Đọc Luật Quốc tịch Việt Nam: nhân việc ông Phạm Minh Hoàng bị tước quốc tịch Việt Nam

Cập nhật lần cuối: 28/6/2017

Việc Việt Nam tước quốc tịch ông Phạm Minh Hoàng và gửi ông ta qua Pháp là một nước khác mà ông Hoàng có quốc tịch, là việc hy hữu, ít khi xảy ra tại bất kì nước nào. Chúng tôi cũng không nhớ là Việt Nam đã tước quốc tịch ai trước đây. Vì vậy, muốn xem lại Luật Quốc Tịch Việt Nam (“LQT”) để chúng ta cùng có dịp xem qua luật.

Việc áp dụng luật trong một vụ việc lệ thuộc rất nhiều vào các dữ kiện của vụ việc đó. Vụ này chúng ta lại chẳng biết dữ kiện gì, ngoài một ít dữ kiện đọc được trên báo. Cho nên, phân tích này chỉ là dùng để biết luật, chứ không thể chính xác cho vụ việc được. Báo chí có thể thông tin sai, cũng như chắc chắn thiếu sót rất nhiều trong vụ này, và khi chúng ta làm việc với thông tin sai hoặc thiếu sót, thì kết luận của ta cũng sẽ sai lạc. Cho nên các bạn hãy nhớ điều này, chúng ta đang dùng các dữ kiện có thể sai lạc hay thiếu sót để tìm hiểu luật, vậy thôi. Chúng ta không thể có kết luận chính xác nào.

Ông Hoàng là giáo sư Toán ở VN, bị tố cáo (truy tố?) về tội có liên hệ với Việt Tân là một tổ chức nước ngoài mà Việt Nam cho là khủng bố.

Ông Hoàng có hai quốc tịch, Pháp và Việt. Điều này xảy ra cho nhiều người miền Nam, vì miền Nam là đất nhượng địa cho Pháp thời Pháp thuộc, xem như một phần của nước Pháp, nên có nhiều người miền Nam có quốc tịch Pháp thời đó, và kéo dài quốc tịch đến thời nay. Chúng ta tạm giả sử là bố mẹ ông Hoàng và ông Hoàng thuộc dạng có quốc tịch Pháp này.

Sự kiện ông Hoàng có 2 quốc tịch, trên thực tế, làm cho việc tước quốc tịch VN của ông Hoàng thành dễ dàng hơn. Vì nếu ông Hoàng chỉ có một quốc tịch Việt Nam, thì VN không thể tước quốc tịch ông, vì như thế ông sẽ không là công dân của nước nào, và VN không đẩy ông đi đâu được hết.

I. Về tước quốc tịch Việt Nam

Khoản 1, Điều 2, Luật Quốc Tịch Việt Nam năm 2008 (“LQT 2008”) qui định:

Điều 2. Quyền đối với quốc tịch

1. Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch. Công dân Việt Nam không bị tước quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại Điều 31 của Luật này.

Về tước quốc tịch, điều 31 LQT 2008 quy định:

Điều 31. Căn cứ tước quốc tịch Việt Nam

1. Công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài có thể bị tước quốc tịch Việt Nam, nếu có hành vi gây phương hại nghiêm trọng đến nền độc lập dân tộc, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hoặc đến uy tín của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Người đã nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 19 của Luật này dù cư trú ở trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam cũng có thể bị tước quốc tịch Việt Nam, nếu có hành vi quy định tại khoản 1 Điều này.

Trong phân tích này, chúng ta tạm chấp nhận sự kiện nhà nước VN tố cáo rằng Ông Hoàng có liên hệ với Việt Tân, và Việt Tân là tổ chức khủng bố như báo chí VN tường trình, thì một điều kiện tước quốc tịch của Điều 31 – có hành vi gây phương hại nghiêm trọng đến nền độc lập dân tộc, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hoặc đến uy tín của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam – có thể tạm cho là đã hội đủ.

Chỉ cần có thêm một trong hai điều kiện khác được quy định trong điều 31 là đủ để tước quốc tịch

Điều 31 quy định hai trường hợp nhà nước có thể tước quốc tịch Việt Nam của một công dân Việt:

Khoản 1: Công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài.

Ồng Hoàng là công dân Việt Nam cư trú trong nước Việt Nam. Cho nên, Khoản 1 có lẽ không áp dụng được.

Khoản 2: Người đã nhập quốc tịch Việt Nam.

Ông Hoàng sinh ra ở Vũng Tàu, dù cha mẹ ông và ông có quốc tịch Pháp, và có lẽ xưa nay ông sống như là công dân Việt Nam từ lúc sinh ra, và có lẽ là dùng hộ chiếu Việt Nam và, như đại đa số những người Việt Nam khác, chắc là chẳng làm thủ tục nhập tịch Việt Nam bao giờ, nên có lẽ ông không phải là người “nhập quốc tịch Việt Nam”, nên khoản 2 cũng không áo dụng được.

Luật Quốc Tịch (2008) không thấy có một trường hợp nào khác hơn là Khoản 1 và Khoản 2, Điều 31 bên trên để tước quốc tịch. Nhưng theo giả định của chúng ta, thì cả Khoản 1 lẫn Khoản 2 đều không phải là trường hợp của ông Hoàng.

Vậy thì điều kiện pháp lý để tước quốc tịch của ông Hoàng là gì?

II. Không có quốc tịch Việt Nam ngay từ đầu

Một góc nhìn khác là nhìn vào quốc tịch Việt Nam của ông Hoàng ngay từ đầu.

Truyền thống luật Việt Nam là công dân Việt chỉ có một quốc tịch và đó là quốc tịch Việt Nam. Quốc tịch thứ hai nếu muốn có phải được luật cho phép.

• Có lẽ “luật” quốc tịch Việt Nam đầu tiên của nước Việt Nam là Sắc Lệnh 53 của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do Chủ tịch Nhà nước Hồ Chí Minh ký ngày 20/10/1945.

Điều 4, Sắc Lệnh 53, quy định:

Điều thứ 4: Kể từ ngày ban hành sắc lệnh này, những người Việt Nam đã vào dân Pháp, sẽ coi là công dân Việt Nam.

Những người ấy phải đến khai bỏ quốc tịch Pháp ở phòng Hộ tịch Toà Thị chính của một trong những thành phố sau này : Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, Huế, Nha Trang, Sài Gòn, Biên Hoà hay ở một trong những nơi mà Uỷ ban Bắc bộ, Trung bộ hay Nam bộ sẽ định sau.

Cha hoặc mẹ sẽ khai thay cho các con vị thành niên.

Những người nào không ra khai sẽ mất quyền bầu cử và ứng cử.

Nếu ông Hoàng (sinh năm 1955 tại Vũng Tàu) còn quốc tịch Pháp đến ngày nay, có lẽ là bố mẹ ông đã không khai bỏ quốc tịch Pháp vào năm 1945 và những năm sau đó.

Câu hỏi là: Vậy ông Hoàng vẫn còn quốc tịch Pháp, nhưng ông có quốc tịch Việt Nam không? Hay bố mẹ ông Hoàng và ông Hoàng giữ quốc tịch Pháp cho đến nay, và có thêm quốc tịch Việt Nam nhưng chỉ mất quyền bầu cử và ứng cử, theo Điều 4 Sắc lệnh 53 (năm 1945)?

Điều 7, Sắc lệnh 53, có thể được cho là xác định công dân Việt chỉ có một quốc tịch Việt Nam mà thôi:

Điều thứ 7: Những công dân Việt Nam thuộc một trong các hạng kể sau đây sẽ mất quốc tịch Việt Nam :

1- Nhập một quốc tịch ngoại quốc ;

Nếu công dân Việt Nam nhập một quốc tịch ngoại quốc thì mất quốc tịch Việt Nam, vậy (nhà nước VN có thể lý luận rằng) một công dân Pháp vẫn giữ quốc tịch Pháp và không khai bỏ quốc tịch Pháp có thể xem như là không có quốc tịch Việt Nam theo Sắc lệnh 53 năm 1945.

Nhưng đây là lý luận, Sắc lệnh 53 không rõ 100% về điểm này.

• Những Luật Quốc tịch Việt Nam sau đó ở năm 1988 và 1998 xác nhận rõ hơn về điểm công dân Việt Nam chỉ có một quốc tịch Việt Nam.

Điều 3, Luật Quốc tịch Việt Nam (năm 1988) quy định:

Điều 3. Công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch Việt Nam.

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam.

Điều 3, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 cũng gần giống như điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988, chỉ bỏ đi một từ “chỉ”.

Điều 3. Nguyên tắc một quốc tịch

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam.

Vậy, nhà nước VN có thể lập luận, theo điều 3 của Luật Quốc tịch VN năm 1988, cũng như điều 3 Luật Quốc tịch VN năm 1998, thì ông Hoàng còn giữ quốc tịch Pháp, và chưa bao giờ “khai bỏ quốc tịch Pháp”, do đó được xem là không có quốc tịch Việt Nam.

• Đến năm 2008 Luật Quốc tịch Việt Nam mới ra đời, và vẫn còn hiệu lực đến nay, thì Luật xác định lại nguyên tắc một quốc tịch cho công dân Việt Nam với vài ngoại lệ.

Điều 4, Luật Quốc tịch VN năm 2008 quy định:

Điều 4. Nguyên tắc quốc tịch

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.

Quy định khác là gì? Đó là ngoại lệ cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài (nói nôm na là Việt Kiều) và người nước ngoài muốn nhập quốc tịch Việt Nam

– Về người VN định cư ở nước ngoài, điều 13 Luật Quốc tịch 2008, như được sửa đổi bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam (năm 2014), quy định:

Điều 13. Người có quốc tịch Việt Nam

1. Người có quốc tịch Việt Nam bao gồm người đang có quốc tịch Việt Nam cho đến ngày Luật này có hiệu lực và người có quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật này.

2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam.

Vậy, Việt Kiều, được giữ quốc tịch Việt Nam lẫn quốc tịch của quốc gia mình đang sinh sống.

– Ngoại lệ thứ hai cho quy luật người Việt Nam chỉ có một quốc tịch Việt Nam là người ngoại quốc nhập tịch Việt Nam, theo Điều 19, Luật Quốc tịch Việt Nam (2008).

Điều 19. Điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam

1. Công dân nước ngoài và người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam có đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam;

b) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; tôn trọng truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam;

c) Biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng Việt Nam;

d) Đã thường trú ở Việt Nam từ 5 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam;

đ) Có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam.

2. Người xin nhập quốc tịch Việt Nam có thể được nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải có các điều kiện quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1 Điều này, nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:

a) Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam;

b) Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam;

c) Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

3. Người nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người quy định tại khoản 2 Điều này, trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép.

Vậy, người nước ngoài khi nhập tịch Việt Nam phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ 3 trường hợp – (1) vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam, (2) có công lao đặc biệt vào việc xây dựng và bảo vệ Việt Nam, hay (3) có lợi cho nhà nước Việt Nam. Trong 3 trường hợp này người nước ngoài có thể giữ quốc tịch cũ của mình khi nhập tịch Việt Nam, nếu được Chủ tịch Nước cho phép.

Ông Hoàng, nếu được xem là có quốc tịch Việt Nam, thì cũng không nằm trong hai ngoại lệ này – Việt kiều và người nước ngoài theo khoản 2 điều 19 Luật quốc tịch – nên ông không thể có hai quốc tịch Việt Nam và Pháp, theo luật Quốc tịch Việt Nam.

Nhưng nếu vậy thì theo luật VN, ông Hoàng có quốc tịch Việt Nam hay quốc tịch Pháp?

– Căn cứ vào những phân tích, dựa trên sự thiếu sót dữ kiện, chúng ta có thể thấy việc bố mẹ ông Hoàng và ông Hoàng đã không bao giờ “khai bỏ quốc tịch Pháp” với chính quyền Việt Nam, tạo ra giả thiết là các vị muốn giữ quốc tịch Pháp và do đó không muốn quốc tịch Việt.

Dấu hỏi lớn là vậy bố mẹ ông Hoàng và ông Hoàng thuộc quốc tịch Pháp hay quốc tịch Việt?

Nhà nước Việt Nam có vẻ như theo lý luận: “Bố mẹ anh Hoàng, và anh Hoàng, có quốc tịch Pháp. Gia đình anh lại không khai báo bỏ quốc tịch Pháp như Sắc lệnh 53 năm 1945 để có quốc tịch Việt Nam, nên anh chưa bao giờ có quốc tịch Việt Nam.”

Nhưng, đương nhiên đây là lý luận, có thể một chiều, vì Sắc lệnh 53 năm 1945, không nói rõ thế. Ông Hoàng có thể phản biện: Theo Sắc lệnh 53, chúng tôi không khai báo bỏ quốc tịch Pháp thì chúng tôi mất quyền bầu cử và ứng cử, nhưng vẫn là công dân Việt Nam, vì Sắc lệnh 53 quy định:

Điều thứ 4: Kể từ ngày ban hành sắc lệnh này [20/20/1945], những người Việt Nam đã vào dân Pháp, sẽ coi là công dân Việt Nam.

Nhưng lý luận này lại vi phạm nguyên tắc “một quốc tịch” khá rõ ràng trong truyền thống Luật quốc tịch Việt Nam.

– Trên thực tế, vụ này có một yếu tố quan trọng khác là ông Hoàng còn giữ quốc tịch Pháp và nước Pháp chấp nhận là ông có quốc tịch Pháp. Giải quyết bằng cách tước quốc tịch Việt Nam, thì ông Hoàng vẫn là công dân nước Pháp và đi Pháp.

Nếu trong một vụ tương tự, mà vì lý do gì đó, nước Pháp lại nói “chúng tôi không công nhận ông này là công dân Pháp” thì vấn đề sẽ phức tạp, vì nói rằng ông Hoàng không là công dân Pháp lại không là công dân Việt Nam, thì chẳng có nước nào có trách nhiệm hay thẩm quyền gì về ông cả. Ông là sẽ người vô tổ quốc, và lại là một hệ lụy phiền phức cho các nước.

Hộp Pandora

Vụ này có thể là tiền lệ cho nhiều vấn đề rắc rối sau này. Ở Việt Nam, đặc biệt là miền Nam, nhượng địa cho Pháp khi xưa, có thể có nhiều người còn quốc tịch Pháp dù sống như người Việt và có hộ chiếu Việt. Điều gì có thể xảy ra cho họ? Họ là người Pháp, không phải người Việt? Nếu Việt Nam tuyên bố họ là người Pháp không phải người Việt, và Pháp lại lắc đầu phủi tay thì sao?

Làm người nước ngoài ngay trên đất nước mình không phải là chuyện đau lòng sao? Làm sao để mọi người có thể chắc chắn về quốc tịch của họ để yên tâm sống?

Chú ý

Trong phân tích này, chúng tôi không nói nhiều đến cáo tố của nhà nước VN là ông Hoàng có liên hệ đến một tổ chức nước ngoài mà nhà nước cho là tổ chức khủng bố. Yếu tố này cũng là một yếu tố quan trọng trong Luật khi nói đến tước quốc tịch, dù là trong vụ ông Hoàng chúng tôi không chắc nó sẽ liên quan đến mức nào trong câu hỏi pháp lý “Ông Hoàng đã có quốc tịch Việt Nam chính thống xưa nay không?” Vì vậy để phân tích Quốc tịch được rõ ràng và giản dị, chúng tôi đã không nhắc nhiều đến yếu tố “khủng bố” đó trong bài này.

Cuối cùng, như đã nói ngay từ đầu, phân tích này là để chúng ta làm quen với Luật quốc tịch Việt Nam, dựa trên các dữ kiện thiếu sót và có thể không chính xác. Nên các kết luật tạm trong bài này, các bạn không nên xem nó là đúng. Mà chỉ là “tạm” để hiểu được luật mà thôi.

Và khi có thêm dữ kiện mới, phân tích này cần được bổ túc, chúng tôi sẽ tiếp tục chỉnh sửa.

Ls Trần Đình Hoành, Ts Luật
Washington, USA, 28/6/2017

Xem các văn bản Luật Quốc tịch Việt Nam ở đây

Advertisements

4 thoughts on “Đọc Luật Quốc tịch Việt Nam: nhân việc ông Phạm Minh Hoàng bị tước quốc tịch Việt Nam

  1. Khi toi len lanh su quan Phap, de nhan passport va carte d’identité Phap, thi nguoi phu trach
    da noi voi toi, rat ro : ” passport Phap, quoc tich Phap cua Ba, chi co Quyen Loi nhu nguoi Phap, khi ra khoi lanh tho Vietnam , con o trong lanh tho VN, Ba van con quoc tich VN, Ba
    phai tuan thu Phap Luat Vietnam .”

    Số lượt thích

    1. Câu hỏi rất hay TH.

      Có vài lý do để nghiên cứu luật mới lẫn luật cũ.

      1. Cho những việc kéo dài thời gian, như quốc tịch từ hồi mới sinh đến nay, hơn 60 năm, thì một luật cũ nào đó có thể làm thay đổi cả vụ kiện. Ví dụ: Một luật cũ nào đó cho phép công dân có 2 quốc tịch, thì luật mới (chỉ cho một quốc tịch) thường không có hiệu lực hồi tố, (hồi tố là hiệu lực ngược thời gian đến quá khứ lúc luật mới chưa ra đời; không hồi tố là không có hiệu lực ngược thời gian như thế), tức là người công dân đã có 2 quốc tịch theo luật cũ, vẫn giữ được 2 quốc tịch sau khi có luật mới.

      2. Theo dõi luật nhiều năm thì thấy rõ truyền thống luật. Như trong vụ này thấy rõ truyền thống “công dân VN chỉ có một quốc tịch.”

      3. Luật cũ thường làm rõ nghĩa luật mới, nhờ mình thấy một đoạn mấy mươi năm.

      A. Hoành

      Liked by 1 person

      1. – Em cám ơn anh trả lời.

        Luật lệ như một cánh rừng bạt ngàn. Đi vào thì ngợp (bởi vẻ rộng lớn của nó), đi ra thì choáng (bởi mê cung phức tạp của nó).

        – Chuyện “Làm người nước ngoài ngay trên đất nước mình” em chưa đọc thông tin nào về những người này. Em sẽ tìm hiểu.

        Em Hương

        Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s