Tiếng Việt thời LM de Rhodes – các dạng so sánh: bằng, hơn, hơn nữa và cực/rất … (phần 22A) 

Linh mục Alexandre de Rhodes và cuốn Phép Giảng Tám Ngày

Nguyễn Cung Thông[1]

Phần này bàn về các dạng so sánh: bằng, hơn, hơn nữa và cực/rất, thậm, lắm … vào thời LM de Rhodes trong tự điển Việt Bồ La và các tài liệu liên hệ.

Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f= false .

 

Các chữ viết tắt khác là NCT (Nguyễn Cung Thông), TVK (Trương Vĩnh Ký), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), ĐNQATV (Đại Nam Quốc Âm Tự Vị), P (tiếng Pháp), A (tiếng Anh), L (tiếng La Tinh), PG (Phật Giáo), CG (Công Giáo), VN (Việt Nam), TQ (Trung Quốc), HV (Hán Việt), Bắc Kinh (BK). Trang/cột/tờ của VBL được trích lại từ bản La Tinh để người đọc tiện tra cứu thêm. Tương quan Hán Việt ghi nhận trong bài không nhất thiết khẳng định nguồn gốc của các từ liên hệ (có gốc Việt hay Hán).

Cấu trúc ngữ pháp La Tinh, ngôn ngữ chính thức của tòa thánh La Mã trong một thời gian dài, cũng cho thấy ảnh hưởng không nhỏ trong các tài liệu viết về tiếng Việt, nhất là về cú pháp từ các giáo sĩ Tây phương.

1. Ảnh hưởng của ngữ pháp La Tinh trong Bản Báo Cáo/BBC 

Các giáo sĩ dòng Tên như Maiorica, Pina, de Rhodes đều phải học La Tinh trong quá trình huấn luyện trước khi được gởi đi truyền đạo vào thế kỉ 17. Thành ra rất dễ nhận ra ảnh hưởng của ngữ pháp La Tinh trong các tài liệu viết về ngôn ngữ như tiếng Việt chẳng hạn. Một cách tóm tắt thì tiếng La Tinh có ba bậc so sánh2 (three degrees of comparison/A): xác định (positive/A), hơn/kém bình thường (comparative/A) và bậc cao/thấp nhất (superlative/A). Thí dụ như so sánh các tính từ (comparison of adjectives) bằng cách thêm hậu tố -ior (chỉ bậc hơn) hay -issimus (chỉ bậc cao nhất) như thí dụ sau đây – trích từ trang này (sách ngữ pháp La Tinh, 1903) http://dcc.dickinson.edu/grammar/latin/comparison-adjectives 

Để ý là các hậu tố (suffix/A) trên cũng có cùng gốc với các hậu tố -er (hơn) và -est (cao nhất) của tiếng Anh: dear (thân), dearer (thân hơn) và dearest (thân nhất) …v.v… Ngoài cách thêm hậu tố để so sánh, gọi là morphological comparison (so sánh hình thái), tiếng La Tinh còn dùng trạng từ để so sánh như dùng chữ magis (hơn) và chữ maximē (nhất hạng) – gọi là syntactical comparison3 (so sánh cú pháp): 

idōneus (phù hợp) – magis idōneus (phù hợp hơn) – maximē idōneus (phù hợp nhất) 

Do đó, BBC cũng ghi các dạng so sánh trong tiếng Việt dùng hơn hơn nữa như tốt, tốt hơn/tốt hơn nữa, lành, lành hơn/lành hơn nữa, hoa này tốt hơn hoa kia, trái này lành4 hơn trái nọ, trái kia lành hơn nữa. Rất dễ nhận ra tương quan giữa cách dùng magis/L và hơn, đều là phụ từ (trạng từ/adverb) thêm vào tính từ để chỉ mức độ thêm/hơn lên, tuy thứ tự chữ (word order) khác nhau: magis thường đứng trước so với hơn phải đứng sau tính từ. Bậc cao nhất thì dùng các phụ từ rất (rứt/VBL/BBC) và cực: rất cao (rứt cau/BBC), rất thánh, cực lớn (cực mlớn/VBL/BBC). Tiếng Việt thuộc loại ngôn ngữ đơn lập (isolating language) nên không có kiểu thêm hậu tố như các ngôn ngữ hòa kết, chắp dính (biến hình) ở phần trên (tiếng La Tinh, Anh …). Trong cuốn Dictionarium Anamitico-Latinum (1838), LM Taberd cũng dựa vào ngữ pháp La Tinh và đưa ra nhiều thí dụ về trường hợp so sánh hơn (gọi là “bậc comparativo”) và so sánh cao nhất (gọi là “bậc superlativo”): các trường hợp khác hơn và bổ túc cho BBC như cách dùng thứ nhất (primus/L), tốt hạng nhất (eximius/L). Dựa vào các tài liệu Pháp ngữ, các tác giả Việt Nam Văn Phạm (sđd, năm 1940) phân tích chi tiết hơn và gọi các cách dùng bằng/như/ngang/kém hơn/nhất là tỉ hiệu đẳng cấp (so sánh hơn và kém) và tối cao đẳng cấp (mục 201 đến mục 203). Tối cao đẳng cấp có hai loại: (a) tuyệt đối tối cao đẳng cấp như lắm, quá, vô cùng5, vô số (đứng sau trạng từ hay tính từ) và rất, cực, chí, tối, thậm, đại (đứng trước trạng từ hay tính từ) (b) tỉ hiệu tối cao đẳng cấp như nhất, hơn cả, hơn hết cả, kém nhất, kém hơn cả, bét …v.v… 

Click vào đây để download toàn bài – file pdf

Click vào đây để download toàn bài – file word

[1] Nhà nghiên cứu ngôn ngữ độc lập ở Melbourne (Úc) – email nguyencungthong@yahoo.com

[2] Nếu kể so sánh bằng (như, đồng, ngang) nhau thì có bốn bậc so sánh theo truyền thống ngữ pháp cổ điển: bậc xác định (positive degree), bậc bằng nhau (equative degree), bậc so sánh hơn/kém (comparative degree) và bậc so sánh cao nhất/hơn nhất/kém nhất (superlative degree) – xem thêm chi tiết trong bài viết “Comparative Constructions: An Introduction” của tác giả Yvonne Treis (sđd). 

***

>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách nói “xuống thuyền, trên trời, ra đời, Đàng Trong/Ngoài …” (phần 1)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách nói tôi, ta, tao, tớ, qua, min… (phần 2)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách dùng chớ (gì), kín … (phần 3)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách dùng đỗ trạng nguyên, trên/dưới… (phần 4)
>> Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes – Kinh Lạy Cha (phần 5A)
>> Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes – Kinh Lạy Cha (phần 5B)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Dạng bị (thụ) động (passive voice) (phần 8)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Vài suy nghĩ về ‘Phép Giảng Tám Ngày’ (phần 9)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách dùng mẫu/mẹ và An Nam Mít (phần 10)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Vài nhận xét về tên gọi và cách đọc (phần 11)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Vài nhận xét về cách dùng “ăn chay, ăn kiêng, ăn tạp, khem, cữ” (phần 12)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Vài nhận xét về cách dùng tên bộ phận cơ thể ở phía dưới như lòng, bụng, dạ, ruột cho đến vật âm mình! (phần 13)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách dùng con và cái (phần 14)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – chên đơng hay chân đăng/đâng/nâng? (phần 15)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Vài nhận xét về cách dùng thì hiện tại/tương lai/quá khứ   (phần 16)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes: mùi, mồi, vị và bùi có cùng gốc – hiện tượng cảm giác kèm/synesthesia (phần 17)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes: các từ chỉ màu sắc như ‘mùi xanh, sắc xanh, sắc biếc’ (phần 18)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – tràng hột/chuỗi hột – chuỗi mân khôi/mai khôi/môi côi …  (phần 19)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – gió nam, gió nồm và chữ Nôm (phần 20)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – các dạng so sánh: bằng, hơn, hơn nữa và cực/rất …” (phần 22A)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s