Bẻ gãy luận điệu của Trung Quốc ở Liên Hiệp Quốc – 5 bài

Bẻ gãy luận điệu của Trung Quốc ở Liên Hiệp Quốc – Bài 1:

Biển Đông: Hiểu đúng ý nghĩa công hàm Phạm Văn Đồng

 Pháp luật TP.HCM 10:46 | Thứ hai, 04/05/2020 

Công hàm Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 không có ý nghĩa công nhận chủ quyền mà Trung Quốc tuyên bố không có cơ sở ở Trường Sa, Hoàng Sa.

LTS: Ngày 17.4.2020, Trung Quốc (TQ) gửi công hàm lên Liên Hiệp Quốc để khẳng định chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam). Trong đó, TQ khẳng định chính phủ Việt Nam cũng đã công nhận điều này thông qua công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Để độc giả hiểu rõ về sự kiện công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và mưu đồ của TQ ở biển Đông, Pháp Luật TP.HCM thực hiện loạt bài: “Bẻ gãy luận điệu của Trung Quốc ở Liên Hiệp Quốc”.

Bài viết dựa vào cuộc phỏng vấn PGS-TS Vũ Thanh Ca, chuyên gia về Luật Biển quốc tế ĐH Tài nguyên và môi trường Hà Nội, nguyên Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế và khoa học công nghệ, Tổng cục Biển và hải đảo Việt Nam.

Chiến sĩ đảo Núi Le (thuộc quần đảo Trường Sa) nâng cao cảnh giác, vững vàng tay súng bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Ảnh: TTXVN

Ngày 4.9.1958, Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (gọi chung là Trung Quốc, viết tắt là TQ) ban hành bản tuyên bố về hải phận. 10 ngày sau, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi một công hàm, thể hiện sự ủng hộ của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) đối với tuyên bố hải phận 12 hải lý của TQ.

Đây là một dữ kiện lịch sử, pháp lý mà TQ đã và đang sử dụng để khẳng định không có quốc gia nào phản đối yêu sách của TQ ở biển Đông. Tuy nhiên, sự thật của lịch sử chưa bao giờ giống như những gì Bắc Kinh tuyên truyền.

Bản tuyên bố đơn phương của TQ

. Phóng viên: Xin ông tóm tắt những điểm chính liên quan đến tuyên bố của phía TQ vào năm 1958 liên quan đến chủ quyền biển Đông?

+ PGS-TS Vũ Thanh Ca: Bản tuyên bố của TQ bao gồm bốn điều. Thứ nhất, bề rộng hải phận của TQ là 12 hải lý. Điều này áp dụng cho những nơi mà nước này gọi là: “Lãnh thổ TQ trên đất liền và các hải đảo duyên hải, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) cùng các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc TQ”.

Thứ hai, TQ xác định các đường cơ sở của hải phận dọc theo đất liền TQ và các đảo ngoài khơi được xác định bởi “các đường thẳng nối liền mỗi điểm cơ sở của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường cơ sở là hải phận của TQ…”.

Thứ ba, TQ yêu cầu các nước không được tự ý xâm nhập hải phận và vùng trời phía trên hải phận nước này. Cuối cùng, TQ tuyên bố điều (2) và (3) kể trên cũng áp dụng cho các điểm mà TQ gọi là: Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa…

Vì sao TQ ra tuyên bố về chủ quyền?

Động lực nào khiến TQ ra tuyên bố chủ quyền vào năm 1958 như nêu trên, thưa ông?

+ Cho tới đầu thế kỷ XX, lãnh hải (hải phận) của quốc gia ven biển được quy định là ba hải lý tính từ đường cơ sở. Đến đầu thế kỷ XX, một số quốc gia muốn mở rộng giới hạn chủ quyền quốc gia ven biển cũng như giới hạn về quyền sở hữu và khai thác tài nguyên trong vùng biển ven bờ của quốc gia. Từ cuối những năm 1940 của thế kỷ XX, một số nước đã mở rộng lãnh hải tới 12 hải lý.

Hội nghị về Luật Biển Liên Hiệp Quốc (LHQ) lần thứ nhất (UNCLOS I) tổ chức ở Geneva, Thụy Sĩ từ ngày 24-2 đến 27-4-1958. Hội nghị này xuất hiện mâu thuẫn trong quá trình đàm phán: Một số nước như Mỹ, Anh có quan điểm giữ nguyên quy định chiều rộng lãnh hải ba hải lý. Trái lại, nhiều nước khác, đặc biệt là các nước xã hội chủ nghĩa và các nước đang phát triển khác, đề nghị mở rộng chiều rộng lãnh hải tới 12 hải lý. Kết quả, công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải 1958 chưa quy định được chiều rộng lãnh hải.

TQ cố ý suy diễn sai lệch nội dung công hàm Phạm Văn Đồng với ý đồ khẳng định yêu sách trái phép tại vùng biển này.  Ảnh: Facebook

. Được biết, TQ không được mời dự hội nghị về Luật Biển LHQ lần thứ nhất năm 1958. Có phải vì vậy mà họ đơn phương ra tuyên bố về chủ quyền biển, trong đó có yêu cầu về chiều rộng hải phận của TQlà 12 hải lý?

+ Vào thời kỳ đó, có những vấn đề rất cấp bách ở TQ liên quan tới quy định về chiều rộng lãnh hải của họ. Trong giai đoạn chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), vùng lãnh thổ Đài Loan có nguy cơ bị TQ tấn công. Để bảo vệ Đài Loan, Mỹ đã điều Hạm đội 7 vào eo biển Đài Loan và TQ đã mạnh mẽ phản đối việc này.

Sau khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất (tháng 9.1954), khủng hoảng lần hai tiếp tục xảy ra vào tháng 8-1958. TQ tái diễn nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo hiệp định phòng thủ chung với chính quyền Đài Loan, Mỹ điều hai tàu chiến đến eo biển Đài Loan. Hai tàu này đã hộ tống các tàu Đài Loan tới khoảng cách ba hải lý tính từ bờ của đảo Kim Môn. TQ cho rằng Mỹ vi phạm chủ quyền của mình, trong khi Mỹ cho rằng Mỹ chỉ hoạt động trong khu vực ngoài lãnh hải của TQ và tuân thủ luật pháp quốc tế. Một phần vì hội nghị về Luật Biển LHQ lần thứ nhất không mời TQ, phần nữa vì muốn ngăn chặn các nước tiếp cận gần bờ biển của mình (trong phạm vi 12 hải lý), TQ ra tuyên bố về lãnh hải.

Công hàm Phạm Văn Đồng chỉ là ngoại giao

. Sau tuyên bố của TQ vào tháng 9.1958, Chính phủ VNDCCH phản ứng ra sao?

+ Ngày 14.9.1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi một công hàm đến Thủ tướng Chu Ân Lai của Hội đồng Nhà nước TQ để khẳng định sự ủng hộ của Chính phủ Việt Nam đối với tuyên bố hải phận 12 hải lý của TQ.

Theo đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Chính phủ nước VNDCCHghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4.9.1958, của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của TQ. Chính phủ nước VNDCCHtôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của TQ trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể”.

. Trong bối cảnh lịch sử như ông đã trình bày, có thể hiểu nội dung công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như thế nào?

+ Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi công hàm với mục đích ngoại giao, thể hiện sự đoàn kết về mặt chính trị và ủng hộ lập trường hải phận 12 hải lý của TQ. Các quốc gia trong phe xã hội chủ nghĩa như Liên Xô cũng làm như vậy. Đây là động thái hoàn toàn bình thường của các nước xã hội chủ nghĩa trong hoàn cảnh chiến tranh lạnh, đối đầu với phe tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu.

Như vậy, bản chất công hàm Phạm Văn Đồng là một văn kiện ngoại giao đơn phương với mục đích rất đơn giản: Thể hiện sự đoàn kết với TQ chống lại Mỹ và các nước thuộc phe tư bản chủ nghĩa.

Tóm lại, hiểu được bối cảnh quốc tế khi ra đời của tuyên bố từ phía TQ về hải phận và công hàm Phạm Văn Đồng thì mới có đủ cơ sở để đánh giá ý định của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Chính phủ VNDCCHkhi ban hành công hàm này. Từ đó mới có thể đánh giá giá trị pháp lý của công hàm và ảnh hưởng của nó tới chủ quyền Việt Nam (mà tôi sẽ nói rõ hơn ở bài sau).

. Xin cám ơn ông.

Công hàm TQ gửi lên LHQ không phù hợp luật pháp quốc tế

Chiều 23.4, tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Ngô Toàn Thắng nói với báo chí: Việt Nam phản đối các nội dung trong công hàm ngày 17.4 của TQ gửi LHQ cũng như các công hàm trước đó nêu các yêu sách chủ quyền ở biển Đông. Ông Thắng khẳng định các công hàm chứa đựng những yêu sách chủ quyền phi lý của TQ đối với Hoàng Sa và Trường Sa không phù hợp luật pháp quốc tế, trái với quy định của UNCLOS.

Ngày 30.3.2020, Việt Nam đã lưu hành công hàm tại LHQ để bác bỏ các yêu sách của TQ, như đã được nêu trong nhiều văn bản gửi LHQ và các cơ quan quốc tế liên quan. Việt Nam cũng đã giao thiệp với TQ để khẳng định mạnh mẽ lập trường nhất quán của Việt Nam, bác bỏ quan điểm sai trái của TQ.

Ngày 10.4.2020, Việt Nam lưu hành công hàm để khẳng định lập trường trong vấn đề biển Đông với các nước liên quan khác. Ông Ngô Toàn Thắng khẳng định: Là quốc gia ven biển, Việt Nam được hưởng đầy đủ các vùng biển tại biển Đông được xác lập trên cơ sở UNCLOS; mọi yêu sách biển trái với quy định UNCLOS, xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các vùng biển của Việt Nam là không có giá trị. 

Đỗ Thiện thực hiện

***

Bẻ gãy luận điệu của Trung Quốc ở Liên Hợp Quốc – Bài 2

Biển Đông: Công hàm Phạm Văn Đồng dưới ánh sáng luật quốc tế

Pháp luật TP.HCM  11:33 | Thứ ba, 05/05/2020

Nguyên tắc của luật pháp quốc tế là không được phép suy diễn một cách chủ quan, mà phải tìm ý định thực sự của người viết và ký văn kiện trong phạm vi những câu chữ được dùng trong văn kiện.

Trong kỳ 1 với tựa đề “Hiểu đúng ý nghĩa công hàm Phạm Văn Đồng, PGS-TS Vũ Thanh Ca, nguyên Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế và khoa học công nghệ, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, đã lý giải hoàn cảnh ra đời và nội dung của hai văn kiện: (i) Tuyên bố về lãnh hải từ phía Trung Quốc (TQ); (ii) Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 liên quan Biển Đông.

Qua đó, PGS-TS Vũ Thanh Ca khẳng định: “Bản chất công hàm Phạm Văn Đồng (CHPVĐ) là một văn kiện ngoại giao đơn phương với mục đích rất đơn giản: Thể hiện sự đoàn kết với TQ chống lại Mỹ và các nước thuộc phe tư bản chủ nghĩa”.

Tính pháp lýcủa công hàm

– Phóng viên:Liên quan đến CHPVĐ (tên gọi được đăng trên báo Nhân Dân ngày 22.9.1958), luật pháp quốc tế quy định như thế nào về tính pháp lý của văn kiện ngoại giao?

+ PGS-TS Vũ Thanh Ca: Giá trị pháp lý của CHPVĐ không phụ thuộc vào việc gọi văn kiện này là công hàm hay công thư. Một nguyên tắc của luật pháp quốc tế là khi xem xét một văn kiện được ký kết, cần phải tìm hiểu ý định thực sự của người ký văn bản trong phạm vi các câu chữ của văn kiện. Đây chính là các nguyên tắc “trong bốn góc” và “cái đặc thù làm chủ cái tổng quát”.

Theo nguyên tắc này, không được phép suy diễn một cách chủ quan, mà phải tìm ý định thực sự của người viết và ký văn kiện trong phạm vi những câu chữ được dùng trong văn kiện (trong bốn góc của các trang giấy chứa văn kiện).

– Quy định đó áp dụng giải thích CHPVĐ như thế nào?

+ Có thể thấy CHPVĐ gồm hai đoạn, trong đó đoạn thứ nhất chỉ nói về việc ghi nhận và tán thành quyết định về hải phận của TQ. Cụ thể: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4.9.1958, của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của TQ”.

Trong đoạn thứ hai, văn kiện đã làm rõ hơn. Cụ thể: “Triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của TQ trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể”. Như vậy, cái đặc thù “12 hải lý trên mặt bể” đã làm rất rõ CHPVĐ chỉ nói về hải phận 12 hải lý của TQ chứ không nói vấn đề khác.

Dựa vào nội dung và bối cảnh ra đời (mà tôi đã phân tích trong kỳ 1 của loạt bài này), CHPVĐ đơn giản là một văn kiện ngoại giao đơn phương với từ ngữ rất khéo léo. Mục đích là để thể hiện sự ủng hộ của Chính phủ VNDCCH đối với tuyên bố về hải phận 12 hải lý của TQ nhưng tuyệt nhiên không thể hiện sự công nhận của phía Việt Nam đối với chủ quyền của TQ trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhiều học giả, luật sư về công pháp quốc tế trong và ngoài nước đồng ý với luận điểm này.

Hội nghị San Francisco đã chính thức công nhận việc QGVN khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cũng như thu hồi hai quần đảo này từ Nhật Bản. Trong ảnh: Thủ tướng Nhật Bản Yoshida Shigeru ký hòa ước San Francisco ngày 8.9.1951. Ảnh: GETTY

Việt Nam thực thi chủ quyền liên tục…

– Dù CHPVĐ không thừa nhận chủ quyền của TQ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nhưng lại không phản đối tuyên bố chủ quyền của TQ. Điều này có gây khó khăn cho việc khẳng định quá trình thực thi chủ quyền liên tục của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hay không?

+ Tôi khẳng định là hoàn toàn không! Ngày 2.9.1945, nước VNDCCH được thành lập, là một nhà nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và tuyên bố chủ quyền trên toàn lãnh thổ Việt Nam (bao gồm Trường Sa, Hoàng Sa).

Ngày 6.3.1946, Chính phủ VNDCCH ký với Pháp Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt 1946. Theo đó, VNDCCH là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương, nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Tuy nhiên, sau đó Pháp chủ trương không thực hiện một số thỏa thuận trong Hiệp định sơ bộ và Tạm ước Việt Pháp, trái lại còn cố ý gây chiến để tái xác lập chế độ thực dân trên lãnh thổ Việt Nam. Chiến tranh giữa hai bên xảy ra vào cuối năm 1946 và kéo dài tới giữa năm 1954.

Căn cứ vào Hiệp định sơ bộ, vì VNDCCH nằm trong khối Liên hiệp Pháp, trong thời gian từ cuối năm 1946 tới đầu 1947, Pháp đã thực thi quyền đại diện để bảo vệ chủ quyền của VNDCCH tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Từ cuối năm 1946, Pháp đã chủ trương thành lập một chính phủ khác trên đất Việt Nam để đối trọng VNDCCH. Ngày 5.6.1948, Hiệp ướcvịnh Hạ Long được ký kết và ngày 8-3-1949, với sự ký kết Hiệp định Élysée, Quốc gia Việt Nam (QGVN), một quốc gia độc lập thuộc Liên hiệp Pháp, được thành lập. Đến đầu năm 1950 đã có 35 quốc gia công nhận QGVN.

Pháp đã chính thức trao quyền quản lý toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cho QGVN. Tháng 4.1949, hoàng thân Nguyễn Phúc Bửu Lộc, Bộ trưởng Bộ Nội vụ QGVN, tuyên bố khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 10.1950, việc quản lý Hoàng Sa và Trường Sa được Pháp chính thức bàn giao cho QGVN.

Năm 1949, Pháp đã gửi đơn xin đăng ký các trạm khí tượng do Pháp xây dựng tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Tổ chức Khí tượng Thế giới và đã được chấp nhận. Các trạm khí tượng này là trạm Phú Lâm với số hiệu 48859; trạm Hoàng Sa với số hiệu 48860; trạm Ba Bình với số hiệu 48419.

… Và được thế giới công nhận

– Việc khẳng định chủ quyền ở Trường Sa, Hoàng Sa của QGVN được thế giới công nhận như thế nào, thưa ông?

+ Năm 1951, QGVN đã được mời tham dự Hội nghị San Francisco về chấm dứt chiến tranh tại châu Á – Thái Bình Dương và lập quan hệ với Nhật Bản thời hậu chiến. Hội nghị có 51 nước tham gia. Tại hội nghị, đại diện Liên Xô là ông Andrei Gromyko đã đề nghị trao hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho TQ. Đề nghị này đã bị hội nghị bác bỏ với 46 phiếu chống, ba phiếu thuận.

Tại hội nghị, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao QGVN Trần Văn Hữu tuyên bố: “Việt Nam rất là hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình này. Và cũng vì vậy cần phải thành thật lợi dụng tất cả cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”.

Tuyên bố này của Thủ tướng Trần Văn Hữu không bị quốc gia nào phản đối hay bảo lưu. Như vậy, Hội nghị San Francisco coi như đã chính thức công nhận việc QGVN khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cũng như thu hồi hai quần đảo này từ Nhật Bản.

– Phía TQ giai đoạn đó có lên tiếng phản đối tuyên bố của QGVN không?

+ Trong hòa ước giữa Trung Hoa Dân Quốc (THDQ) và Nhật Bản ngày 28.4.1952, THDQ ghi nhận việc Nhật Bản từ bỏ mọi quyền đối với hai quần đảo như nội dung đã được ghi trong văn kiện Hội nghị San Francisco nhưng không yêu cầu Nhật Bản giao lại hai quần đảo này. Việc này là bằng chứng góp phần cho thấy phía TQ đã gián tiếp thừa nhận tuyên bố chủ quyền của QGVN đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa tại Hội nghị San Francisco.

Như vậy, trong thời gian từ năm 1945 tới 1954, trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam có hai chính phủ của Việt Nam và hai chính phủ này đều có chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. VNDCCH là một thành viên thuộc khối Liên hiệp Pháp, được Pháp đại diện để thực thi chủ quyền; QGVN cũng là một thành viên thuộc khối Liên hiệp Pháp, được Pháp chuyển giao chủ quyền và đã khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo.

Tuyên bố của QGVN tại Hội nghị San Francisco không có nước nào phản đối và bảo lưu. Đó là bằng chứng cho thấy Việt Nam đã khẳng định chủ quyền rõ ràng và minh bạch và đã tiếp nhận hai quần đảo này từ Nhật Bản. Việc Việt Nam tiếp tục thực thi chủ quyền một cách liên tục từ giai đoạn 1954-1975 và cả giai đoạn sau đó, tôi sẽ trình bày trong kỳ sau.

. Xin cám ơn ông.

Giá trị công hàm phải đặt trong bối cảnh cụ thể

Công thư (công hàm – BTV) của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng là văn bản ngoại giao, nó có giá trị pháp lý về những vấn đề được nêu trong nội dung, đó là Việt Nam tôn trọng 12 hải lý mà TQ tuyên bố. Công thư không đề cập chủ quyền lãnh thổ, vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa nên đương nhiên nó không có giá trị pháp lý trong vấn đề chủ quyền Trường Sa, Hoàng Sa.

Thứ hai, giá trị công thư cũng phải đặt trong bối cảnh cụ thể. Công thư gửi cho TQ trong bối cảnh Hoàng Sa, Trường Sa đang thuộc quyền quản lý của Việt Nam Cộng hòa theo Hiệp định Genève 1954 mà TQ có tham gia. Do đó, tôi xin nói logic thông thường là bạn không thể cho người khác cái gì khi bạn chưa có được.

Ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới quốc gia, phát biểu trong cuộc họp báo quốc tế chiều 23.5.2014 (Theo TTO) 

Đỗ Thiện thực hiện

***

Bẻ gãy luận điệu Trung Quốc ở Liên Hợp Quốc – Bài cuối:

Biển Đông: Trung Quốc cố ý xuyên tạc công hàm Phạm Văn Đồng

Pháp luật TP.HCM  13:03 | Thứ tư, 06/05/2020 

Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 không làm ảnh hưởng quá trình thực thi chủ quyền liên tục của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong kỳ 2 – Công hàm Phạm Văn Đồng dưới ánh sáng luật quốc tế, PGS-TS Vũ Thanh Ca, nguyên Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế và khoa học công nghệ, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, kết luận: Phân tích theo luật pháp quốc tế, dựa vào nội dung và bối cảnh ra đời, có thể khẳng định công hàm Phạm Văn Đồng (CHPVĐ) không thể hiện sự công nhận của phía Việt Nam đối với chủ quyền của Trung Quốc (TQ) trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đồng thời, PGS-TS Vũ Thanh Ca cho biết Việt Nam không chỉ thực hiện chủ quyền liên tục ở Trường Sa và Hoàng Sa giai đoạn chiến tranh với Pháp (1946-1954), mà còn từ sau đó cho đến hiện nay.

Việt Nam thực thi chủ quyền liên tục 1954-1975…

– Phóng viên: Ngày 21.7.1954, Hiệp định Geneva được ký. Sự kiện này ảnh hưởng thế nào đến việc thực thi chủ quyền với Trường Sa, Hoàng Sa?

+ PGS-TS Vũ Thanh Ca: Theo Hiệp định Geneva, lãnh thổ Việt Nam tạm chia thành hai vùng: Miền Bắc do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) kiểm soát, miền Nam do Liên hiệp Pháp và các lực lượng thân Pháp, trong đó có Quốc gia Việt Nam (QGVN), kiểm soát. Ranh giới tạm thời là vĩ tuyến 17.

Năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm phế truất Quốc trưởng Bảo Đại và lên làm quốc trưởng của QGVN. Sau đó, QGVN đổi tên thành Việt Nam Cộng hòa (VNCH) do Ngô Đình Diệm làm tổng thống. Năm 1956, quân đội VNCH đã trú đóng ở phần phía tây quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Như vậy, vào năm 1958, chính VNCH (chứ không phải VNDCCH) là thực thể chính trị duy nhất thực sự thực thi chủ quyền với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Vậy nên, dù công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không thể hiện sự phản đối trực tiếp tuyên bố chủ quyền của TQ đối với hai quần đảo (vì VNDCCH không phải là thực thể chính trị thực thi chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) nhưng sự không phản đối đó không tạo ra bất cứ cơ sở pháp lý nào để nói rằng Việt Nam đã mặc nhiên công nhận chủ quyền của TQ.

– Xin ông giải thích rõ hơn về tính chính danh của VNCH trong việc thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa?

+ Theo Công ước Montevideo 1933 về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia, “một quốc gia là một chủ thể của luật quốc tế, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về: có dân cư ổn định, có lãnh thổ xác định, có chính phủ và có khả năng tham gia vào các quan hệ quốc tế” và “sự tồn tại về chính trị của các quốc gia độc lập với sự công nhận của các quốc gia khác”.

Giai đoạn 1954-1975, chiếu theo Công ước Montevideo 1933, trên lãnh thổ Việt Nam tồn tại hai thực thể chính trị với tư cách quốc gia: VNDCCH và VNCH. Vấn đề quan trọng nằm ở chỗ: Dù các nước có tuyên bố công nhận hay không công nhận tư cách quốc gia của VNDCCH hay VNCH thì điều đó cũng không làm ảnh hưởng tư cách quốc gia của họ. Như vậy, theo luật pháp quốc tế, VNCH hoàn toàn có tư cách quốc gia để thực thi chủ quyền với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, còn VNDCCH thì trong thời gian đó không có thẩm quyền với hai quần đảo này.

Như vậy, VNDCCH không nhất thiết phải tuyên bố phản đối tuyên bố chủ quyền của TQ năm 1958 và sự im lặng của VNDCCH trong thời gian này không làm yếu đi danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo.

… và từ 1975 cho đến nay

– Từ năm 1975 đã có sự thay đổi về chính quyền trên lãnh thổ Việt Nam. Việc thay đổi này có quan hệ thế nào với việc thực thi chủ quyền theo luật?

+ Công ước Montevideo 1933 quy định sự thay đổi chính quyền không làm thay đổi quốc gia. Theo quy định của tập quán quốc tế, đặc biệt là Hiến chương Liên Hợp Quốc (LHQ), việc lựa chọn một chính quyền để đại diện cho toàn thể nhân dân trên một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nào đó là quyền tự quyết của nhân dân sống trong quốc gia và vùng lãnh thổ đó. Khi trên một lãnh thổ quốc gia có một chính quyền bị thay thế bởi một chính quyền khác, chính quyền mới sẽ kế thừa các di sản của chính quyền trước đó, kể cả lãnh thổ, các hiệp ước, tư cách thành viên trong các tổ chức quốc tế, các khoản nợ…

Trung Quốc xuyên tạc lịch sử nhằm bảo vệ yêu sách chủ quyền phi pháp và những hành vi sai trái ở Biển Đông. Ảnh lớn: Tàu địa chất Hải dương 8 của Trung Quốc xâm phạm các vùng biển Việt Nam cuối năm 2019. Ảnh: SCHOTTEL Ảnh nhỏ: Yêu sách đường lưỡi bò phi pháp của Trung Quốc chiếm hơn 80% Biển Đông. Yêu sách này đã bị phán quyết của Tòa Trọng tài 2016 bác bỏ cơ sở pháp lý. Ảnh: CSIS

Cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam từ sau khi ra đời Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam vào năm 1960 và kết thúc bằng chiến thắng ngày 30.4.1975 và thành lập Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CHMNVN) thực chất là việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam trong việc lựa chọn chế độ chính trị theo đúng các quy định của luật pháp quốc tế. Sau 30.4.1975, CHMNVN đã thay thế VNCH và trở thành thể chế chính trị duy nhất đại diện cho nhân dân miền Nam.

Vì vậy, CHMNVN có quyền và trong thực tế đã kế thừa một cách hợp pháp chủ quyền của VNCH đối với hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa. Chính TQ cũng là một trong những quốc gia đầu tiên công nhận CHMNVN là đại diện duy nhất của nhân dân miền Nam Việt Nam. Do vậy, TQ cũng đã gián tiếp công nhận rằng theo luật pháp quốc tế, sau khi tiếp nhận sự đầu hàng của VNCH, CHMNVN đã chính thức kế thừa chủ quyền đối với hai quần đảo nói trên.

– Sự chuyển giao chủ quyền sang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (chính là Việt Nam ngày nay) thực hiện ra sao?

+ Năm 1976 đã diễn ra cuộc tổng tuyển cử, thống nhất đất nước Việt Nam. Toàn lãnh thổ Việt Nam chỉ còn một quốc gia với chính quyền duy nhất là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó cũng là dấu mốc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam kế thừa chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ CHMNVN (chứ không phải từ VNDCCH, vì thực thể chính trị này không có thẩm quyền và không được giao quản lý hai quần đảo.)

Như vậy, việc kế thừa chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được thực hiện theo đúng luật pháp quốc tế. Điều đó một lần nữa khẳng định rằng CHPVĐ 1958 không có giá trị pháp lý và không ảnh hưởng tới chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Mưu đồ của Trung Quốc

– Gần đây TQ liên tục đưa công hàm lên LHQ, trích dẫn CHPVĐ năm 1958 và cáo buộc Việt Nam vi phạm nguyên tắc Estoppel. Ông lý giải thế nào về điều này?

+ Tôi có thể khẳng định ngay Việt Nam không vi phạm nguyên tắc Estoppel. Estoppel là một nguyên tắc của luật pháp quốc tế, có nghĩa là một chủ thể luật pháp (người hoặc cơ quan, tổ chức, quốc gia) không được phép nói hoặc hành động ngược lại với những gì mình đã nói hoặc hành động trước đó.

Có nhiều học giả đã bàn luận về việc áp dụng nguyên tắc Estoppel cho trường hợp CHPVĐ. Đáng kể nhất là thảo luận của tiến sĩ-luật sư Từ Đặng Minh Thu. Theo đó, căn cứ vào thực tiễn quốc tế và các án lệ của các tòa án quốc tế, muốn chứng minh Việt Nam vi phạm nguyên tắc Estoppel thì phải chứng minh rằng CHPVĐ có ý định và nói rõ ràng rằng chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc TQ; và điều này phải được nói một cách liên tục và có hệ thống.

Tuy nhiên, như tôi đã phân tích ở hai kỳ trước, CHPVĐ ngoài việc ủng hộ quan điểm vùng lãnh hải rộng 12 hải lý thì hoàn toàn không đả động đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Thêm nữa, VNDCCH càng không nói một cách liên tục và có hệ thống rằng chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc TQ. Mặt khác, hai quần đảo này lúc đó thuộc VNCH quản lý, thế nên VNDCCH không có quyền có những tuyên bố về chủ quyền với hai quần đảo.

– TQ có mưu đồ gì khi năm lần bảy lượt đưa CHPVĐ lên LHQ?

+ TQ cố tình suy diễn CHPVĐ để tranh giành lợi thế, cố tình bẻ cong sự thật, bẻ cong pháp luật, kể cả Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 mà nước này cũng là thành viên. Tuy nhiên, phái đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ đã nhiều lần gửi công hàm, điển hình là Công hàm số A/72/692 ngày 30.1.2018 để phản đối TQ và nêu rõ lập trường của Việt Nam.

Giới quan sát trong và ngoài nước có nhiều bài viết về CHPVĐ. Hầu như tất cả bài viết đó đều dùng những lập luận của luật pháp quốc tế để làm rõ tính pháp lý của CHPVĐ, đồng thời chứng minh sự liên tục của chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, làm thất bại âm mưu của TQ.

Xin cám ơn ông.

Đỗ Thiện thực hiện

***

Biển Đông: Làm rõ 6 vấn đề về Công hàm Phạm Văn Đồng

 Pháp luật TP.HCM 10:52 | Thứ năm, 07/05/2020 

Công hàm Phạm Văn Đồng không thể được hiểu là một điều ước quốc tế hay thỏa thuận song phương có nội dung thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông.

LTS: Sau loạt bài “Bẻ gãy luận điệu Trung Quốc ở Liên Hợp Quốc” (từ ngày 4 đến 6.5), tòa soạn nhận được một số ý kiến liên quan về nội dung và tính pháp lý của công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958.

Phóng viên tiếp tục trao đổi với ông Hoàng Việt, chuyên gia luật biển quốc tế và Biển Đông (ĐH Luật TP.HCM), để góp phần giải đáp một số vấn đề bạn đọc quan tâm về văn kiện này.

Chuyên gia Hoàng Việt khẳng định công hàm Phạm Văn Đồng (CHPVĐ) không thể hiện sự công nhận của Việt Nam (VN) đối với tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc (TQ) ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

CHPVĐ không phải điều ước quốc tế

 Phóng viên:Có ý kiến cho rằng CHPVĐ là một văn bản pháp lý quốc tế thể hiện sự thỏa thuận giữa các bên và ràng buộc trách nhiệm của VN trong việc thừa nhận chủ quyền của TQ ở quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa. Theo ông thì ý kiến này có đúng không?

+ Chuyên gia Hoàng Việt: Cách hiểu này hoàn toàn sai. Trong luật quốc tế về hoạt động quan hệ quốc tế có quy định các loại văn bản pháp lý quốc tế để thể hiện các cam kết (promises) của các quốc gia với mức độ khác nhau. Trong số đó, các điều ước quốc tế (treaties) là loại văn bản có sự ràng buộc pháp lý cao nhất.

Chuyên gia Hoàng Việt.

Ngoài ra còn có loại văn bản gọi là tuyên bố đơn phương của một quốc gia. Theo nghiên cứu “Sự cam kết của các quốc gia theo luật quốc tế” của chuyên gia luật quốc tế Christian Eckart, tuyên bố đơn phương của một quốc gia được hiểu là sự thể hiện đơn phương ý chí của một quốc gia thông qua một biểu lộ sự ủng hộ nào đó đối với bên khác.

Vậy nên tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là tuyên bố đơn phương. Tuyên bố ấy nhằm tỏ ý ủng hộ một tuyên bố trước đó của Thủ tướng TQ Chu Ân Lai về chiều rộng của lãnh hải là 12 hải lý trong bối cảnh TQ và các nước đang tranh cãi về chiều rộng của lãnh hải.

CHPVĐ không phải “hợp đồng” giữa VN và TQ

– Có luật sư cho rằng tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng 1958 đồng nghĩa với việc VN đã tham gia một hợp đồng mà TQ đã soạn sẵn trước đó, tức là tuyên bố lãnh hải của phía TQ trước đó. Ông nhận xét sao về ý kiến này?

+ Không đúng. Tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ là một tuyên bố đơn phương nên không thể ví như VN đã tham gia một hợp đồng (với phía TQ). Ngay cả phía TQ cũng chỉ viện dẫn tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là một tuyên bố đơn phương mà thôi.

Hiểu đúng về “tuyên bố đơn phương”

– Có người cho là tuyên bố đơn phương của một nước có thể là nền tảng để nước đó thừa nhận hoặc phủ nhận một hệ quy chuẩn pháp luật quốc tế nhất định. Họ viện dẫn báo cáo Liên Hợp Quốc (LHQ) về các hành vi đơn phương trong quan hệ quốc tế do Rodriguez Cedeno thực hiện từ những năm 2000. Từ đó kết luận CHPVĐ vẫn làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý bắt buộc của VN trong việc thừa nhận tuyên bố chủ quyền mà TQ áp cho Trường Sa, Hoàng Sa. Ông nói gì về suy luận này?

+ Cách suy luận này cũng không chính xác. Báo cáo của Rodriguez Cedeno chỉ là một trong chín bản thảo của Ủy ban Luật quốc tế của LHQ (gọi tắt là ILC) về vấn đề này. Sau 10 năm soạn thảo với chín bản dự thảo, bản dự thảo cuối cùng và được xem là chính thức của ILC hoàn tất năm 2006 và trình lên LHQ với tên gọi “Bản hướng dẫn các nguyên tắc áp dụng cho các tuyên bố đơn phương của các quốc gia, có khả năng tạo ra các nghĩa vụ pháp lý, với các chú giải kèm theo”.

Bản hướng dẫn này gồm 10 nguyên tắc kèm theo các chú giải cụ thể. Trong nguyên tắc số 1, “Các tuyên bố được thực hiện một cách công khai và biểu lộ ý chí trong đó có thể có hệ quả là tạo ra các nghĩa vụ pháp lý. Khi thấy rằng đủ thỏa mãn các điều kiện theo yêu cầu, tính chất ràng buộc của mỗi một tuyên bố phải được dựa trên nguyên tắc thiện chí;…”.

Trong phần chú giải về nguyên tắc này, ILC đã viện dẫn án lệ theo phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) với một số vụ án. Theo đó, ICJ rất cẩn trọng khi xem xét các tuyên bố: “Tất cả phải dựa trên ý chí của quốc gia trong vấn đề đó”.

Quan trọng không kém, trong phần chú giải nguyên tắc số 7, ILC nói rõ rằng: “Trong phán quyết của các thẩm phán trong vụ thử vũ khí hạt nhân, ICJ nhấn mạnh rằng một tuyên bố đơn phương có thể có hậu quả là tạo ra nghĩa vụ pháp lý đối với quốc gia đưa ra tuyên bố đơn phương đó, chỉ khi tuyên bố đơn phương đó đề cập một cách rõ ràng với các quy định cụ thể”. Như vậy, việc suy diễn tuyên bố đơn phương của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 theo kiểu của TQ – VN Dân chủ Cộng hòa (DCCH) thừa nhận chủ quyền của TQ ở Trường Sa, Hoàng Sa – là sai.

Không thể chứng minh VNDCCH có ý chí trong việc thừa nhận toàn bộ nội dung trong tuyên bố của Thủ tướng TQ Chu Ân Lai, dẫn đến việc thể hiện ý chí ấy trong tuyên bố đơn phương 1958. Ngoài ra, tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không “đề cập một cách rõ ràng với các quy định cụ thể” vấn đề chủ quyền Trường Sa, Hoàng Sa.

Lực lượng hải quân Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền ở Trường Sa. Ảnh: TTXVN

Thẩm quyền của Thủ tướng Phạm Văn Đồng

– Nhiều chuyên gia pháp lý đồng thuận rằng chỉ có Quốc hội VN mới có thể đưa ra các quyết định cao nhất về chủ quyền lãnh thổ. Tuy nhiên, có người dựa vào Công ước Viên về luật điều ước quốc tế năm 1969 cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng có thẩm quyền khi xem xét CHPVĐ năm 1958. Ý kiến nào mới đúng, thưa ông?

+ Áp dụng Công ước Viên 1969 như vậy là sai. Thứ nhất, ngay trong Điều 1 của công ước này đã khẳng định: “Công ước này áp dụng cho các điều ước giữa các quốc gia”. Như vậy, tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 chỉ là tuyên bố đơn phương, không phải là một hiệp ước – đối tượng điều chỉnh của Công ước Viên.

Thứ hai, Điều 4 của công ước này cũng quy định: “…Công ước này chỉ áp dụng đối với các điều ước đã được ký kết giữa các quốc gia sau khi công ước này có hiệu lực đối với các quốc gia đó”. Tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng có vào năm 1958, còn Công ước Viên ký kết năm 1969, có hiệu lực năm 1980.

Do vậy, không thể tùy tiện viện dẫn Công ước Viên 1969 để giải thích tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Cẩn trọng cách TQ trích dẫn án lệ

– Một số người dẫn các án lệ quốc tế, qua đó cho rằng CHPVĐ mang lại lợi thế cho TQ nếu Bắc Kinh muốn kiện VN. Bằng quan sát và nghiên cứu của mình, ông thấy sao?

+ Thực tế, việc sử dụng các án lệ quốc tế để giải thích tính pháp lý của tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng 1958 là có thể được. Tuy nhiên, phải lưu ý rằng tranh chấp Biển Đông là một trong những tranh chấp phức tạp bậc nhất trên thế giới. Có thể nói là chưa có một án lệ nào hoàn toàn giống tranh chấp Biển Đông, cho nên việc viện dẫn án lệ quốc tế đòi hỏi sự xem xét đầy đủ và thận trọng.

Ngoài ra, án lệ được coi là một nguồn bổ trợ trong luật quốc tế. Về mặt lý thuyết, theo quy định tại Điều 59 Quy chế Tòa án Công lý quốc tế, các thẩm phán không bắt buộc phải tuân thủ các án lệ trước đó. Tuy vậy, đặc biệt là với các án lệ của ICJ, các thẩm phán luôn có xu hướng tôn trọng. Nhiều học giả cho rằng với những vấn đề mới phát sinh thì cần phải phát triển các án lệ sau thông qua những học thuyết pháp lý mới.

Đặc biệt, các án lệ thường rất dài, có khi hàng trăm trang. Phải hiểu được tinh thần của án lệ thì mới trích dẫn đúng. Tuy nhiên, tôi thấy một số người chỉ trích dẫn vài dòng theo kiểu cắt xén, mục đích là suy diễn, minh họa quan điểm của họ, bất chấp việc trích dẫn là sai tinh thần của án lệ đó. Điều này thường thấy ở các học giả phía TQ.

. Xin cám ơn ông.

“Hải phận” lúc trước chính là “lãnh hải” trong luật quốc tế hiện hành

– Trong CHPVĐ có đoạn “Chính phủ nước VNDCCH ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4.9.1958, của chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của TQ…”. Có người nói “hải phận” ở đây chính là toàn thể các vùng bao gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa. Theo ông, phải hiểu sao mới đúng?

+ Hiểu vậy là suy diễn tùy tiện. Do ngôn ngữ VN thay đổi theo thời gian nên có người đã thấy khó hiểu về từ “hải phận”. Tuy nhiên, từ “hải phận” nằm trong bản tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là để đáp lại tuyên bố phía TQ về chiều rộng lãnh hải của TQ là 12 hải lý mà phía TQ cũng gọi là hải phận. Hơn nữa, trong bản tuyên bố, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã giải thích cụ thể: “Hải phận của TQ là 12 hải lý”. Theo đó, từ “hải phận” khi ấy chính là “lãnh hải” được quy định trong luật pháp quốc tế hiện nay.

Đỗ Thiện thực hiện

***

Biển Đông: Học giả Mỹ lên tiếng về Công hàm Phạm Văn Đồng

 Pháp luật TP.HCM 10:50 | Thứ sáu, 08/05/2020 

Các học giả đều cho rằng Trung Quốc suy diễn nội dung Công hàm Phạm Văn Đồng không theo tinh thần luật pháp quốc tế.

i

Tương tự, Đại tá Raul Pedrozo, cựu cố vấn pháp lý thuộc Bộ tư lệnh Thái Bình Dương, Hải quân Mỹ, cũng nhận định TQ không đủ cơ sở để nói Việt Nam (VN) thừa nhận chủ quyền của Bắc Kinh đối với hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa.

Ý đồ xấu của Trung Quốc

Theo GS Ngô Vĩnh Long, bằng việc viện dẫn CHPVĐ, TQ có ý đồ bào chữa cho việc xâm chiếm Hoàng Sa và Trường Sa bằng vũ lực, cũng như việc đã và đang tiếp tục đe dọa và bành trướng trong Biển Đông. Thêm vào đó, có thể TQ muốn dùng thuyết “estoppel by acquiescence,” tức là nếu VN im lặng hay không phản đối thì có nghĩa VN đồng ý với những đòi hỏi của TQ.

“Tuy nhiên, VN đã liên tục phản đối những đòi hỏi của TQ và phản kháng các hành động trái phép của TQ ở Biển Đông. Một trong những văn bản bác bỏ một cách chi tiết những luận điệu của TQ là Công hàm số 22/HC-2020 ngày 30.3.2020 được VN gửi đến tổng thư ký Liên Hợp Quốc” – ông Long nói.

Giới học giả Mỹ bày tỏ sự ủng hộ đối với Việt Nam trong việc xác lập chủ quyền ở Biển Đông. Trong ảnh: Lính Mỹ trên tàu sân bay USS Carl Vinson tại Đà Nẵng ngày 5.3.2018. Ảnh: Reutres

Lý giải về nội dung CHPVĐ, GS Ngô Vĩnh Long cho rằng công hàm này không hề đề cập đến Hoàng Sa và Trường Sa, cũng không nói gì đến việc thừa nhận chủ quyền của TQ trên hai quần đảo này. Cụ thể, CHPVĐ viết rất rõ VN “ghi nhận và tán thành” quyết định về hải phận 12 hải lý mà TQ tuyên bố trước đó (tháng 9.1958). Từ “hải phận” trong bối cảnh này phải được hiểu là “lãnh hải”, chứ không phải các vùng biển bao gồm cả Trường Sa, Hoàng Sa như một số người nghĩ.

Cũng theo ông Long, CHPVĐ cũng không phải là một hiệp ước quốc tế mà đơn thuần chỉ là tuyên bố đơn phương. Tuyên bố này không có giá trị pháp lý khi xét trên phương diện quốc tế. Dựa vào các án lệ quốc tế và theo Hiến pháp năm 1946 của VN (vẫn còn hiệu lực vào năm 1958) thì một hiệp ước phải được sự chấp thuận của nhiều lãnh đạo gồm chủ tịch nước, phó chủ tịch và nội các (Điều 44). Ngoài ra, những hiệp ước liên quan đến các vấn đề quan trọng chủ quyền lãnh thổ thì phải được Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất, phê chuẩn thì mới có hiệu lực (Điều 22 và 23). Hiến pháp của VN Dân chủ Cộng hòa (DCCH) không cho phép thủ tướng đơn phương tuyên bố việc quyết định chủ quyền.

“Xét bối cảnh lịch sử cùng với quy định pháp luật VN giai đoạn 1958, chúng ta có thể thấy Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có ý định và cũng không thể phát ngôn thừa nhận Trường Sa, Hoàng sa là của TQ như luận điệu mà phía Bắc Kinh nói lâu nay” – GS Ngô Vĩnh Long kết luận.

Trung Quốc không có cơ sở nói Việt Nam từ bỏ chủ quyền

Cùng quan điểm với GS Ngô Vĩnh Long, Đại tá Raul Pedrozo cũng cho rằng CHPVĐ chỉ đơn giản là bày tỏ sự ủng hộ của VN với chủ trương mở rộng vùng lãnh hải (từ ba hải lý) ra 12 hải lý trong tuyên bố của TQ năm 1958. CHPVĐ không hề công nhận chủ quyền của TQ đối với hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa.

“VN Cộng hòa mới chính là quốc gia kiểm soát hợp pháp hai quần đảo nói trên giai đoạn 1958. Hiệp định Genève năm 1954 đã chia lãnh thổ VN thành hai phần với ranh giới là vĩ tuyến số 17 và dự kiến thống nhất thông qua bầu cử vào 20.7.1956. Cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vì thế đều chịu quyền quản lý của chính quyền miền Nam, chính là VN Cộng hòa” – ông Raul Pedrozo phân tích.

Dựa trên các bằng chứng lịch sử và pháp lý, Đại tá Raul Pedrozo kết luận: “VNDCCH thực tế không có chủ quyền và cũng không thể thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo nói trên. Thế nên VNDCCH không thể có tư cách pháp lý để tuyên bố từ bỏ chủ quyền lãnh thổ hay công nhận chủ quyền của TQ ở các quần đảo vào thời điểm Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi công hàm năm 1958. Nói cách khác, VNDCCH không có quyền gì để từ bỏ hay chuyển nhượng sang cho TQ cả”.

Cần nói thêm, tháng 8.2014, Đại tá Raul Pedrozo đã công bố một báo cáo với nhan đề “TQ và VN: Phân tích các yêu sách chủ quyền đối lập tại Biển Đông” trên Trung tâm Phân tích Hải quân Mỹ (CNA). Trong đó, ông Raul Pedrozo nhận định nhìn từ các thực tế lịch sử và pháp lý, các quốc gia khác có yêu sách ở Biển Đông (bao gồm TQ) không có cơ sở để cho rằng VN đã không thực thi quyền kiểm soát hữu hiệu đối với các đảo ở Biển Đông. Họ cũng không có bằng chứng để nói VN đã từ bỏ yêu sách chủ quyền đối với Trường Sa, Hoàng Sa.

Mặt khác, Đại tá Raul Pedrozo cũng khẳng định VN có yêu sách chủ quyền thuyết phục tại Hoàng Sa và Trường Sa thông qua các chứng cứ về mặt lịch sử lẫn pháp lý. Trái lại, sau khi VN đã xác lập chủ quyền hợp pháp và hữu hiệu hàng thế kỷ, TQ mới bắt đầu thể hiện ý định chiếm hữu hai quần đảo trên.

Việc TQ dùng vũ lực chiếm đảo Phú Lâm và đảo Ba Bình (năm 1956), toàn bộ Hoàng Sa (năm 1974) và một số thực thể khác tại Trường Sa (năm 1988) đã vi phạm khoản 4 Điều 2 Hiến chương Liên Hợp Quốc. Chính vì thế, theo ông Raul Pedrozo, TQ không thể tạo ra “danh nghĩa rõ ràng” ở cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Việt Nam không vi phạm nguyên tắc Estoppel

Cũng liên quan đến CHPVĐ, phía TQ cáo buộc VN vi phạm nguyên tắc Estoppel. Theo GS Ngô Vĩnh Long, hiểu nôm na Estoppel là sự “giao kèo,” tức là giao ước hay hợp đồng giữa hai bên hay nhiều bên với nhau. Mục đích của Estoppel là để ngăn ngừa việc các quốc gia có thái độ trước sau bất nhất để trục lợi, gây thiệt hại cho nước khác. Một trong những quy tắc Estoppel được dùng nhiều ở một số quốc gia là “promissory estoppel” (giao kèo bằng lời hứa).

Quan điểm của phía Bắc Kinh là CHPVĐ “đã hứa” công nhận chủ quyền của TQ đối với Trường Sa, Hoàng Sa nhưng hiện tại VN nói mình có chủ quyền đối với hai quần đảo này tức là VN đã “không giữ lời hứa”. Song lập trường của phía Bắc Kinh không có cơ sở pháp lý.

Theo GS Ngô Vĩnh Long, Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) trong phán quyết việc Úc và New Zealand kiện Pháp vụ thử hạt nhân nói rõ: Khi các quốc gia đưa ra lời tuyên bố hạn chế tự do hành động của mình thì phải giải thích cụ thể. Ngoài ra, khi xem xét nội dung của tuyên bố đơn phương thì phải “xem lời văn trong lời tuyên bố có biểu lộ một ý định rõ rệt không”.

“Đối với CHPVĐ, như đã phân tích, việc soi xét bối cảnh lịch sử và thẩm quyền phát ngôn cho thấy văn kiện này không hàm chứa một “lời hứa” nào về chủ quyền của hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. TQ cũng không thể dựa vào CHPVĐ để chứng minh Thủ tướng Phạm Văn Đồng có ý định “hứa” và lập giao kèo công nhận chủ quyền ở hai quần đảo với TQ” – GS Ngô Vĩnh Long kết luận.

Hiệp định Genève đã trao quyền quản lý hành chính Hoàng Sa và Trường Sa, đều ở phía nam vĩ tuyến 17, cho VN Cộng hòa. Chính quyền và Hải quân VN Cộng hòa đã mạnh mẽ xác nhận chủ quyền ở đó trước cộng đồng quốc tế. Thậm chí, phía VN Cộng hòa đã chiến đấu chống lại việc xâm chiếm bằng vũ lực của TQ tại Hoàng Sa năm 1974. Việc VN Cộng hòa có được các nước lên tiếng thừa nhận là một quốc gia hay không thì cũng không ảnh hưởng đến sự thật này.

Về mặt luật pháp quốc tế, theo Công ước Montevideo (năm 1933), cả VNDCCH và VN Cộng hòa giai đoạn 1958 đều là hai pháp nhân theo kiểu quốc gia độc lập. Bởi lẽ cả hai đều có dân sinh sống, vùng lãnh thổ được xác định, có chính quyền và có khả năng thiết lập quan hệ với các nước khác. Vậy nên, tuyên bố và thực thi chủ quyền của VN Cộng hòa với Trường Sa, Hoàng Sa là hữu hiệu.

GS Ngô Vĩnh Long, chuyên gia quan hệ quốc tế ĐH Maine (Mỹ)

Việt Nam đã bắt đầu việc thực thi kiểm soát chủ quyền đối với các đảo ở Biển Đông từ những năm 1950, khi nước Pháp bắt đầu rút quân khỏi Đông Dương theo lộ trình. Ngày 14.10.1950, Pháp chính thức chuyển giao quyền bảo vệ Hoàng Sa cho quân đội Việt Nam. Một năm sau, Thủ tướng Trần Văn Hữu tại Hội nghị Hòa bình San Francisco tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Không ai trong số 51 quốc gia dự hội nghị lên tiếng phản đối tuyên bố trên. Ngoài ra, cũng không có bằng chứng cho thấy Trung Hoa Dân Quốc đã từng phản đối tuyên bố trên. Vào giai đoạn đó, Trung Hoa Dân Quốc là đại diện của TQ tại Liên Hợp Quốc.

Đại tá Raul Pedrozo, cựu cố vấn pháp lý thuộc Bộ tư lệnh Thái Bình Dương, Hải quân Mỹ

Đỗ Thiện

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s