Cơn khát Thái có thể hút cạn nước Cửu Long và Đồng bằng sông Cửu Long có thể tan rã

HanoiTV

Kỳ 1: Cơn khát Thái có thể hút cạn nước Cửu Long

(HanoiTV) – Thái Lan đang cân nhắc thực hiện hàng trăm dự án chuyển nước từ sông Mêkông để giải quyết nỗi lo hạn hán. Nếu dự án này thành hiện thực, nguy cơ thiếu nước của đồng bằng sông Cửu Long có thể tăng nhanh, trong những năm tới.

Kỳ 2: Đồng bằng sông Cửu Long có thể tan rã

Kỳ 3: Những gia đình quyết tử bên sông Mekong

Mô hình cửa kiểm soát chuyển nước từ sông Mekong vào Thái Lan. Nguồn: PGS- TS Lê Anh Tuấn

Kong – Loei – Chi – Mun và 990 dự án tưới nước

Cách đây gần một thập kỷ, năm 2008, Cục Tưới Hoàng gia Thái Lan (RID) đã xây dựng nhiều dự án chuyển nước từ sông Mekong vào các dòng sông nhánh để giữ nước cho mùa khô, theo Mekong Eye, trang web cung cấp thông tin về các hoạt động liên quan đến Mekong – dòng sông huyết mạch của nhiều nước Đông Nam Á và Trung Quốc.

Sau chuyến đi khảo sát gần hai tuần tại Campuchia và một số tỉnh đông bắc Thái Lan (5-14/5/2016), chuyên gia quản lý lưu vực sông Nguyễn Nhân Quảng cho biết Thái Lan có 6.388 công trình, chiếm số lượng công trình tưới tiêu nhiều nhất trong bốn nước hạ lưu sông Mekong (Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam). Tổng diện tích nông nghiệp có tưới chỉ đứng sau Việt Nam. Các công trình tưới này chủ yếu nằm dọc hành lang các sông và cánh đồng ngập lũ vùng đông bắc, quanh các hồ chứa dung tích lớn và các đập dâng nhỏ.

Trên sông Mekong, năm 2016, mùa mưa chiếm 80% lượng nước và mùa khô chỉ còn 20%. Do đó, lượng nước trữ thấp ở mức lịch sử khi chỉ trữ từ 10-50% mức trung bình. Năm 2015 và 2016 là năm nóng nhất từ trước đến nay, theo Tiến sĩ John Ward và Tiến sĩ Alex Smajgl, Viện Tương lai Khu vực Mekong.

Theo nghiên cứu của Trung tâm Con người và Thiện nhiên, nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới đã khởi động việc bơm nước tại các tỉnh Nong Khai và Loei, từ đầu năm nay. Tuy nhiên, đây mới chỉ là các trạm bơm nhỏ trong các kế hoạch chuyển nước quy mô lớn hơn rất nhiều dự kiến được triển khai trong thời gian tới.

Dự kiến Thái Lan sẽ có thêm 990 dự án tưới ở vùng đông bắc, chủ yếu chuyển nước từ Mekong, theo ông Nguyễn Nhân Quảng. Nổi bật nhất là dự án Kong – Loei – Chi – Mun trị giá 75 tỉ USD.

Kong – Loei – Chi – Mun được ghép từ tên của bốn dòng sông: (Me)Kong, Loei, Chi và Mun đi qua vùng đông bắc Thái Lan. Trong đó, Mun là một nhánh của sông Chi. Chi và Loei là sông nhánh của Mêkông.

Hiện nay, khu vực có diện tích khoảng 169.000km2 chủ yếu trồng lúa và việc tưới nước nhờ trời. Hệ thống tưới tiêu chỉ chiếm dưới 11%, còn lại phụ thuộc vào mưa và nước mặt tự nhiên. Thu nhập bình quân thấp hơn cả nước. Vì vậy, nhiều chính trị gia coi việc phát triển vùng đông bắc như điểm mạnh trong chương trình tranh cử của mình.

Trong các Kế hoạch Phát triển kinh tế – xã hội quốc gia Thái Lan lần thứ X (2005-2010) và XI (2011-2016), tầm nhìn đến năm 2027, vùng đông bắc được quy hoạch phát triển sản xuất và chế biến lương thực, thực phẩm, nhiên liệu sinh học và phát triển du lịch. Do đó, Thái Lan dự kiến xây mới và cải tạo hệ thống tưới tiêu, dẫn nước, chuyển nước trên quy mô lớn. Dự án Kong – Loei – Chi – Mun được coi là điểm nhấn quan trọng thực hiện mục tiêu trên.

“Dự án nhằm chuyển nước phục vụ nhu cầu trong nước thông qua việc nạo vét sông Loei sâu thêm 5m và mở rộng cửa sông Loei thêm 250m chiều rộng”, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu – Đại học Cần Thơ cho biết. Sông Loei cách ngã ba sông Mekong khoảng 2,3km.

“Dự kiến, khoảng 24 kênh dẫn nước sẽ được xây dựng ở đáy sông Loei. Như vậy, có thêm nước từ sông Mekong chảy vào sông Loei, sau đó đến sông Chi và sông Mun. Mục đích của dự án nhằm tưới nước cho 113 quận huyện của 17 tỉnh đông bắc vào mùa khô.”

Nếu chương trình tưới tiêu khổng lồ này thành hiện thực, diện tích tưới tiêu ở vùng đông bắc sẽ tăng mạnh. Tiến sĩ Lê Anh Tuấn dự báo nước có thể đủ tưới 1,8 triệu ha vào mùa mưa và 900.000 ha vào mùa khô.

Sông Loei nằm cách ngã ba sông Mekong khoảng 2,3km. 

Theo tài liệu nghiên cứu khả thi của RID, dự án được chia làm 9 giai đoạn, trong đó giai đoạn 1 nghiên cứu đánh giá tác động từ tháng 10/2015 tới tháng 12/2016. Kết quả nghiên cứu này sẽ là cơ sở để chính phủ Thái quyết định triển khai hay không.

Gần 1 triệu ha đất nông nghiệp có thể “chết khát” 

Việt Nam nằm ở cuối nguồn và chỉ có 11% tổng lượng nước toàn lưu vực, do đó, lượng nước thấp hơn nhiều so với các quốc gia khác (trừ Myanmar). Vào mùa khô, lượng nước trên Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) còn giảm hơn nhiều.

“Chuyển nước nghĩa là mất đi, dùng nước cho tưới tiêu nghĩa là có tiêu hao”, ông Nguyễn Hồng Toàn, Chuyên gia Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam cho biết tại toạ đàm “Rủi ro tiềm ẩn từ các dự án chuyển nước sông Mê Kông tới ĐBSCL”, do PanNature tổ chức vào tháng 7. Tuy nhiên, ông Toàn tiết lộ Thái Lan chắc chắn phải phát triển hệ thống tưới vì vùng nông nghiệp Đông Bắc 16 triệu ha và vùng Cha Phraya rộng lớn 170.000km2 đều chưa có mạng lưới tưới tiêu.

ĐBSCL cung cấp trên 53% sản lượng lương thực thực phẩm của quốc gia, 80% sản lượng cá và 75% hoa quả phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, theo PGS – TS Lê Anh Tuấn. 

Do đó, các dự án chuyển nước từ sông Mekong tác động trực tiếp đến nguồn nước của Việt Nam. Hiện nay, tốc độ dòng chảy trên sông Mekong vào mùa khô là 2.500m3/s. Dự kiến, dự án Kong – Loei – Chi – Mun sẽ chuyển nước với tốc độ 1.200m3/s, dự án tưới phía bắc Vientiane của Lào là 240m3/s và dự án tưới VAICO của Campuchia là 500m3/s. “Như vậy, Việt Nam còn bao nhiêu m3/s?” PGS – TS Lê Anh Tuấn đặt câu hỏi.

Đến nay, các chuyên gia vẫn chưa tìm ra câu trả lời cuối cùng.

Theo kịch bản thiệt hại năng nhất nếu phương án kết hợp thủy điện và chuyển nước (cả trong và ngoài lưu vực) của Uỷ ban sông Mekong Vietnam, Việt Nam có thể mất 120-140m3/s. Nước về Châu Đốc sẽ giảm từ 100 – 300m3/s. “Như vậy rủi ro rất lớn”, ông Toàn cảnh báo. “Chuyển nước sông Mê Kông chắc chắn sẽ xảy ra do Thái Lan, Lào và Campuchia đang phát triển mạnh nông nghiệp”.

Khi dự án Kong – Loei – Chi – Mun triển khai, sông Loei dự kiến được đào sâu thêm 5m và mở rộng cửa sông thêm 250m chiều rộng.

Chia sẻ nhận định của chuyên gia Nguyễn Hồng Toàn, bà Đặng Thị Hà Giang, chuyên gia Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường cho biết: “Xung đột sử dụng tài nguyên nước là khó tránh. Nếu không giải quyết tốt sẽ khó tránh khỏi thiệt hại lớn cho hạ lưu. Rủi ro với ĐBSCL tiềm ẩn lớn, vì nằm trọn trong hạ du”.

Hiện nay, gần một triệu ha đất nông nghiệp của nước ta (chiếm 48% tổng diện tích) sử dụng nước tưới từ hạ lưu sông Mekong. Mặc dù, nước ta có tính đến phương án đối phó nhưng khả năng khó có thể tìm thấy giải pháp hiệu quả. “Việc mở rộng diện tích tưới ở đồng bằng sông Cửu Long hạn chế do quỹ đất và các yếu tố khác (xâm nhập mặn, đất phèn, ….)”, chuyên gia Nguyễn Nhân Quảng cho biết.

Mặc dù, nông nghiệp Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các dự án tưới tiêu của Thái Lan nhưng nước ta khó có thể tác động đến việc thay đổi các dự án. “Việc giám sát Thái Lan “nói một đằng làm một nẻo” là rất khó”, ông Đào Trọng Tứ, nguyên Phó Tổng thư ký Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam,
cho biết.

Thuý Bình

Ngoài 990 dự án chuyển nước của Thái Lan, Campuchia còn có dự án Vaico chuyển nước lũ sông Mê Kông chảy tràn qua bờ tả và qua sông Samdei (một nhánh của sông Mê Kông) vào trữ tại hồ Krapik (dung tích trữ khoảng từ 800 – 100 triệu m3), sau đó dẫn nước (tưới tự chảy) cho các vùng trồng lúa ở phía hạ lưu thuộc các tỉnh Kampong Cham, Prey Veng và Svey Rieng với tổng diện tích tưới 108.300 ha trong mùa mưa và 27.100 ha trong mùa khô.

Kỳ 2: Nguy cơ biến mất vựa lúa VN

(HanoiTV) – Việc xuất hiện nhiều dự án chuyển nước cũng như xây đập thuỷ điện trên sông Mekong đã làm giảm lượng phù sa và có thể khởi động quá trình tan rã của đồng bằng sông Cửu Long – vựa lúa VN.

Kỳ 1: Cơn khát Thái có thể hút cạn nước Cửu Long

Kỳ 3: Những gia đình quyết tử bên sông Mekong

HanoiTV đã có buổi trao đổi với PGS-TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Biến đổi khí hậu, Đại học Cần Thơ để hiểu thêm về vấn đề này.

Thưa PGS – TS Lê Anh Tuấn, ông là người có trên 40 năm nghiên cứu sông Mekong. Mới đây, ông đã có chuyến đi thực địa khu vực có thể triển khai dự án Kong-Loei-Chi-Mun. Ông cảm nhận như thế nào khi thăm dòng sông Loei?

Lúc đầu, tôi nghĩ dự án này mang lại lợi ích cho nhân dân Thái Lan. Tuy nhiên, khi thăm cộng đồng ở đây, tôi thấy họ có những ý kiến ngược lại suy nghĩ ban đầu của mình.

Chính phủ Thái Lan từng thực hiện bơm nước tương đương lượng nước của 18.000 bể bơi, nhưng người dân không hài lòng vì họ thiếu thông tin và gần như không sử dụng được nước trong quá trình chuyển nước năm 2016.

Chính phủ Thái Lan cũng hứa bồi thường một phần thiệt hại cho người dân do canh tác trong mùa khô theo yêu cầu của nhà nước. Nhưng đến giờ này, người dân chưa nhận đền bù.

Người dân còn lo ngại lấy nước vào mùa khô có thể đưa một số chất gây ô nhiễm nước vì nước mùa khô ít khả năng pha loãng các hợp chất (như xuayanua) do khai khoáng vàng ở thượng nguồn. Các chất độc này có thể gây ô nhiễm cho dòng sông, đưa hoá chất độc hại vào đồng ruộng.

 PGS-TS Lê Anh Tuấn đi thực địa trên dòng sông Loei vào cuối tháng 7

Ngoài ra, chính phủ nói là dự án tưới, tuy nhiên, qua quan sát của nông dân, các dự án này có vẻ phục vụ cho công nghiệp hơn nông nghiệp. Vì họ ít canh tác vào mùa khô.

Nông dân cũng lo ngại việc sụt giảm nguồn lợi thuỷ sản mà họ có thể đánh bắt trên dòng sông vì lượng cá giảm do các đường hầm đưa nước qua. Những lo ngại trên trên chưa được đánh giá đầy đủ. Người dân không được tham vấn. Vì vậy, một số cộng đồng ven sông đã phản đối.

Người dân Thái Lan không ủng hộ dự án vì nhiều lo ngại. Vậy còn với người dân Việt Nam, dự án chuyển nước của Thái Lan có thể ảnh hưởng đến họ như thế nào?

Hiện nay, nhiều nước thượng nguồn đang mở rộng việc lấy nước phục vụ canh tác nông nghiệp cũng như hoạt động công nghiệp. Cụ thể, Thái Lan có dự án Kong-Loei-Chi-Mun nhằm tưới nước cho vùng đông bắc, dự kiến 1,8 triệu ha trong mùa mưa và 900.000 ha cho mùa khô.

Lào cũng có một số dự án lấy nước từ sông Mekong cung cấp cho phía bắc Vientiane. Campuchia cũng có dự án tưới nước cho hai bên cánh đồng dọc sông Mekong và Tonle Sap (Biển Hồ).

Vào mùa khô, lưu lượng nước của Mekong là 2.500m3/s, nếu Thái Lan lấy 1.200m3/s, Lào lấy 240m3/s và Campuchia lấy 500m3/s thì lưu lượng nước về ĐBSCL rất ít, sẽ dưới 500m3/s. Như vậy, không đủ nước cho chúng ta sinh hoạt, ngăn mặn và tưới cho các vùng canh tác nông nghiệp. Đó là nguy cơ rất lớn cho việc sử dụng nước ở đây, trong tương lai.

Mực nước ở sông Tiền và sông Hậu của Việt Nam vẫn ở mức thấp từ 24/3 đến 29/7/2016. Nguồn: UNDP Việt Nam

Ông có đề cập đến việc thiếu nước. Việc thiếu nước sẽ dẫn đến thiếu phù sa. Điều này tác động gì đến đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)?

ĐBSCL là một vùng đất trẻ, được hình thành cách đây khoảng 6.000 năm địa chất. Quá trình hình thành rất là dài do sự bồi tụ phù sa của sông Mekong từ thượng nguồn đưa về. Việc bồi tụ diễn ra liên tục trong hàng trăm năm, giúp đồng bằng cao dần.

Điểm bồi tụ nhiều nhất ở mũi Cà Mau, giúp mũi lấn ra biển từ 60-80m. Tuy nhiên, sự bồi tụ này có nguy cơ chững lại và giảm đi. Cụ thể là hiện tượng mũi Cà Mau lấn ra biển không còn và nhiều nơi trên bán đảo Cà Mau còn bị sạt lở nghiêm trọng. Nhiều nơi trên sông Tiền và sông Hậu cũng bị sạt lở.

Nhiều nhà khoa học nhận định hàm lượng phù sa của ĐBSCL nhận từ sông Mekong có xu hướng giảm dần. Các mỏm cát ở khu vực thượng nguồn sông Cửu Long như Tân Châu, Châu Đốc đang có nguy cơ ít dần và có khả năng bị mất.

 
Bản đồ khu vực chịu hạn nghiêm trọng ở Đồng bằng sông Cửu Long. Nguồn: Văn phòng Điều phối các vấn đề nhân đạo của Liên Hợp Quốc.

Các nhà khoa học nhận định có hai nguyên nhân. Thứ nhất, do lượng phù sa từ thượng nguồn giảm trước sự hình thành của các hồ chứa của đập thuỷ điện. Sự bồi tụ của phù sa ở đáy hồ chứa làm phù sa về ĐBSCL ít đi, nhất là do các hồ chứa của công trình thuỷ điện phía Trung Quốc. Thứ hai, do hoạt động của con người khai thác bùn cát dưới đáy sông tăng lên nên lượng phù sa bồi lắng ít đi.

Nếu lượng phù sa giảm thì quá trình kiến tạo đồng bằng dừng lại và chuyển qua một giai đoạn cực đoan hơn – hiện tượng tan rã đồng bằng. Quá trình kiến tạo đồng bằng có thể kéo dài hàng ngàn năm nhưng quá trình tan rã có thể diễn ra nhanh hơn, trong vài trăm năm. Quá trình tan rã nhanh hay chậm hoàn toàn do yếu tố con người. Yếu tố tự nhiên đóng vai trò thứ yếu.

Phù sa của ĐBSCL là phù sa trẻ nên sẽ sụt lún dần khi không có phù sa bổ sung. Đây là nguy cơ rất lớn cho ĐBSCL của Việt Nam (VN). Trong bối cảnh nước biển dâng và khai thác nước ngầm ngày càng nhiều, quá trình sạt lở và sụt lún sẽ diễn ra nhanh chóng.

Chính phủ Thái Lan hạn chế chia sẻ thông tin với báo chí quốc tế về dự án Kong – Loei – Chi – Mun. Vào cuối tháng 4, ba phóng viên VN cố gắng phỏng vấn đại diện Cục Tưới Hoàng gia trong một cuộc gặp báo chí Thái ở đền Ponechai, tỉnh Chiang Khan. Vị quan chức này rất ngạc nhiên khi biết có nhà báo VN tham gia. Bà từ chối tiếp với lý do bài trình bày của mình chỉ dành cho báo chí trong nước và sẽ không cung cấp cho báo nước ngoài, tại thời điểm đó. (Theo lời kể của một nhà báo Thái có mặt tại buổi gặp)

Trước nguy cơ như vậy, chính phủ Việt Nam và các nhà khoa học có giải pháp hạn chế tác động nào không, thưa ông?

Hiện nay, thông tin về các dự án chuyển nước và mở rộng diện tích canh tác ở Thái Lan, Lào và Campuchia chưa được đầy đủ. Các nhà khoa học có nghe về dự án này nhưng các số liệu cũng như tiến trình của dự án vẫn chưa được thu thập đầy đủ.

Theo tôi biết, chính phủ VN gần như chưa có giải pháp nào đối phó với nguy cơ giảm lượng nước vào mùa khô ở ĐBSCL.

Tôi nghĩ chúng ta có thể dùng các phương tiện thông tin đại chúng đưa thông tin này cho mọi người biết. Đồng thời, chính phủ VN nên chủ động gặp gỡ các nhà khoa học, những nhà quản lý và người sử dụng nước ở các lĩnh vực khác nhau để phân tích hiện trạng và nguy cơ trong tương lai để tìm ra giải pháp ứng phó hữu hiệu.

Ngoài ra, thông qua Uỷ ban sông Mekong, chính phủ cũng nên ngoại giao nguồn nước để đàm phán cách thức phân chia tài nguyên nước bao gồm chia sẻ các quyền lợi quốc gia ở thượng nguồn và hạ nguồn, cũng như thông tin rủi ro mà các nước đối mặt.

 Nhiều ngư dân lo ngại sản lượng thuỷ hải sản trên sông Loei sẽ suy giảm

Chúng ta nói nhiều về yếu tố tiêu cực của dự án. Vậy liệu có ai hưởng lợi từ dự án không, thưa ông?

Các dự án chuyển nước phục vụ cho hoạt động cung cấp nước cho sinh hoạt, nông nghiệp hay công nghiệp. Những nhà đầu tư sẽ có lợi trong những dự án này. Khi làm dự án, họ đã tính mức chi phí bỏ ra và lợi ích đem lại.

Chúng ta nên yêu cầu các chủ dự án công khai và minh bạch thông tin dự án để các nhà khoa học, các nhà hoạt động xã hội hay môi trường phản biện lại dự án. Chúng ta cần xem xét bài toán kinh tế và các lợi ích khác như liệu các thiệt hại có được bồi thường xứng đáng hay không, mất mát tài nguyên môi trường được định giá như thế nào.

Hiện nay, liệu có cơ chế nào buộc các nhà đầu tư phải công khai thông tin và nếu không công khai, điều gì sẽ xảy ra?

Khó có thể yêu cầu các chủ dự án phải công khai thông tin chi tiết của dự án. Theo Hiệp định Mekong 1995, tất cả các dự án trên dòng chính phải thông báo và tham vấn trước. Tuy nhiên, trên dòng nhánh của Mekong, các chủ dự án chỉ làm thủ tục duy nhất là thông báo thông qua Uỷ ban sông Mekong. Thông báo đó không yêu cầu đi kèm các chi tiết (quy mô, thời gian thực hiện, …) của dự án.

Nhiệm vụ của Uỷ ban sông Mekong quốc gia có trách nhiệm tìm hiểu dự án thông qua trao đổi để có thông tin và sau đó, thông báo lại cho các nhà khoa học nước đó. Đối với dự án chuyển nước của Thái Lan, chính phủ nước này không bắt buộc phải cung cấp thông tin cho các nhà khoa học VN hay các cộng đồng bị ảnh hưởng. Trách nhiệm là của Uỷ ban sông Mekong VN.

Bản đồ phân bố độ mặn từ 2-8/4/2016. Nguồn: Trung tâm Dự báo Khí tượng Thuỷ văn TW, Bộ Tài nguyên và Môi trường

Hiệp định Mekong đã được 21 năm và có lỗ hổng về mặt áp dụng. Có thể năm 1995, những người xây dựng Hiệp định chưa thấy hết tính phức tạp của sử dụng nguồn nước sông Mekong. Giờ là lúc các nước ký kết Hiệp định phải họp lại và đánh giá xem có những thoả thuận nào cần điều chỉnh, những lỗ hổng nào cần bù đắp. Sau đó, có thể ký Hiệp định khác với những ràng buộc chặt chẽ hơn. Chẳng hạn, một dự án mà một, hai quốc gia chưa đồng ý thì có thể ngưng lại. Hiệp định năm 1995 không có quyền phủ quyết trong khi Hiệp định năm 1957 cho phép một quốc gia trên sông Mekong không đồng ý thì không được thực hiện.

Tuy nhiên, việc yêu cầu các quốc gia rà soát và ký một hiệp định mới là việc không dễ dàng. Chúng ta nên đưa ra vấn đề này để thảo luận rộng rãi để chính phủ có thể xem xét.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Thuý Bình

Kỳ 3: Những gia đình quyết tử bên sông Mekong

(HanoiTV) – Hơn 300 gia đình người Thái đã sẵn sàng phản đối dự án chuyển nước Kong – Loei – Chi – Mun đến chết.

Kỳ 2: Đồng bằng sông Cửu Long có thể tan rã

“Án tử” ám ảnh mỗi ngày

Bản Klang (Ban Klang) là một làng nhỏ chuyên đánh cá, trồng cao su và lúa thuộc huyện Chiang Khan, tỉnh Loei. Nơi đây nằm cách sông Mekong, biên giới tự nhiên mênh mang giữa Lào và Thái Lan, chưa đầy 30 phút đi ô tô.

Nếu dự án chuyển nước tỉ đô của Thái triển khai, quê hương nhiều đời của 300 hộ dân sẽ bị xoá sổ hoàn toàn thành hồ chứa nước. Bởi vì, nơi đây nằm ở vùng trũng nhất của huyện.

Ông Viroj Jiwarangsa, Tỉnh trưởng tỉnh Loei cho hay người dân trong tỉnh không được hưởng lợi từ dự án chuyển nước vì nước được chuyển xuống các tỉnh khác. Vì người dân không tin tưởng vào dự án nên ông muốn trì hoãn việc thực hiện để có thêm thông tin và thuyết phục người dân. Ông Viroj Jiwarangsa hết nhiệm kỳ công tác vào cuối năm nay.

Các biển hiệu phản đối dự án Kong – Loei – Chi – Mun được gắn trên nhiều nhà gần đường bêtông ở Ban Klang

Nỗi lo mất nhà, mất quê hương khiến những người dân đã treo nhiều tấm biển phản đối dự án bên ngoài những cánh cửa hay các bức tường xi măng, hay gỗ dán của gia đình mình.

“Nếu ông/bà không xây cửa giữ nước, chúng tôi không chết”, “Không có đập”, “Chúng tôi không muốn cửa giữ nước”.

Giải thích lý do ẩn sau các tấm biển, ông Tanusil Inda, Trưởng bản Klang, cho biết người dân và ông không biết vì sao lại phải chuyển nước vì nhiều đời này, họ chưa hề dùng nước từ sông Mekong. Nguồn nước tưới đều từ mưa và các giếng nước. Trong khi đó, dự án mang đến quá nhiều rủi ro.

Từ khi có thông tin về dự án, không ai đến hỏi mua đất của làng. Trong khi đó, nhiều người ở vùng lân cận đề nghị bán đất cho họ với giá gấp đôi trước khi có dự án. 

Sự lo lắng của người dân hoàn toàn có cơ sở vì họ từng phải gánh chịu hậu quả nặng nề khi lũ về khiến nhiều nhà mái bằng ngập đến mức chỉ còn có mái nhà nổi trên mặt nước. Vì vậy, nhiều người trong làng cho rằng làng của họ sẽ biến mất khi nước dâng cao ở cửa giữ nước trên sông Loei.

“Chúng tôi có ba mối lo ngại: nhà cửa bị ngập, lượng cá đánh bắt và hoa màu giảm sút, và không biết nơi tái định cư ở đâu”, người đại diện tiếng nói của người dân Ban Klang cho biết khi giới thiệu những nơi có nguy cơ biến mất trên bản đồ tự vẽ. “Người dân quê tôi cũng là người. Họ hỏi tôi: Liệu cửa nước có làm ngập làng?”

Trưởng làng Ban Klang Tanusil Inda giới thiệu sơ đồ làng.

Người đàn ông trẻ mới ngoài 30 tuổi Tanusil Inda đã lặn lội đi xa, cố gắng gặp các lãnh đạo địa phương để tìm câu trả lời. Tuy nhiên, chưa có ai giúp ông có thông tin cụ thể.

Trong một chuyến tham vấn duy nhất với đại diện Cục Tưới Hoàng gia (RID) đến làng, trưởng làng Ban Klang đã hỏi nhưng chỉ nhận được câu hỏi chung chung. “Họ nói mọi câu hỏi đều có câu trả lời”, ông Tanusil Inda nhớ lại: “Câu trả lời thực sự mơ hồ và buồn cười”.

PGS Kanokwan Manorom, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Xã hội Tiểu vùng sông Mekong (GMSSRC), Khoa Nghệ thuật Khai phóng, ĐH Ubon Ratchathani nghi ngờ hiệu quả của dự án Kong -Loei – Chi – Mun và cho rằng nông nghiệp Thái không cần nhiều nước như vậy:“Chính phủ Thái cho rằng dân số ở khu vực nông thôn không bao giờ thay đổi. Họ không nghiên cứu thực trạng xã hội nông thôn. Thực tế, người dân ở vùng đông bắc di cư đến Bangkok và các khu công nghiệp nhiều hơn các khu vực khác. Vì vậy, số người làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp không nhiều bằng trong quá khứ. Tôi ước tính khoảng 50% dân số vùng đông bắc không làm nông nghiệp. Tôi không nghĩ dự án này sẽ thành công trong tương lai vì quá trình chuyển dịch nông thôn đang diễn ra.

Hiện nay, các tổ chức xã hội dân sự và nhà khoa học Thái đang đợi báo cáo đánh giá môi trường chiến lược (SEA) về dự án để có các hoạt động tham vấn. “Chúng tôi kỳ vọng SEA sẽ được công bố vào cuối năm nay theo kế hoạch“. PGS Kanokwan Manorom cho biết trong buổi phỏng vấn qua Skype với nhóm nhà báo quốc tế thuộc Mạng lưới Báo chí Các vấn đề sông Mekong. “SEA bao gồm thông tin về các hoạt động kỹ thuật và tác động kinh tế xã hội“.

Thông tin thiếu thuyết phục của đại diện RID đã khiến toàn bộ làng thống nhất sẽ không chuyển đi đâu cho dù dự án có triển khai. Người dân trong làng đã di cư đến đây khoảng 200 năm trước.

Họ quyết tâm chiến đấu đến cùng để bảo vệ đất đai cho thế hệ sau. Và cũng tính đến phương án xấu nhất.

“Chúng tôi không có kế hoạch di cư. Chúng tôi sẽ chiến đấu đến chết cùng con cháu“, bà Noo Avr Boon Hean, 54 tuổi và bà Junpeng Junpinich, 77 tuổi cho biết khi chúng tôi hỏi về thế hệ trẻ của làng: “Chúng tôi là một gia đình, khi chúng tôi chết, ai sẽ chăm sóc bọn trẻ. Tốt nhất, chúng tôi đi cùng nhau”.

Chia sẻ của hai người phụ nữ cao niên nhận được những ánh mắt và gật đầu của nhiều người dân ngồi đối diện với cây me có từ thời tổ tiên họ di cư từ Lào sang Thái Lan. Từ khi biết thông tin dự án năm ngoái, họ không thể ngủ ngon vì những lo lắng không có lời giải.

Chuyển nước đe doạ thay đổi biên giới Lào – Thái Lan

Trong khi bập bềnh xuôi theo dòng sông Mekong để đến sông Loei, những ngư dân chỉ cho nhóm nhà báo quốc tế đến từ Campuchia, Việt Nam, Myanmar, Canada và Mỹ những khu vực từng là nơi trồng hoa màu của huyện. Do sạt lở kéo dài nhiều năm, người dân không thể trồng hoa màu. Vào mùa khô, khu vực từng cạn kiệt đến mức có thể đi bộ qua sông và dân làng có thể tắm ven sông cũng không còn.

Dòng sông Mekong là biên giới tự nhiện giữa Thái Lan và Lào

Sông Mekong ngăn cách Lào và Thái Lan. Sạt lở làm cho xuất hiện ngày càng nhiều cồn đất và thực tế này đồng nghĩa với sự thu hẹp của biên giới Thái Lan. “Theo thoả thuận giữa hai nước, khu vực nào có đất thuộc về Lào”, ông Channarong Wongla, đại diện ngư dân ở huyện Chiang Khan, tỉnh Loei cho biết: “Biên giới Thái Lan chỉ tính đến vùng nước”. Năm ngoái, ông Channarong từng lập một danh sách người dân cần tham vấn theo yêu cầu của RID. Tuy nhiên, khi biết chỉ duy nhất mình được mời tham vấn, ông đã từ chối họp.

Bên cạnh đó, các ngư dân quanh năm sống dựa vào sông Mekong cũng nhận thấy nguy cơ lượng cá đang giảm sẽ giảm sâu hơn.

“10 năm trước , chúng tôi có thể bắt 40-50 con cá/ ngày. Đến nay chỉ còn 6-10 con/ngày”, ông Wachira Nantaporn, một ngư dân 49 tuổi cho biết.

“Các cồn đất thay đổi làm cá thiếu bãi sinh đẻ”, bà Saman Rueakham, nữ ngư dân duy nhất của tỉnh Chiang Khan cho biết: “Ngoài ra, tôi e là cửa giữ nước sẽ ngăn cá di cư từ thượng nguồn về đây”.

Bà Saman Rueakham, nữ ngư dân duy nhất của tỉnh Chiang Khan

Do lượng cá ít dần nên số lượng ngư dân cũng giảm nhanh trong vòng 20 năm qua. Trước khi có các đập của Trung Quốc, huyện Chiang Khan có 300-400 ngư dân. Nay con số đó giảm khoảng 90%.

Các ngư dân cho rằng giữ nước cũng sẽ biến đổi môi trường ở sông Loei, biến nước động trên sông Mekong thành nước tĩnh khi đến sông Loei. Từ đó, theo kinh nghiệm đánh bắt cá nhiều đời, nhiều người cho rằng dự án chuyển nước đe doạ đa dạng sinh học dưới và trên mặt nước. “Môi trường nước tĩnh sẽ khiến động thực vật ở đây thay đổi. Một số loài cá không thể sống trong nước tĩnh”, người cha có ba người con không theo nghề đánh cá cho biết. “Chúng tôi không biết điều gì sẽ xảy ra”.

Cũng giống như 300 hộ dân ở Ban Klang, gần 40 ngư dân còn lại của huyện Chiang Khan cũng không biết thông tin chi tiết của dự án và cũng không được chính quyền tham vấn. Họ chỉ biết thông tin mơ hồ qua tin đồn.

Thuý Bình

Sau chuyến thực tế tại Ban Klang trong Hội thảo Quản trị nguồn nước ở sông Mekong do Mạng lưới Báo chí Các Vấn đề Mekong tổ chức, Luật sư Sor Rattanamanee Polkla, Người sáng lập và giám đốc Trung tâm tài nguyên Cộng đồng cam kết hỗ trợ người dân Ban Klang yêu cầu chính phủ Thái Lan cung cấp thông tin đầy đủ cho người dân và dừng triển khai cho đến khi đánh giá cụ thể tác động môi trường và xã hội do dự án Kong – Loei – Chi – Mun có thể gây ra. “Sông Mekong được ví như rắn thần trong văn hoá Thái Lan. Việc triển khai dự án không khác nào làm suy yếu rắn thần.”, người phụ nữ mạnh mẽ dành trọn đời đòi công lý cho người yếu thế cho biết.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s