Trịnh Bách

TĐH: Bách là bạn rất dễ thương của mình

Nhà nghiên cứu văn hóa Trịnh Bách: “Sứ giả” của văn hóa Việt

16:39 16/09/2019 conganhandan

Năm 2017, Trịnh Bách bắt đầu phục dựng lại đèn của phong cách Sài Gòn cũ mà ông vẫn được thấy và được chơi ở Sài Gòn khi còn nhỏ. Sau đó, từ ký ức của cụ Văn, ông cũng đã hồi phục được một số đèn theo phong cách Báo Đáp xưa, của những năm 1950. Các đèn này đã được bàn giao cho Bảo tàng Hà Nội để phục vụ công chúng…

Ví nhà nghiên cứu văn hóa Trịnh Bách là “sứ giả” của văn hóa Việt quả không có gì là quá, bởi suốt hàng chục năm qua, ông sẵn sàng rời bỏ không gian sống vốn đã thân quen ở Mỹ để về Việt Nam, lang thang khắp các vùng miền văn hóa, chuyện trò với các nghệ nhân, khảo cứu tư liệu trong sách vở, đặng khôi phục được những bộ trang phục triều đình nhà Nguyễn, rồi lại mày mò khôi phục những lồng đèn Trung thu, những con giống bột màu vốn rất gần gũi với người Hà Nội nhưng lâu nay vắng bặt trên thị trường…

Trịnh Bách sinh ra trong một gia đình dòng dõi ở Việt Nam. Mẹ ông xuất thân từ một gia đình quan lại triều Nguyễn. Năm 1972, Trịnh Bách sang Mỹ. Trong những năm 1980, ông đã học guitar với Andres Segovia – nghệ sĩ guitar cổ điển xuất sắc nhất thế kỷ 20. Đầu những năm 1990, ông và bạn bè xuất bản tạp chí “VietNow” bằng tiếng Anh ở Mỹ để truyền bá về lịch sử và truyền thống văn hoá Việt Nam ở nước ngoài. Làm tạp chí vẫn chưa thấy thỏa, vậy là ông rời Mỹ về Việt Nam sinh sống. Ở quê hương, ông từng dành rất nhiều công sức, tiền của để khôi phục vải vóc và trang phục cung đình Huế.

Đó là năm 1994, ông về Việt Nam để bắt đầu hành trình phục dựng các hiện vật cung đình triều Nguyễn. Ông bắt đầu bằng việc “mò mẫm” đi nghiên cứu các hiện vật, tư liệu lịch sử còn sót lại ở các bảo tàng, thư viện, các gia đình dòng dõi vua chúa. Đó là sự cẩn trọng hết sức cần thiết, bởi chỉ khi có một vốn kiến thức về di sản cung đình thì quá trình khôi phục mới đi đúng hướng. Ông quan niệm, chỉ tiến hành phục hồi những gì mình biết rõ ràng một cách “nói có sách, mách có chứng”, chứ không làm lấy xong, lấy được.

Ông cho rằng, muốn khôi phục thành công thì đầu tiên mình phải hiểu. Sự hiểu ấy phải thông qua nhiều nguồn, sách vở chỉ là một. Quan trọng nữa là phải tìm được các nhân chứng, các nghệ nhân. Nếu sách vở cho ta biết trước được hình ảnh hoặc bản vẽ cũ của trang phục thì nghệ nhân sẽ mách cho ta về đường kim mũi chỉ, về hoa văn, chất liệu vải. Thường thì vải tơ tằm cung đình được dệt bằng phương pháp thủ công. Vải và chỉ thêu được nhuộm theo màu sắc cổ truyền. May và thêu cũng hoàn toàn thủ công.

Trong quá trình khôi phục trang phục cung đình Huế, Trịnh Bách may mắn tìm được những người thợ thủ công. Trịnh Bách cho biết, để phục chế xong một bộ triều phục, mỗi nhóm thợ thêu 4 người phải mất trên dưới một năm. Cứ cần mẫn và bền bỉ như thế, những trang phục cầu kỳ của vua chúa như: Long bào Xuân Hạ Hoàng Đế, Phượng bào Thu Đông Hoàng Hậu, Sa kép Xuân Hạ Quý phi, Sa kép Xuân Hạ Thái tử, Mãng bào Thu Đông Hoàng tử… lần lượt được hoàn thành. Ngoài ra, Trịnh Bách còn phục dựng các đồ vật sập ngủ, sập trà chạm rồng, tủ ghế, sơn chạm, chân đèn, mâm bang cán phất trần, bình hoa, thống, đĩa, chén, hộp đựng thuốc hình khánh…

Nhà nghiên cứu Trịnh Bách bên những mẫu đèn Trung thu ông khôi phục.

2. Không chỉ nặng lòng với những trang phục, đồ vật cung đình Huế, Trịnh Bách còn đau đáu với nhiều giá trị văn hóa Việt đã bị lãng quên, bị thất truyền. Sau khi về nước, chứng kiến việc trẻ em cứ đến Rằm tháng tám lại chơi các đồ chơi Trung Quốc mà không hề biết đến những đèn lồng Trung thu cổ truyền độc đáo của nước mình, Trịnh Bách thấy thương các em, và tự thấy mình cần phải “làm cái gì đó”.

Thế là từ năm 2007, ông lại mày mò trong sách vở, tìm kiếm các nghệ nhân. Sau nhiều chuyến đi về các làng nghề, Trịnh Bách đến khu Phú Bình (quận 11, TP Hồ Chí Minh) – vốn là chỗ vẫn sản xuất đèn Trung thu từ khi ông còn bé – đặng tìm nghệ nhân tâm huyết có tay nghề để phục hồi lại nghệ thuật quý báu này. Và mãi đến 2017, ông mới có cơ duyên gặp được gia đình cụ quả phụ Nguyễn Trọng Văn ở đấy.

“Gia đình cụ Văn đã có truyền thống làm đèn Trung thu từ nhiều đời ở làng Báo Đáp (Nam Trực, Nam Định). Từ khi chuyển vào TP Hồ Chí Minh, họ vẫn tiếp tục giữ nghề, dù rằng có phải thay đổi một ít về hình thức của những chiếc đèn này. Người làm việc trực tiếp với tôi là các em Nguyễn Trọng Bình, Nguyễn Trọng Thành, con trai cụ Văn. Họ rất kiên nhẫn, sáng dạ và quan trọng nhất là cầu tiến, yêu nghề…” – nhà nghiên cứu Trịnh Bách chia sẻ.

Ông cũng cho rằng, lồng đèn hình con thú có nguồn gốc từ thời Đường bên Trung Hoa. Khởi thủy chúng được làm với hình cá chép. Rồi sau đó còn có thỏ ngọc và cóc 3 chân, là những con vật sống với Hằng Nga trên cung Trăng… Nhưng phong tục này đã mất ở Trung Quốc từ lâu. Trong khi đó, người Việt về sau còn tiếp tục tạo thêm đèn hình các con vật khác như gà, bướm, chuồn chuồn, ông sao, củ ấu…

Ngày xưa ở Bắc Bộ có nhiều nơi làm đèn Trung thu cho trẻ em nhưng nổi trội nhất phải kể đến làng Báo Đáp. Theo Trịnh Bách, đèn Trung thu của người làng Báo Đáp nổi tiếng đến nỗi nhiều bảo tàng bên Pháp hiện vẫn còn giữ được những cái đèn Trung thu rất đẹp, tinh xảo của họ làm từ những thập niên đầu thế kỷ 20.

Người Báo Đáp phần lớn dán đèn Trung thu bằng giấy nhiễu, hoặc có khi bằng vải. Đến những năm 1940 trở đi, họ cũng đã bắt đầu dán đèn bằng giấy bóng kính. Khi vào Sài Gòn, họ theo phong cách và thị hiếu của các nhà buôn Chợ Lớn mà đổi sang hoàn toàn dán đèn lồng bằng giấy bóng kính, thường là mầu đỏ. Theo phong cách của người Hoa Chợ Lớn, đèn nhiều khi còn được gắn thêm lông thỏ và mặt mài gắn kính.

Năm 2017, Trịnh Bách bắt đầu phục dựng lại đèn của phong cách Sài Gòn cũ mà ông vẫn được thấy và được chơi ở Sài Gòn khi còn nhỏ. Sau đó, từ ký ức của cụ Văn, ông cũng đã hồi phục được một số đèn theo phong cách Báo Đáp xưa, của những năm 1950. Các đèn này đã được bàn giao cho Bảo tàng Hà Nội để phục vụ công chúng.

Cùng với những chiếc đèn Trung thu, để mâm cỗ chơi trăng tháng tám của trẻ em thêm sinh động, Trịnh Bách còn tiến hành việc khôi phục những con giống bột màu. Sở dĩ ông quyết tâm làm, bởi xưa ở Hà Nội có những con giống làm bằng bột cho trẻ em vào dịp Trung thu. Đó cũng là một nghệ thuật độc đáo của người Việt,  cũng như lồng đèn Trung thu, là những truyền thống và nghệ thuật mà trên thế giới chỉ người Việt mình có. Tết Trung thu ngày xưa, trẻ em không thể thiếu 3 món là bánh, con giống bằng bột và đèn (nhiều loại).

Qua nghiên cứu, Trịnh Bách khẳng định: Việt Nam là đất nước độc nhất có tục lệ nặn con giống bột làm đồ chơi trẻ em trong dịp Tết Trung thu. Tục nặn con giống bột có từ hàng trăm năm trước. Viện Viễn Đông Bác Cổ hiện còn lưu giữ được ảnh những con giống bột được chụp từ đầu thế kỷ 20, với chú thích là “Đồ chơi bằng bột nhuộm màu của Tết Trung thu Hà Nội”.

“Cũng như đèn Trung thu, các con giống bột xinh đẹp hiện vẫn được các bảo tàng Âu châu gìn giữ, và ghi chú rõ là con giống bột mầu cho trẻ con dịp Tết Trung thu Hà Nội” – nhà nghiên cứu Trịnh Bách cho biết. “Con giống bột Trung thu Hà Nội có ba xuất xứ là khu vực Đồng Xuân (các phố Đồng Xuân, Hàng Đường, Hàng Mã…), Phố Khách (Hàng Buồm, Mã Mây…), và nhất là làng Xuân La, Phú Xuyên. Vì lý do lịch sử mà các con giống bột Hà Nội từ lâu nay hầu như đã bị thất truyền.

Không ai còn biết đến chúng nữa. Những năm 1995, 1996, tôi vẫn thấy một thiếu nữ bán con giống bột Trung thu ở chợ Trung thu phố Hàng Mã (Hà Nội). Sau đó không thấy nữa, vì nghe nói bà cụ làm con giống đã quá lớn tuổi, không còn tiếp tục giữ nghề được nữa”.

Và thế là, từ những ký ức Trung thu xưa kết hợp với việc xem, chụp ảnh những con giống bột màu đang được lưu giữ trong bảo tàng ở châu Âu, Trịnh Bách lại tiếp tục hành trình đưa con giống bột màu trở lại với đời sống đương đại. Quãng năm 1998, trong một lần tìm kiếm, Trịnh Bách đã gặp được Đặng Văn Hậu – một thiếu niên nặn tò he ở Phú Xuyên (Hà Nội) rất khéo tay. Lúc đó hỏi Hậu và ông ngoại về con giống bột Trung thu Hà Nội thì cả hai đều không biết.

Lại mất tới hơn 10 năm nữa, năm 2017, khi ấy Đặng Văn Hậu may mắn được gặp bà Phạm Nguyệt Ánh ở Nhân Hòa, Hà Nội. Bà Nguyệt Ánh trước kia ở Đồng Xuân, là nghệ nhân cuối cùng của dòng giống bột Đồng Xuân còn sót lại hiện nay. “Với kiến thức của bà Nguyệt Ánh, tay nghề của Đặng Văn Hậu, và ký ức của tôi, chúng tôi đã hồi phục lại được cả ba dòng con giống bột và con bánh chim cò nói trên” – Trịnh Bách nói.

3. Trịnh Bách cho rằng, trong quá trình khôi phục lại những gì đã mất, khó nhất là tìm được nghệ nhân biết nghề, yêu nghề, và nhất là có lương tâm nghề nghiệp. Việc khó kế tiếp là phải tìm lại được công thức cho ra được nguyên liệu gốc. “Một cái khó nữa là chống chọi lại được trước sự ra đời của các “truyền thống giả”.

Vì bao năm chiến tranh, thiếu thốn, nhiều ngành nghề đã bị mai một. Phần đông người ta đã không còn biết đến các ngành nghề này nữa. Lợi dụng điều không may này, nhiều người đã tự đặt ra những thứ “gọi là truyền thống” để trục lợi, đánh vào khát khao tìm về truyền thống của mọi người, nhất là giới trẻ hiện nay. Từ ẩm thực, văn chương, cho đến thủ công mỹ nghệ. Việc này có hại cho tương lai của nền văn hóa dân tộc” – nhà nghiên cứu Trịnh Bách khẳng định.

Với những gì đã làm được trong hành trình khôi phục di sản cha ông để lại nhưng vì nhiều nguyên nhân, đến nay đã không còn nữa, nhà nghiên cứu văn hóa Trịnh Bách cho rằng: “Qua việc làm của mình, tôi không dám nhắn nhủ điều gì. Chỉ giản đơn là khôi phục lại được những gì đẹp đẽ của đất nước mà mình có thể. Và để cho mọi người biết được sự quý báu và đẳng cấp của nền văn hóa Việt Nam.

Hiện nay, ai cũng có mong ước hồi phục lại các di sản mà vì các lý do lịch sử đã bị mai một. Nhưng đã dấn thân vào thì phải làm việc một cách đứng đắn, bài bản với kiến thức vững vàng. Không được tùy tiện, ẩu tả để mọi người, nhất là thế giới, hiểu lầm về non nước mình. Đấy là điều sẽ mang tội với cha ông…”.

Hoàng Thu Phố

Guitarist Trịnh Bách – Tài hoa một cõi

Đăng bởi Lê Ngọc Phượng

Có hai nghệ sĩ chơi Tây ban cầm mà có cùng một chí hướng, là mở tiệm bán đàn!

Một người mở tiệm tại phố Hàng Gai ở Hà Nội rồi di cư vào Nam dạy đàn cho tới khi cả nước đứt dây năm 1975. Ðó là Dương Thiệu Tước, nhạc sĩ có công khai phá nền tân nhạc Việt Nam. Ông sinh năm 1915 và tạ thế năm 1995.

Người kia thì ở một cõi xa hơn nhiều.

Ðó là Sophocles Papas, ra đời trước Dương Thiệu Tước chừng chục năm và ra đi cũng sớm hơn mươi năm (1894-1986). Papas là bậc thầy trứ danh và có công quảng bá nghệ thuật Tây ban cầm trong một lớp học kéo dài hơn sáu chục năm tại thủ đô Hoa Kỳ. Y như Dương Thiệu Tước sau này ở thủ đô Hà Nội, Papas mở tiệm bán đàn tại đường Connecticut, một di tích lịch sử đã từng phục vụ từ tổng thống đến người dân giả.

Hai nghệ sĩ ấy còn giống nhau một điểm, là có một đứa học trò… không giống ai!’

Ðứa học trò đã từng thọ giáo Dương Thiệu Tước tại Sàigòn – và luôn luôn nhắc lại điều ấy – sau này sống tại miền Ðông Hoa Kỳ. Thấy trong niên giám điện thoại có quảng cáo tiệm đàn của một bậc thầy là Papas, cậu bé lần mò tìm tới. Chẳng lẽ Sophocles Papas còn sống hay sao? Mà nghe nói tiệm này mở cửa mãi từ 1922…

Bước vào tiệm đàn, cậu bé thấy choáng ngợp trước nhiều cây đàn quý và nhẹ gỡ xuống một cây, cậu bắt đầu gẫy vài tiếng. Chiều đó, tiệm đàn hơi vắng, ngoài nhân viên bán đàn thì chỉ có một ông già cù lần mới bước vào. Quấn khăn áo sù sụ, ông già thơ thẩn trong tiệm, mân mê lau chùi tủ kính. Có lẽ là người phu dọn dẹp.

Ðược thể, cậu bé lả lướt vài đường cho lão già nhà quê kia biết tài dân Việt!

– Cậu là ai, đang làm gì vậy? Ông lão già bước lại nghiêng đầu hỏi.

– Thì đang thử đàn chứ có gì đâu! Cậu vênh váo trả lời và… chộ bịa thêm vài ngón trước đôi mắt trợn tròn của ông lão. Chữ “chộ bịa” này là do chính đương sự kể lại. Mà cụ là ai vậy?

– Mi có tất cả những tật xấu nhất mà tao thấy trong đám học trò của tao!!! Tao phải dạy lại mới được. Tao là Papas!

Chính cậu bé đã kể như vậy về mối duyên vì sao cậu lại được học ngón đàn Sophocles Papas.

Trong thế kỷ 20, có lẽ Papas chỉ nhường bước cho người bạn già là Andrés Segovia. Học trò Tây ban cầm của hai nhân vật huyền thoại ấy đều phải là danh thủ xuất chúng.

Và cậu bé đó chính là Trịnh Bách, diệu thủ guitar classic của Việt Nam!

Không chỉ học Dương Thiệu Tước và Sophocles Papas, Trịnh Bách còn được đến tận nhà ở xứ Tay Ban Nha theo học Andrés Segovia. Chuyện ấy, bây giờ thì ai cũng biết. Ít người ngờ rằng anh còn được danh thủ dương cầm Mieczyslaw Horszowski mời về nhà, và ở lại cả tháng để học hỏi thêm về nhạc. Horszowski gọi đó là “đàm đạo”! Ông cụ sống rất thọ đến 99 tuổi và chỉ lấy vợ khi đã 89 xuân xanh. Bà vợ ông cũng là một diệu thủ dương cầm người Ý. Bà Bice Costa chăm sóc ông chồng thiên tài như một đứa trẻ trong một tuần trăng mật kéo dài mười năm.

Trịnh Bách tại nhà Andrés Segovia (1981)​

Thế giới của giới nghệ sĩ đó không giống như chúng ta thường nghĩ. Trịnh Bách đã học từ những người như vậy. Nhờ thế, mình biết thêm là các bậc đại sư về âm nhạc không truyền thụ như người thường!

Trong một năm thọ giáo ngôi Bắc đẩu về guitar classic của thế giới, Trịnh Bách không học đàn như ta có thể tưởng tượng. Mỗi ngày, hai người trên hai ghế đối diện cùng đánh, lâu lâu Maestro Segovia buông ra một câu. “Chỗ này phải trong hơn. Gẫy lại được không? Phải sáng nữa mới được! Khoảng trống này phải rung cho đầy thì mới đẹp…”

Trong số học trò của Segovia, nay đã là bậc thầy nổi tiếng hoàn vũ, có những danh cầm như John Williams người Úc, Julian Bream người Anh, Christoper Parkening người Mỹ, Michael Lorimer cũng người Mỹ, hay Alirio Diaz người Venezuela, Antonio Mebrado người Tây Ban Nha, v.v…

Như Quỷ Cốc Tiên Sinh trong truyện cổ, Segovia nhận xét về từng môn sinh. Giàu có nhất sẽ là Christopher Parkening. Khó tính nhất là John Williams. Nghệ thuật nhất có lẽ là Michael Lorimer. Còn Trịnh Bách? “Có tâm hồn nhất.”

Nên có khi bỏ đàn!

Trịnh Bách đã trình tấu ở nhiều hội trường danh tiếng của thế giới, kể cả trong Tòa Bạch Cung. Ðôi tay của anh được bảo hiểm bạc triệu – chẳng vậy mà người ta có chữ “diệu thủ” – cho nên khi đi trình diễn và đem theo một cây đàn rất đặc biệt, anh không được quyền ôm. Sợ hư tay. Hãng bảo hiểm quy định như vậy để bảo vệ tài sản được họ bảo lãnh!

Một danh cầm như thế tất nhiên là phải có lúc phục vụ cộng đồng. Trong một lần trình tấu cho cộng đồng người Việt tại Virginia, đến lúc du dương thì anh giật mình. Các cụ ngồi hàng đầu gật gù: “Cậu này lên dây đàn hoài vậy mà sao chưa thấy ca!”

Như một trường hợp khác là Lê Ngọc Chân, bỏ việc dạy nhạc trong một đại học danh tiếng Hoa Kỳ để trở về khôi phục âm nhạc Việt Nam, Trịnh Bách cũng đã buông đàn xuống giữa đời.

Chữ “xuống” nên được hiểu theo nghĩa đen.

Anh trở về Việt Nam tìm hiểu và khôi phục chèo cổ rồi nhiều bộ môn âm nhạc khác, và vất vả không ít với các ông cán bộ. Anh đi xuống những xã ấp xa xôi hẻo lánh để tìm ra nghệ sĩ cổ truyền đích thực, và còn kiếm tiền giúp họ sinh sống để dạy lại và giữ lại những ngón nghệ thuật sẽ mai một. Anh vận động để một đoàn chèo được qua Mỹ trình diễn và buồn không ít khi những nghệ sĩ thật đã bị gạt lại, để nhân tình của các quan chức được đem chuông đi đấm nước người, và nhún nhẩy trên sân khấu chèo với bước chân ballet học của Cuba trong tranh phục lòe loẹt.

Nếu không là tư vấn của các định chế nổi tiếng tại Hoa Kỳ và được nhiều người Mỹ quyền thế biết tên thì có khi Trịnh Bách đã bị trục xuất hoặc lãnh những cái mũ không thể ngờ trên đầu! Ngày nay, bao người ca ngợi anh đã phục chế nhiều y phục cổ truyền hay bộ môn nghệ thuật cung đình tại Huế. Ít ai ngờ là trước khi những tác phẩm ấy được chú ý, được tòa đại sứ Hoa Kỳ triển lãm, hay được Tổng Thống Bill Clinton ghé thăm, Trịnh Bách đã bị phiền nhiễu không ít. Nhiều vị có chức có quyền đã chụp lấy những “phát hiện” của anh đem ra kinh doanh và muốn xóa luôn vết tích là người nghệ sĩ.

Mấy chuyện ấy, người viết xin nhường cho ba dấu chấm than để khỏi phải viết thêm!!!

Từ đã lâu, ở bên Mỹ, Trịnh Bách đã chú ý tìm hiểu về trang phục cổ truyền của Việt Nam.

Anh gặp xin bà dì của người viết để mượn xem và xem kỹ từng chút nhiều áo dài rất quý còn lại trong nhà. Dì Ngọc Lan của người viết, bà đại sứ Vĩnh Thọ, còn giữ lại những báu vật của hai bên nội và ngoại. Bên họ nội là tấm áo của Tôn Nhân Phủ, bên họ mẹ là chiếc áo dài của Công Chúa Mỹ Lương, con gái vua Dục Ðức và chị vua Thành Thái. Trong đại gia đình, các cô con gái lên xe hoa đều được mặc áo công chúa và chỉ một lần đó thôi. Có tìm hiểu kỹ thì mới biết màu hồ thủy của áo này hay màu tím của áo kia là những biểu tượng hay quy ước rõ rệt về phẩm phục của triều đình. Ðây là những bảo vật sẽ phải được tặng lại cho viện bảo tàng.

Trịnh Bách cũng là người tận tụy giúp đỡ việc cải táng thân phụ của người viết là học giả Ưng Quả. Anh đã liên lạc với nhiều người trong họ, bên dòng Tuy Lý tại Huế, để đưa hài cốt người quá cố ra khỏi sân vườn trước nhà cạnh phủ Túy Lý lên tới một nơi yên lành hơn, là sân trong chùa Thiên Hòa.

Bài này được viết như một lời tri ân và cảm phục vì từ 15 năm nay, Trịnh Bách cố đưa nghệ thuật cổ truyền của Việt Nam tới một nơi yên lành để có thể tồn tại. Anh làm được việc ấy vì nhiều người ngoại quốc đã biết và chú ý, nhờ đó mà thiện chí và tài năng của anh không bị cản trở.

Hành trình từ Dương Thiệu Tước, Papas hay Segovia có thể đã dứt vì anh chọn một con đường chông gai hơn, mà đáng quý chừng nào. Bây giờ, Trịnh Bách đã tiệp màu với xã hội Việt Nam, lượn xe hai bánh đi tới những ngõ ngách khốn khổ nhất để tìm ra những nghệ nhân đích thực và tạo điều kiện cho họ dựng lại những gì đẹp nhất, đã có một thời bị coi là phong kiến, đáng chôn vùi.

Tâm hồn ấy của Trịnh Bách khiến chúng ta phải ngậm ngùi và bái phục.

Theo trinhtoc.com

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s