Chiến lược thiết yếu khi dạy tiếng Anh

Essential Strategies for Teaching English Language Learners

*Bài viết dựa trên kinh nghiệm của các giáo viên trung học ở Mỹ, dạy tiếng Anh và dạy học bằng tiếng Anh cho các học sinh nhập cư ở Mỹ, và tiếng Anh không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ của các em học sinh.

Chúng tôi đã phỏng vấn nhiều nhà giáo với nhiều năm kinh nghiệm dạy tiếng anh và khai thác được một mạng lưới các chuyên gia và quan sát viên để tìm ra những chiến lược hiệu quả.

Hơn 10% học sinh ở Mỹ -hơn 4.8 triệu trẻ em – là những học sinh học tiếng Anh (English Language Learners: ELLs) là ngôn ngữ thứ 1 và con số đang tăng lên. Dù những học sinh này học không khác hơn những người bạn nói tiếng Anh bản ngữ, nhưng các em vẫn có những nhu cầu giáo dục nhất định.

Để tìm hiểu về những nhu cầu này-và các cách thực hành tốt nhất để đáp ứng – tôi đã phỏng vấn một loạt các giáo viên và quan sát viên, bao gồm Larry Ferlazzo, một giáo viên và là tác giả của cuốn The ESL/ELL Teacher’s Survival Guide; những giáo viên lâu năm dạy Tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai Emily Francis và Tấn Huỳnh; và nhà báo Helen Thorpe, người đã dành một năm quan sát một giáo viên làm việc với những học sinh học Tiếng Anh này

Nhóm đã nhấn mạnh rằng các chiến lược đã được liệt kê ở đây, bao gồm cả tư duy bức tranh lớn và những chiến thuật cụ thể, có thể được đưa vào tất cả các lớp, có lợi cho cả người nói tiếng Anh bản ngữ và người học tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai

1. NUÔI DƯỠNG CÁC MỐI QUAN HỆ VÀ CÓ TRÁCH NHIỆM VỀ MẶT VĂN HÓA

Không có gì ngạc nhiên ở đây cả. Một lớp học thành công, các giáo viên của chúng ta đều nhất trí, là mỗi học sinh cảm thấy được thầy cô biết đến, cảm kích và thoải mái chấp nhận rủi ro về cảm xúc và trí tuệ của mỗi em. Điều này yêu cầu các kế hoạch có chủ ý và thông điệp thích hợp đưa ra bởi giáo viên.

Emily Francis, một giáo viên dạy Tiếng Anh ở Concord, Bắc Carolina, đã làm rõ rằng cô muốn học sinh của mình “ đón lấy văn hóa và ngôn ngữ của các em như một nền tảng của việc các em là ai” và để xem xét việc các em có được một nền văn hóa và ngôn ngữ mới không phải là “loại trừ văn hoá mà là thêm vào”. Để giúp đỡ những học sinh có thể chưa bao giờ đến trường học trước đây hoặc có thể phải đối phó với chấn thương do việc di cư, Francis nhấn mạnh rằng những điều nhỏ bé tạo nên sự khác biệt lớn. “Điều đầu tiên là tôi cần nghĩ là học sinh của mình cảm thấy thế nào trong lớp học?” cô nói. “Các em có đang ngồi gần người mà các em có thể hỏi một câu bằng ngôn ngữ ở nhà của chúng không? Các em có cảm thấy thoải mái khi vỗ nhẹ vào vai của tôi khi chúng phải vào nhà vệ sinh không?”

Nhưng việc tạo ra một môi trường khuyến khích cũng là trau dồi nhận thức về tính đa dạng – điều quan trọng là cả chương trình giảng dạy và môi trường lớp học đều tôn vinh và phản ánh cuộc sống của học sinh. Lấy ví dụ, Francis đã đảm bảo rằng thư viện lớp học của cô ấy là phản chiếu của nguồn gốc và bản sắc đa dạng của học sinh của cô.

Giáo viên dạy tiếng anh Katie Toppel dạy gần Portland, Oregon, đề cao giá trị của những chuyến thăm tận nhà học sinh để làm quen với gia đình của các em và quan tâm để kết hợp các phần cuộc sống của học sinh như tên của thú cưng và những môn thể thao yêu thích vào bài học. Học sinh tham gia nhiều nhất khi chúng cảm thấy có mối liên hệ cá nhân với một bài học, mối liên kết được tạo nên phần nào bởi sự đầu tư của giáo viên trong mối quan hệ hiểu biết thành thục về văn hóa.

2. DẠY CÁC KỸ NĂNG NGÔN NGỮ THÔNG QUA CHƯƠNG TRÌNH HỌC

Học sinh học tiếng Anh không nên chỉ học các nguyên tắc cơ bản của tiếng anh, các kỹ năng cần được ứng dụng vào các kỹ năng phát triển ngôn ngữ của các em để làm phong phú nội dung học tập trong tất cả các môn học.

 

“Đó chính là điểm cốt yếu trong các lớp học phổ thông, các giáo viên chỉ hiểu vai trò của họ như một giáo viên ngôn ngữ”, Valentina Gonzalez nói, lãnh đạo thành phố ở Katy, Texas, cho rằng tất cả giáo viên nên có nhận thức về thành ngữ chuyên ngành họ làm việc trong đó. “Nếu chúng ta dạy toán, thì chúng ta dạy ngôn ngữ của toán học. Nếu chúng ta dạy môn khoa học, thì chúng ta dạy ngôn ngữ của khoa học.” Giáo viên toán, nói cách khác, nên dành thời gian để dạy từ vựng toán học không quen thuộc-cộng, trừ, tính toán, giải bài- đồng thời với việc dạy các kỹ năng toán học.

3. NHẤN MẠNH NGÔN NGỮ HIỆU QUẢ

Các giáo viên mà tôi đã phỏng vấn đồng ý rằng các kỹ năng ngôn ngữ hiệu quả-khó để làm chủ một cách thành thạo như nói và viết- nên được ưu tiên ngay từ ngày đầu kể cả nếu học sinh cảm thấy do dự về việc học nói và viết.

Những người mới bắt đầu học tiếng Anh thường phát triển những kỹ năng tiếp nhận ngôn ngữ như nghe và đọc trước. Các giáo viên không nhận thức được con đường điển hình đến sự thành thạo có thể tin rằng học sinh có thể làm theo chỉ dẫn bằng lời nói hoặc chữ viết thì sẽ có khả năng tạo ra ngôn ngữ nói hoặc viết nhưng thường không phải vậy.

Để hỗ trợ những học sinh còn chưa chịu nói nhiều, Tan Huynh, một giáo viên viết blog tại Empowering ELLs, gợi ý sử dụng các khung câu. “Ví dụ, khi một giáo viên môn khoa học muốn học sinh đưa ra một giả thuyết, họ có thể đưa ra câu nếu thì…”nếu…… được thêm vào, thì…….bởi vì…..”. Khung câu này cung cấp gợi ý cho phép học sinh học tiếng anh nghe và nghĩ như một nhà khoa học.

Andrea Honigsfeld, giáo sư tại trường Cao đẳng Molloy ở Rockville, New York, gợi ý rằng tất cả các bài học chạm đến mọi chữ cái của từ viết tắt SWIRL, tượng trưng cho Speak(nói), Write(viết), Interact(tương tác), Read(đọc), Listen(nghe). Cách tiếp cận có chủ ý cho phép các kỹ năng ngôn ngữ trở nên hiệu quả ngay “từ khi bắt đầu”, cô nói.

4.NÓI CHẬM LẠI VÀ TĂNG THỜI GIAN CHỜ ĐỢI CỦA GIÁO VIÊN

Nói dễ hơn làm. Tuy nhiên, có rất nhiều giáo viên tôi trò chuyện đẫ nói rằng những thay đổi đơn giản này rất quan trọng. Bạn có thể ghi âm lại việc nói của chính bạn trên lớp để đánh giá ngữ điệu và điều chỉnh.

“Việc thêm vào ba đến năm giây sau khi chúng ta đặt câu hỏi cho các em học sinh có thời gian suy nghĩ” Gonzalez giải thích.” Tuy nhiên, đối với học sinh, việc chậm lại cũng cho thời gian để bộ não dịch, xử lý suy nghĩ của, chuyển sang tiếng Anh và lấy can đảm để trả lời. Nếu chúng ta gọi học sinh lên quá nhanh, rất nhiều học sinh của chúng ta sẽ ngừng suy nghĩ về câu trả lời hoặc cố trả lời tất cả.

Điều này có nghĩa là bỏ đi vài thói quen của chính chúng ta, theo Larry Ferlazzo, giáo viên dạy tiếng anh trung học ở Sacramento, California. “Các nhà nghiên cứu đã tìm ra rằng hầu hết các giáo viên đều cho một đến hai giây giữa hỏi câu hỏi và chờ đợi học sinh trả lời” ông nói. “Các nhà nghiên cứu tương tự cũng chỉ ra rằng nếu bạn chờ ba đến năm giây, chất lượng câu trả lời cũng có thiên hướng tốt hơn”.

5. PHÂN BIỆT VÀ SỬ DỤNG PHƯƠNG THỨC ĐA DẠNG

Tất cả trẻ em học tốt hơn khi chúng tiếp cận với tài liệu theo nhiều cách: Các bài học liên quan đến viết, nói, vẽ và nghe, ví dụ, cho học sinh bốn cơ hội để hiểu sâu hơn về công việc. Đối với người học tiếng anh, những sự tham gia bổ sung đó cũng cung cấp một khoảng thở nhỏ để họ có thể làm việc thông qua rào cản ngôn ngữ.

Helen Thorpe, một nhà báo đã dành một năm để quan sát lớp học Eddie Williams, ở Denver để viết một cuốn sách về những người nhập cư có tên The Newcomers, đã rất ngạc nhiên với  phương pháp phân biệt của William. “Eddie sẽ phát âm rất rõ ràng bằng tiếng Anh nhiều lần, anh ấy sẽ viết nó lên bảng, và rồi anh ấy sẽ đi đến chỗ máy chiếu để đưa ra hình ảnh. Cuối cùng, anh ấy đã yêu cầu bọn trẻ tự mình kiểm chứng bằng cách đọc ra các khía cạnh của bài học”, cô nói, theo dấu những nỗ lực của Williams để chuyển biến học sinh của mình từ việc tiếp thu thu động thành thông thạo ngôn ngữ hiệu quả.

Toppel sử dụng chiến lược có tên QSSSA để dàn xếp các cuộc thảo luận trong lớp với các học sinh học tiếng anh. Các chữ cái viết tắt của Question – Câu hỏi (giáo viên đặt câu hỏi, sau đó cho thời gian suy nghĩ thoải mái), Signal – Tín hiệu (một chuyển động được chỉ định như ngón tay cái, một ngón tay trên mũi -một thứ gì đó cho phép học sinh biểu thị rằng học sinh đã sẵn sàng trả lời), hoặc Stem – gợi ý (giáo viên cung cấp một câu bắt đầu cho câu hỏi, ví dụ, nơi yêu thích của bạn để đọc một cuốn sách là ở đâu?”, share – câu có thể là “Nơi yêu thích để đọc sách của tôi là…..”)

6. KẾT HỢP NGÔN NGỮ BẢN XỨ CỦA HỌC SINH VÀ ĐỪNG NGẠI CÔNG NGHỆ

Song ngữ là mục tiêu, tất nhiên, không phải là sự thay thế ngôn ngữ thứ nhất

Ferlazzo sử dụng một chiến lược có tên là” xem trước, xem, ôn tập”, thúc đẩy kỹ năng ngôn ngữ bản địa của học sinh làm nền tảng cho việc học ngôn ngữ mới. Ông giới thiệu một chủ đề và khuyến khích sinh viên xem trước nó trong các tài liệu bằng ngôn ngữ dùng ở nhà của các em (thường sử dụng video đa ngôn ngữ và các tài nguyên trực tuyến khác); Sau đó, ông dạy chủ đề bằng tiếng Anh, và sau đó cho sinh viên xem lại thông tin bằng ngôn ngữ các em dung ở nhà.

Ferlazzo cũng khuyến khích giáo viên nắm rõ các công nghệ mà học sinh thấy hữu ích, như Google. Ông nhấn mạnh rằng ứng dụng này có thể là một cách hữu ích để học sinh dịch từ nhanh chóng, nhưng cảnh báo rằng nó có thể “nhanh chóng trở nên phụ thuộc” nếu nó được sử dụng nhiều hơn một từ điển tiện dụng.

Thorpe đồng ý rằng Dùng Google Dịch có giảm áp lực cho giáo viên, giáo viên đôi khi thấy rằng họ chỉ đứng trước lớp học và nói đi nói lại. Và nếu những đứa trẻ không biết những từ đó là gì, thì chúng chẳng gặp may. Công nghệ dịch thuật có nghĩa là bạn có thể nói một lần (hoặc hai lần) và để học sinh sử dụng công nghệ để dịch các từ và cụm từ chính.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s