Hai phần ba con sông trên thế giới không còn được chảy tự do nữa

English: Two-thirds of Earth’s longest rivers no longer free-flowing

  • Chỉ một phần ba trong số 242 con sông dài nhất thế giới vẫn có dòng chảy không gián đoạn suốt chiều dài, đa số các con sông không gián đoạn nằm ở những vùng hẻo lánh ở Bắc Cực, lưu vực sông Amazon, và lưu vực sông Congo, theo như một nghiên cứu sắp xuất bản trên tạp chí Nature.
  • Nhóm chuyên gia quốc tế thực hiện nghiên cứu này, dẫn đầu bởi Gunther Grill thuộc ĐH McGill (Canada) xác định rằng trong số 91 con sông có chiều dài hơn 1000 ki-lô-mét (khoảng 600 dặm) đổ ra biển, chỉ còn 21 dòng vẫn có dòng chảy không bị cản trở từ thượng nguồn ra đến biển.
  • Các con đập và những hồ đập chứa nước là nguyên nhân lớn nhất cản trở dòng chảy của sông, các nhà nghiên cứu tuyên bố. Hiện tại trên thế giới đã có gần 60000 đập lớn, và có đến 3700 đập thủy điện lớn nữa đang trong quá trình lên kế hoạch hoặc đang xây dựng.
  • Những con sông khỏe mạnh mang lại nhiều lợi ích cho con người, từ hoạt động vui chơi đến đảm bảo lương thực. Đảm bảo sự liên kết của những con sông tự do còn lại trên thế giới cũng mang tính tối quan trọng để bảo tồn đa dạng sinh học của những hệ thống nước ngọt.

Một cuộc nghiên cứu lần đầu được thực hiện về những con sông dài nhất Trái đất chỉ ra rằng các con song đã bị hủy hoại nghiêm trọng bởi hoạt động con người và đưa ra lời khuyên cho các quốc gia về việc giữ gìn và phục hồi những con sông trên thế giới.

Chỉ một phần ba trong số 242 con sông dài nhất thế giới vẫn có dòng chảy không bị gián đoạn suốt chiều dài, đa số các con sông này nằm ở vùng hẻo lánh ở Bắc Cực, lưu vực sông Amazon, và lưu vực sông Congo, theo như một nghiên cứu sắp xuất bản trên tạp chí Nature. “Ở các khu vực đông dân cư, chỉ còn rất ít con sông dài có dòng chảy tự do, như sông Irrawaddy hay sông Salween (tại Myanmar).” nghiên cứu này chỉ ra.

Nhóm chuyên gia quốc tế thực hiện nghiên cứu này, được dẫn đầu bởi Gunther Grill thuộc ĐH McGill (Canada) xác định rằng trong số 91 con sông có chiều dài hơn 1000 ki-lô-mét (khoảng 600 dặm) đổ ra biển, chỉ còn 21 dòng vẫn có dòng chảy không bị cản trở từ thượng nguồn ra đến biển.

Các con đập và những hồ chứa của đập là nguyên nhân lớn nhất cản trở dòng chảy sông, các nhà nghiên cứu tuyên bố. Hiện tại trên thế giới đã có gần 60000 đập lớn, và có đến 3700 đập thủy điện lớn nữa đang trong quá trình lên kế hoạch hoặc đang xây dựng.

(Công trình đập thủy điện, Souanké, CH Congo. Thị trấn Sembé sẽ nhận điện từ Đập thủy điện Liouesso có công suất 19 MW này. Vì mạng lưới điện tập trung vẫn chưa có mặt ở khu vực này của Congo, các thị trấn thường phụ thuộc vào máy phát điện chạy dầu diesel. Ảnh: Jaap van der Waarde / WWF-Netherlands)

“Trong nhiều thiên niên kỉ, các con sông đã mang lại nguồn thức ăn, cung cấp nước cho nhu cầu sinh hoạt và nông nghiệp, duy trì những hành lang vận tải, và gần đây hơn là mang đến việc sản xuất điện năng và sản xuất công nghiệp.” Grill và các đồng sự nêu lên trong nghiên cứu. Nhằm tiếp cận với các hàng hóa và dịch vụ mà những con sông mang lại, con người đã xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng khổng lồ, bao gồm xấp xỉ 2,8 triệu con đập với diện tích mặt hồ chứa vượt hơn 103 triệu mét vuông và hơn 500,000 km đường sông và kênh rạch được sử dụng như hành lang giao thông và vận tải. “Hậu quả là, các con sông đã phải chịu áp lực do sự phân dòng và mất đi tính liên kết, bị ức chế khả năng chảy tự do, gây ảnh hưởng đến những quá trình và chức năng cơ bản của những dòng sông khỏe mạnh, dẫn đến sự xuống cấp trầm trọng về đa dạng sinh học và sự đáp ứng thiết yếu của hệ sinh thái.” các tác giả ghi nhận.

“Những con sông trên thế giới hình thành nên một hệ thống phức tạp với những liên kết tối quan trọng đến đất liền, nước ngầm và bầu khí quyển.” Grill nói trong một tuyên bố. “Những con sông chảy tự do quan trọng với cả con người lẫn môi trường, nhưng sự phát triển về kinh tế trên thế giới lại đang biến chúng thành thứ ngày càng hiếm hoi. Qua hình ảnh vệ tinh và những dữ liệu khác, nghiên cứu của các con song tôi tìm hiểu quy mô của những con sông này một cách chi tiết chưa từng có.”

“Có một câu nói rằng: bạn không thể quản lí được thức mà bạn không hiểu hay không biết, là hoàn toàn đúng.” đồng tác giả nghiên cứu Michele Thieme, nhà khoa học nghiên cứu về nước ngọt đứng đầu của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), phát biểu với Mongabay. “Chúng tôi cảm thấy có nhu cầu phát triển một bộ dữ liệu có thể theo dõi theo thời gian, một bảng kê những con sông phản ánh một trong những thành phần quan trọng nhất về sức khỏe môi trường nước ngọt.”

(Một con linh miêu châu Âu (Lynx lynx) trên một con sông ở Slovakia. Ảnh: Tomas Hulik.)

Trước khi đánh giá sự kết nối của 12 triệu ki-lô-mét (khoảng 7.5 triệu dặm) các con sông trên thế giới, các nhà nghiên cứu phải đưa ra được định nghĩa như thế nào mới là một “con sông chảy tự do.”

“Trước đây, chưa hề có một định nghĩa khoa học thống nhất về thế nào là một con sông chảy tự do, nên điều đầu tiên chúng tôi làm là tranh luận và đưa ra một định nghĩa mà chúng tôi đều có thể ủng hộ và cùng chấp nhận,” Thieme nói. Nhóm nghiên cứu quyết định rằng một con sông chảy tự do cần được kết nối về bốn mặt quan trọng: 1- theo kinh độ / chiều dọc (longtutudinal) để cá và các loài khác có thể di chuyển ngược dòng trong khi nước, dưỡng chất và phù sa có thể chảy về xuôi dòng; 2- theo vĩ độ/ chiều ngang (lateral), để sông có thể chảy đến những bãi bồi, mang dưỡng chất cần thiết cho cá ở những môi trường sống khác và mang về những dưỡng chất cho chính con sông; 3 – theo chiều thẳng đứng (vertical), để sông có thể chảy vào và tương tác với những mạch nước ngầm và tầng nước mặt; và 4 – theo mùa (seasonal), để những chức năng sinh thái học quan trọng mà sông mang lại qua thời gian không bị cản trờ — ví dụ như dòng lũ hàng năm làm tín hiệu cho cá sinh sản.

Nhóm nghiên cứu sau đó nhận diện những dấu hiệu ở phạm vi toàn cầu phản ánh từng phần kết nối của dòng sông. Chẳng hạn, sự hiện diện của những con đập gây ảnh hưởng về chiều dọc, chiều ngang và theo mùa, trong khi đường xá và những khu vực đô thị được xây dựng trên những bãi bồi là nguyên nhân gây nên sự mất liên kết về chiều ngang. Những nhà nghiên cứu xác định các bộ dữ liệu toàn cầu có tính đại diện cho những mặt thể hiện sự liên kết của sông và kết hơp chúng thành một danh sách mà họ sử dụng nhằm đánh giá mức độ kết nối của những con sông lớn nhất trên thế giới, từ hạ nguồn đến cửa biển.

(Bản đồ: Grill và đồng sự (2019) doi:10.1038/s41586-019-1111-9

Ngăn chặn sự liên kết của sông gây nguy hại đến những chức năng thiết yếu của hệ sinh thái

Những con sông khỏe mạnh mang lại nhiều lợi ích cho con người, từ hoạt động tiêu khiển đến đảm bảo lương thực. Các con song là nền tảng cho những ngư trường nước ngọt cho hàng trăm triệu người phụ thuộc vào đó, mang đến phù sa nhằm giữ vùng châu thổ ven biển nằm phía trên biển dâng, và giúp giảm bớt hậu quả của lũ lụt hay hạn hán nghiêm trọng. Việc ngăn chặn sự liên kết của sông gây nguy hại hoặc thậm chí loại bỏ những chức năng thiết yếu của hệ sinh thái này.

Thieme đưa ra ví dụ rằng hàng triệu người ở Đông Nam Á phụ thuộc nguồn chất đạm vào những ngư trường ở hạ nguồn sông Mekong: “Với những con đập được lên kế hoạch xây dựng ở nhánh chính của dòng sông, chúng tôi dự đoán rằng một phần lớn nguồn chất đạm cho những cộng đồng địa phương này sẽ biến mất, cùng với nguồn sinh sống của họ.”

Đảm bảo sự liên kết của những con sông chảy tự do còn lại trên thế giới cũng hết sức quan trọng trong việc gìn giữ sự đa dạng sinh học cho những hệ thống nước ngọt. Báo cáo Hành tinh sống của WWF năm 2018 theo dõi 16,704 loài hoang dã trên khắp thế giới và phát hiện rằng số lượng loài nước ngọt, trên trung bình, đã giảm đến 83 phần trăm so với năm 1970, sự suy giảm lớn nhất của bất kì loài có xương sống nào.

“Số lượng của những loài nước ngọt đang suy giảm nhanh gấp đôi những loài nước mặn hay trên cạn, và chúng tôi biết rằng một trong những nguyên do chính gây nên sự suy giảm này là sự mất liên kết của sông,” Thieme nói. “Những con sông khỏe mạnh và được liên kết mang tính sống còn cho sự sống bên trong sông, vốn đang đồi mặt nguy cơ tuyệt chủng ở nhiều vùng trên thế giới.”

Góc nhìn trên không về rừng ngập mặn và trang trại nuôi tôm ở Isla Escalante, Ecuador. Ảnh: Antonio Busiello / WWF-US

Những nhà nghiên cứu ghi nhận rằng biến đổi khí hậu cũng là một mối nguy đến sức khỏe của những con sông, với nhiệt độ tăng lên gây ảnh hưởng đến mô hình dòng chảy, chất lượng nước và sự đa dạng sinh học. Thủy điện là một giải pháp các quốc gia đang hướng tới nhiều hơn khi vật lộn với khủng hoảng khí hậu toàn cầu bằng cách giảm cacbon hóa nền kinh tế của mình. Nhưng với 3,700 con đập thủy điện mới đang được xây dựng và tốc độ phát triển thủy điện ngày càng tăng nhanh trên thế giới, điều thậm chí cần thiết hơn là việc phát triển những hệ thống năng lượng ít tổn hại đến môi trường nhất có thể, Thieme nói.

“Với chi phí đang giảm của những nguồn năng lượng mặt trời và gió, có những cơ hội mới được mở ra để chuyển sang nguồn năng lượng tái tạo được để đáp ứng nhu cầu của chúng ta,” Thieme phát biểu. “Thủy điện vẫn đóng một vai trò quan trọng, nhưng xem xét những nguồn năng lượng tái tạo được khác như cách đáp ứng nhu cầu năng lượng của chúng ta trong lúc giữ một số con sông được liên kết và chảy tự do sẽ mang lại tất cả những lợi ích của sông.”

Thieme bổ sung rằng dữ liệu và thông tin được tổng hợp cho nghiên cứu có thể mang lại nền móng cho việc nhận diện những con sông nguy cấp nhất cần được bảo vệ và phục hồi. “Hoàn toàn có cơ hội cho các quốc gia phát triển theo hướng tích cực. Chúng tôi tin rằng sự phát triển và những con sông chảy tự do có thể cùng tồn tại, nhưng ta cần phải suy nghĩ thông minh hơn. Điều đó có nghĩa là gì? Về cơ bản, đó là sắp xếp những cơ sở hạ tầng làm sao để ít gây ảnh hưởng đến môi trường nhất có thể.”

Có nhiều ví dụ về cơ sở hạ tầng ở Mỹ và châu Âu đã gây nên tác hại lâu dài về mặt sinh thái, trong khi cũng tạo ra những hệ quả về mặt xã hội và kinh tế, Thieme nói. Một chiến dịch gỡ bỏ đập đang tiến hành ở Mỹ, với khoảng 1500 con đập đã bị gỡ bỏ, trong khi một quá trình tương tư cũng đang bắt đầu ở châu Âu. Dữ liệu về vị trí và phạm vi của những con sông chảy tự do còn lại trên trái đất có thể giúp: “Loại thông tin này, kết hợp với những thông tin khác, như dòng di cư lâu đời của các loài cá, hay địa điểm những khu vực quan trọng về mặt văn hóa, có thể giúp chúng ta xác định nơi nào sẽ có lợi nhất khi phục hồi sự liên kết của sông.”

06 tháng 12, 2015 — Pamok, Lào. Đời sống dọc bờ sông Mekong. Ảnh: Nicolas Axelrod / Ruom cho WWF. 

TRÍCH DẪN

  • Grill et al. (2019). Mapping the world’s free-flowing rivers. Nature. doi:10.1038/s41586-019-1111-9

• WWF. (2018). Living Planet Report – 2018: Aiming Higher. Grooten, M. and Almond, R.E.A. (Eds). WWF, Gland, Switzerland.

Dịch bởi Trần Minh Trung, Bennington College, Vermont

Advertisements

One thought on “Hai phần ba con sông trên thế giới không còn được chảy tự do nữa

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s