trong khi đó, tỉ lệ này ở Thái Lan, Malaysia là 43% hay 48%, còn tại những nước phát triển thì tỉ lệ này còn cao hơn nữa.

Tiếp tục đọc “Tỉ lệ người học đại học Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới”

Những giáo sư bị “bịt miệng” và một nền giáo dục đại học Mỹ đang rung lắc

Xê NHO 4/11/2021 7:10 GMT+7

TTCTTinh thần giáo dục khai phóng, môi trường tự do học thuật, khuyến khích tranh luận có lẽ là những điểm thu hút phụ huynh khi cố gắng cho con đi du học ở Mỹ. Nhưng các vụ việc xảy ra gần đây rất có thể khiến các bậc phụ huynh này phải suy nghĩ lại.

 

Tiếp tục đọc “Những giáo sư bị “bịt miệng” và một nền giáo dục đại học Mỹ đang rung lắc”

Bỏ ghi hệ đào tạo “chính quy” hay “tại chức” trên bằng đại học từ 1/3/2020

 ĐSPL – Chủ nhật, 01/03/2020 | 04:06

Từ 1/3/2020, hình thức đào tạo là nội dung được ghi trên phụ lục văn bằng chứ không còn được ghi trên văn bằng giáo dục đại học như trước đây.

Từ 1/3/2020, hình thức đào tạo là nội dung được ghi trên phụ lục văn bằng chứ không còn được ghi trên văn bằng giáo dục đại học. Ảnh minh hoạ.

Từ ngày 1/3, Thông tư 27/2019 của bộ GD&ĐT quy định nội dung chính ghi trên văn bằng và phụ lục văn bằng giáo dục đại học sẽ có hiệu lực.

Điểm thay đổi đáng chú ý của Thông tư này là quy định không ghi thông tin về hình thức đào tạo như chính quy hay tại chức, vừa làm vừa học như trong nội dung chính của văn bằng như quy định cũ.

Tiếp tục đọc “Bỏ ghi hệ đào tạo “chính quy” hay “tại chức” trên bằng đại học từ 1/3/2020”

Ngành Y – Dược: Điểm thi chót vót vẫn không cách nào sánh nổi thế giới

VNN – 16/08/2015    02:00 GMT+7

Nguyễn Công Nghĩa – Tiến sĩ, Bác sĩ, Đại học Waterloo, Ontario, Canada

 Tấm bằng y dược của Việt Nam không được công nhận trên thế giới, ngoài một số quốc gia châu Phi và bán đảo Ả rập trước đây

Nguyễn Công Nghĩa - Điểm thi chót vót vẫn không cách nào sánh nổi thế giới  | Dân Luận
Ước mơ trở thành bác sĩ hay dược sĩ là một mô hình quen thuộc. Ảnh minh họa

Với sự thay đổi bước ngoặt lịch sử của Bộ Giáo dục & Đào tạo, điểm đầu vào xét tuyển ĐH (nguyện vọng 01) năm nay đang tập trung sự thu hút của toàn xã hội. Không ngoài dự đoán đã thành thông lệ từ nhiều năm, điểm đầu vào ngành y dược sẽ vẫn cao chót vót, và năm nay lại có khả năng sẽ cao hơn nữa. Bên cạnh những thí sinh tuyển thẳng, cử tuyển, hoặc được điểm cộng ưu tiên, nhiều tranh cãi là các thí sinh đạt điểm cao nhưng tâm lý vẫn… rối bời. 

Thí sinh đạt điểm 27 xét tuyển ngành Bác sĩ đa khoa, 25 điểm xét tuyển ngành Dược sĩ đều không có gì bảo đảm sẽ đậu ĐH tại các trường như ĐH Y, ĐH Dược (Hà Nội), hay ĐH Y- Dược TP. HCM. Thực tế nào đã khiến các ngành này thu hút các thí sinh điểm cao đến vậy? Và như vậy thì có gì hay cho họ và xã hội? 

Bác sĩ và dược sĩ luôn được coi là những nghề dễ tìm được việc làm (?), có thể sống bằng nghề mà không quá phụ thuộc vào chế độ XH. Những nghề này lại có tuổi nghề cao, có thể tiếp tục làm việc thêm hàng chục năm sau khi đã nghỉ hưu. Nếu ra trường chưa có việc làm trong cơ quan nhà nước thì việc tìm một chỗ trong các đơn vị tư nhân hay công ty kinh doanh dược là điều không quá khó. Gia đình nội ngoại của tôi có truyền thống học y cũng phần nhiều bởi tư duy của ông ngoại: “Bác sĩ (BS) còn gọi là cái bát sắt, đi đâu cũng có cơm ăn”. 

Ngành nghề này cũng được mặc định có thứ hạng khá cao, dễ có thiện cảm và được tôn trọng nhất định trong xã hội Việt nặng tư tưởng Nho giáo, nhất là với tư duy đại ngôn theo kiểu “cống hiến”, “hành nghề giúp đời”. Chữ “giúp” ở đây còn bao hàm cả nghĩa hẹp như là chỗ dựa trong một phạm vi gia đình hay dòng tộc khi có một người theo ngành Y, nhiều khi chỉ đơn giản là cần có một niềm tin. Ước mơ trở thành bác sĩ hay dược sĩ là một mô hình quen thuộc theo kiểu gia truyền, hay “con nhà nghèo học giỏi”. Những ước mơ thực của đứa trẻ có thể đã không được lộ diện bởi sự định hướng nghề nghiệp cảm tính và sơ khai ở các gia đình Việt Nam khi con em họ còn học phổ thông. 

Không có gì bàn cãi rằng các thí sinh điểm cao đến vậy chắc chắn là học giỏi. Tuy vậy các sinh viên y dược tương lai cần phải cân nhắc rất nhiều. Trước hết, đào tạo y dược ở Việt Nam là không tương đồng với thời lượng đào tạo và chất lượng của thế giới. Bằng cấp BS đa khoa hay dược sĩ tại các nước Bắc Mỹ, châu Âu hay Úc là bằng sau ĐH chuyên nghiệp, cực cấp (không cần bằng cấp gì thêm để hành nghề trong đời) đều đòi hỏi tới 10-11 năm trong đó 04 năm đầu dành cho khoa học cơ sở. Đào tạo BS y khoa trong 06 năm, và dược sĩ trong 05 năm ở Việt Nam thực chất chỉ mang những tiêu chuẩn của cử nhân.  

Do vậy ngành Y ở Việt Nam lại có thêm sau này các bằng chuyên khoa định hướng, chuyên khoa 01, chuyên khoa 02, hoặc thạc sĩ, tiến sĩ, mà không thể so sánh cách nào với thế giới. Chính vì thế, tấm bằng y dược của Việt Nam không được công nhận trên thế giới, ngoài một số quốc gia châu Phi và bán đảo Ả rập trước đây. Nó khiến cho triển vọng cọ xát nghề nghiệp với bên ngoài bị thu hẹp và những người hành nghề y dược Việt Nam phần lớn đóng cửa chơi trên sân nhà của riêng mình. 

Tiếp theo, đào tạo y dược nói chung có hàm lượng sáng tạo thấp, ở Việt Nam thì lại càng gần như không. Các điểm thi Toán, Hóa ở đỉnh cao của đầu vào, cũng chẳng giúp ích gì nhiều lắm khi các môn học trong trường Y và Dược ở Việt Nam gần như tuyệt đối là học thuộc lòng, và yêu cầu sự kiên nhẫn. Các môn học cơ bản, hay cả các môn học thực hành, thậm chí lâm sàng tại bệnh viện đều vậy.  

Lối tư duy sáng tạo tại các trường Y- Dược gần như không có đất sống. Chương trình đào tạo với nhiều môn không liên quan, giáo trình đào tạo cũ kỹ thậm chí từ những năm 80 thế kỷ trước, máy móc thiết bị cho phòng lab thực hành tiền lâm sàng quá thô sơ và thiếu thốn ngay tại các trường hàng đầu. Câu chuyện của những con mọt thư viện, giảng đường, bóng ma ký túc xá nằm đọc sách đến in hằn vết của đầu, mông hay gót chân trên chiếu sau 06 năm học không hề hiếm.  

Nhưng học cũng là một chuyện khác trong khi thực hành sau khi ra trường lại dựa chính trên các kinh nghiệm theo kiểu truyền dạy. Thực hành Tây y, kể cả phẫu thuật cũng không khác nhiều lắm với tư tưởng “Đông y gia truyền” ngàn đời. 

Tính đào thải trong quá trình học ĐH Y- Dược Việt Nam cũng thấp y như mọi ngành học khác, có nghĩa là gần như vào được trường thì khắc ra trường và có bằng cấp, trong khi tỷ lệ đào thải tích lũy khi học bác sĩ tại các quốc gia phát triển lên tới 50%. Kết quả học tương đối như nhau thôi, nhưng sự phân hóa sau khi ra trường lại là rất lớn. Rất nhiều người sẽ không thực hành y dược mà làm trình dược viên cho các hãng thuốc, hãng sữa, thực phẩm chức năng. Rất nhiều người khác lại lựa chọn công việc bàn giấy tại bộ, các sở, hay các trung tâm với công việc chẳng ăn nhập mấy với những gì đã học.  

Với những người thực hành lâm sàng, các chuyên ngành nóng như Sản, Ngoại, Nhi, Mắt luôn đầy ắp người xếp hàng, nhưng các ngành Tâm thần, Truyền nhiễm, Lao, HIV/AIDS, Giải phẫu bệnh thì tìm người mỏi mắt. Bác sĩ, dược sĩ mới ra trường đổ dồn về các bệnh viện tỉnh và trung ương, nơi thu nhập tương đối và điều kiện thăng tiến về nghề nghiệp, trong khi một số nhận thiệt thòi về tuyến xã hay huyện ở các vùng sâu vùng xa. 

Tất cả sự phân hóa nhìn thấy rõ nét chỉ sau 05 năm sau khi ra trường, mà nguyên nhân không hẳn do năng lực. Và còn muôn vàn các biến đổi khác tạo nên bởi quan hệ, tiền tệ và hậu duệ. 

Các sinh viên tương lai của các trường Y- Dược có lẽ cũng cần hỏi mình có hứng thú và ham thích thực sự với ngành này và cân nhắc mình có đủ sự kiên nhẫn hay không. Cần nhận thức cụ thể hơn để sau này khỏi phải nói câu “biết thế thì…”, có khi chỉ bởi cố gắng sống ước mơ của cha mẹ, họ hàng, bởi không tính đến các đam mê, sở trường, hay năng lực sáng tạo của riêng mình hay bởi “mình điểm cao thì nên vào y dược”. Xã hội có thể có thêm một bác sĩ hay dược sĩ, nhưng cũng có thể mất đi một bộ óc sáng tạo cho những ngành khoa học khác. 

Thực tế tại Mỹ và Canada, nơi tôi sống và làm việc nhiều năm, tư duy cố gắng cho con học Y- Dược vẫn tồn tại trong cộng đồng châu Á, nhất là Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam.  Trong khi với người sở tại, nó chẳng có ‎ nghĩa gì so với ước mơ thực của đứa trẻ. 

Nguyễn Công Nghĩa (TS, BS-  ĐH Waterloo, Ontario, Canada)

Thực trạng đào tạo Luật sư ở Việt Nam và Mỹ?

HILAP – Đỗ Chinh

Điều kiện để trở thành luật sư

Đào tạo Luật sư ở Mỹ

Về đầu vào: việc đào tạo luật ở Mỹ là đào tạo sau đại học, sinh viên luật là những người đã tốt nghiệp đại học – có bằng cử nhân một môn khoa học bất kì. Các khoa luật ở Mỹ tuyển sinh viên đầu vào rất khắt khe, thường lựa chọn những sinh viên thật sự xuất sắc. Những người trúng tuyển sẽ theo học 3 năm tại khoa luật để lấy bằng J.D – ( jurist doctor ) – văn bằng luật cơ bản ở Mỹ. Độ tuổi trung bình cho sinh viên khoa luật tốt nghiệp ở Mỹ là 29, độ tuổi cho con người hoàn thiện về nhân cách và giữ vững lập trường lời nói và hành động.

Tiếp tục đọc “Thực trạng đào tạo Luật sư ở Việt Nam và Mỹ?”

Chỉ 30% cử nhân công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp

TP – 15/06/2021 | 06:31

Gần 1/3 sinh viên ngành CNTT ra trường đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng (ảnh chụp trước 22/4). Ảnh: Như Ý
Gần 1/3 sinh viên ngành CNTT ra trường đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng (ảnh chụp trước 22/4). Ảnh: Như Ý

Một báo cáo về thị trường công nghệ thông tin Việt Nam năm 2021 cho thấy, 70% sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp về kỹ năng, chuyên môn.

Theo báo cáo thị trường công nghệ thông tin Việt Nam 2021 của TopDev, một trong những công ty hàng đầu về tuyển dụng ngành công nghệ thông tin (CNTT), trong số hơn 55.000 sinh viên CNTT tốt nghiệp mỗi năm, chỉ có khoảng 16.500 sinh viên (30%) đáp ứng được những kỹ năng và chuyên môn mà doanh nghiệp cần.

Có tới 61,5% số chuyên gia nhân sự tham gia khảo sát nói rằng, khó khăn lớn nhất khi phụ trách tuyển dụng trong lĩnh vực CNTT là tìm kiếm ứng viên có năng lực; tiếp theo là hiểu yêu cầu tuyển dụng các vị trí của ngành… Điều này dẫn đến tình trạng thiếu nguồn nhân lực CNTT dù số lượng đào tạo hằng năm của Việt Nam khá cao.

Tiếp tục đọc “Chỉ 30% cử nhân công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp”

Trớ trêu: Con em Tây Bắc càng học càng nghèo

VOV.VNNỗi lo là tình trạng thất nghiệp dẫn đến việc trả các khoản nợ bố mẹ vay mượn đầu tư cho con trong bao năm học không lối thoát, càng học càng nghèo.

Với các em học sinh vùng cao, việc học chữ không chỉ để có thêm tri thức mà còn mang trong đó bao hoài bão, ước mơ vượt núi, tìm một cuộc sống tốt đẹp, bớt nghèo khó hơn.

Ấy vậy mà gần đây ước mơ của những học trò nghèo nơi rẻo cao Tây Bắc vẫn mãi chỉ là ước mơ, khi những đứa con xuất sắc nhất bản làng cầm tấm bằng đại học, cao đẳng về trong tình trạng thất nghiệp.

Ngược núi quay trở lại bản làng để tiếp tục “bán mặt” cho nương đồi khiến những con chữ và cả tri thức rơi rụng dần theo năm tháng. Nỗi buồn lo là tình trạng thất nghiệp dẫn đến việc trả các khoản nợ bố mẹ vay mượn đầu tư cho con trong bao năm học không lối thoát. Nhiều em gia đình lâm vào cảnh nợ nần chồng chất.

tay bac con em cang hoc cang ngheo hinh 1
Sinh viên tốt nghiệp sư phạm loại giỏi Lê Văn Mạo làm công thuê tại xưởng bóc ván gỗ

Tiếp tục đọc “Trớ trêu: Con em Tây Bắc càng học càng nghèo”

Tận dụng hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học Việt Nam (2 kỳ)

Tận dụng hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học Việt Nam (kỳ 1)
tiasang – 20/04/2020 07:00 – Pierre Darriulat

Mới đây, hai trường Đại học Việt-Đức(VGU) và Việt-Pháp (Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội – USTH) lần lượt kỷ niệm 10 năm thành lập. Đây là một dịp để nhìn lại những gì đã đạt được, và quan trọng hơn, để tự đánh giá xem chúng ta đã tận dụng được tối đa những quan hệ hợp tác ấy hay chưa.


Sinh viên và giảng viên đại học Việt – Đức. Ảnh: ĐH Việt – Đức.

Tiếp tục đọc “Tận dụng hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học Việt Nam (2 kỳ)”

Con em nông dân đang học hành như thế nào? – 5 bài

Sinh viên duy nhất của Khoa nông học (nhân vật bên trái) cũng đã xin chuyển sang khoa Thú y.

***

Con em nông dân đang học hành như thế nào? – [Bài I] Nhận thức méo mó về tự chủ đại học

02/12/2019, 08:52 (GMT+7) LTS: Trên 50% lao động đang làm nông và trên 80% sinh viên khối nông nghiệp có gốc gác từ nông dân.  Nhưng “Con em nông dân đang học hành thế nào?”.

Nông dân – những người phải chắt chiu từng hạt lúa củ khoai hằng mong đổi lấy tri thức một cách xứng đáng nhất cho con em mình. Từ truyền thống đào tạo xưa cùng thực trạng dạy và học nông nghiệp hiện nay với những ý tưởng đổi mới phương pháp đào tạo là chủ đề xuyên suốt loạt bài: “Con em nông dân đang học hành thế nào?”. Tiếp tục đọc “Con em nông dân đang học hành như thế nào? – 5 bài”

Mô hình đại học trong đại học của Việt Nam chẳng giống ai

  Linh Hương

(GDVN) – Việc hai đại học lớn nhất ở nước ta không được xây dựng theo mô hình “university” thật sự là một cản trở lớn để phấn đấu trở thành đại học đẳng cấp thế giới.

LTS: Sự tách rời giữa hệ thống các trường đại học và các viện nghiên cứu lớn, và việc vắng mặt các trường đại học đa lĩnh vực là hai tàn tích của mô hình Liên Xô cũ. Đây chính là hai cản trở lớn làm cho khối các nước kinh tế chuyển đổi có rất ít trường đại học đẳng cấp thế giới.

Nhận thấy rõ điều này, chia sẻ với Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư Lâm Quang Thiệp (Đại học Thăng Long) cho rằng, Việt Nam muốn sớm có các trường đại học đẳng cấp thì cần quyết tâm cao trong việc khắc phục các cản trở nói trên.

Theo giáo sư Lâm Quang Thiệp,  việc hai đại học lớn nhất ở nước ta không được xây dựng theo mô hình “university” thật sự là một cản trở lớn để phấn đấu trở thành đại học đẳng cấp thế giới. (Ảnh: Thùy Linh)

Tiếp tục đọc “Mô hình đại học trong đại học của Việt Nam chẳng giống ai”