VIỆT NAM CẦN LÀM GÌ ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC KHÁT VỌNG TĂNG TRƯỞNG LÂU DÀI?

English: What will it take to achieve Vietnam’s long-term growth aspirations?

COVID-19 đã làm gián đoạn hành trình của đất nước là trở thành một nền kinh tế tăng trưởng cao, tuy nhiên những điều chỉnh cơ cấu phù hợp có thể đưa nền kinh tế trở lại quỹ đạo.

Với một lượng ca nhiễm và tử vong do Covid 19 tương đối ít được ghi nhận đến nay, Việt Nam hiện đang có cơ hội và bắt buộc phải xem xét về khát vọng kinh tế dài hạn hơn, thậm chí giống như một quốc gia chịu trách nhiệm chống lại vi-rút. Thành công lâu dài sẽ đòi hỏi các nhà lãnh đạo Việt Nam phải tập trung vào vấn đề và cơ hội đã có từ lâu trước khi có đại dịch

Viện khoa học Xã hội Việt Nam, thành công sẽ đòi hỏi mức tăng trưởng hàng năm từ 7,0-7,5 % từ năm 2021 đến năm 2030, đây một bước tiến lớn so với mức 6,3 % trung bình của Việt Nam trong mười năm trước năm 2018

Cũng trong năm đó, nghiên cứu của McKinsey  đã chỉ ra rằng Việt Nam gần đây là một trong 11 quốc gia hoạt động tốt nhất trên thế giới nhờ vào GDP bình quân đầu người tăng hơn 5 % mỗi năm trong vòng 20 năm, bên cạnh đó là sự nỗ lực thành công để đưa người dân thoát khỏi đói nghèo với một tỷ lệ đáng kể. Việt Nam có nhiều yếu tố để tiếp tục vượt trội hơn nữa, ví dụ như tăng thu nhập khả dụng, tiếp tục đầu tư vào các chương trình cơ sở hạ tầng, và một môi trường kinh doanh hấp dẫn. Những điều chỉnh trong bốn lĩnh vực lớn trên có thể giúp Việt Nam có được vào quỹ đạo tăng trưởng cần thiết.

1. Ở vị trí là một điểm đến ưu việt cho quốc tế

Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp dẫn cho các ngành công nghiệp sản xuất nước ngoài và du lịch trước COVID-19. Ngay cả khi quốc gia này giải quyết được chủng virus mới, thì mức độ ghi nhận các ca nhiễm bệnh và tử vong thấp cho thấy hệ thống của Việt Nam có thể xác định và quản lý dịch sự bùng phát của dịch bệnh

Với vị trí như vậy Việt Nam cho thấy quốc gia có thế tiếp tục mở cửa lại với du lịch quốc tế. Sau đó, Việt nam có thể chuyển sự chú ý sang việc quảng bá đất nước như một điểm đến ở châu Á, nơi mà những người đến sớm nhất có thể đến từ khi các quốc gia mở cửa biên giới. Trong khi đó, các hoạt động du lịch và khách sạn sẽ cần phải sử dụng cơ hội để đa dạng hóa cả sản phẩm du lịch và phân khúc thị trường. Du lịch trong nước có thể được thúc đẩy để thử nghiệm các dịch vụ mới, nhưng có thể sẽ cần giảm giá vì liên quan đến mức chi tiêu địa phương tương đối thấp.

Việc tái thu hút và thúc đẩy đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực sản xuất cũng  rất quan trọng để thúc đẩy con đường tăng trưởng cao hơn của Việt Nam. Trong phần trước của bài phân tích, chúng tôi đã thảo luận về cách mà Việt Nam có được vị trí tốt để tiếp tục thu hút FDI, đặc biệt là khi các nhà sản xuất tìm cách củng cố và đa dạng hóa chuỗi cung ứng của họ để đối phó với những yếu kém mà đại dịch đang bộc lộ.

2.  Đầu tư vào giáo dục và cơ sở hạ tầng để thúc đẩy sản xuất

Để duy trì tăng trưởng lâu dài, việc thay đổi một số cơ cấu cũng có thể cần xem xét. Ba yếu tố thúc đẩy rất cần thiết đó là: giáo dục, năng suất lao động và cơ sở hạ tầng. Về giáo dục, Việt Nam có thể tận dụng những thế mạnh vượt trội của mình: một nghiên cứu năm 2017 của  McKinsey về các yếu tố thúc đẩy kết quả học tập của học sinh đã cho thấy Việt Nam là một trong những quốc gia có thành tích học tập cao ở Châu Á. Ví dụ tỷ lệ nhập học ở tất cả các cấp trong 20 năm qua tại Việt Nam tăng một các đáng kể. Tỷ lệ tuyển sinh ở bậc Tiểu học hầu như đã được phổ cập, trong số các quốc gia có thành tích cao ở Châu Á, Việt Nam chỉ xếp sau Nhật Bản, và cao hơn Hàn Quốc và Hồng Kông. Các sáng kiến giáo dục có thế tập trung vào việc phát triển các kỹ năng nhận thức, hành vi và kỹ năng thực hành  và thúc đẩy các trường dạy nghề.

Đầu tư vào giáo dục có thể nâng cao trình độ kỹ năng trong lực lượng lao động như là một phần của các sáng kiến nhằm tăng năng suất, điểm được cho là bị tụt hậu so với các nước trong khu vực mà có mức tăng trưởng cao, mặc dù Việt Nam có tăng trưởng kinh tế tích cực (Hình 2) và khả năng cạnh tranh liên tục về chi phí lao động. Lực lượng lao động tay nghề cao hơn có thế thu hút các nhà sản xuất khám phá nền công nghiệp với công nghệ 4.0 và giúp đưa đất nước đi lên trong chuỗi giá trị  chuyển sang các các lĩnh vực có năng suất và thu nhập cao hơn. Một cuộc khảo sát gần đây của McKinsey cho thấy các công ty Việt Nam là nhóm có sự sẵn sàng cao nhất triển khai Công nghiệp 4.0, tuy nhiên mức độ áp dụng vẫn còn thấp. Cần có sự nỗ lực phối hợp giữa nhà nước, tư nhân và các chuyên gia để biến dự định thành hiện thực.

Đối với cơ sở hạ tầng, đầu tư để tái phát triển  có thể được mở rộng. Các cảng đang phải hoạt động hết công suất. Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội cần đầu tư đáng kể cho đường bộ và sân bay. Nhưng nợ công đang chiếm khoảng 60% GDP so với 52%  ở Malaysia, 40% ở Philippin, và khoảng 30% ở Indonesia và hình dung giống như một cho một rào cản tiềm năng để tái phát triển. Khuôn khổ hợp tác Nhà nước- Tư Nhân đã được đơn giản hóa trong năm 2020, nhưng vẫn cần tiếp tục nỗ lực để khoảng cách cơ sở hạ tầng được thu hẹp

3. Tiếp tục tập trung vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ và khu vực phi chính thức

Vượt ra khỏi sản xuất và du lịch, Việt Nam có thể tập trung vào việc thúc đẩy khả năng cạnh tranh của các lĩnh vực chiến lược khác trong nước bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp vừa và nhỏ và các công ty khởi nghiệp để tăng khả năng phục hồi quốc gia. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ và khu vực phi chính thức cùng nhau tạo nên một mức độ cầu cần thiết quan trong trong nước  và  cần được tiếp tục hỗ trợ, đặc biệt là trong ngắn hạn khi tăng trưởng và thu nhập vẫn còn duy trì ở mức thấp. Tích hợp về tài chính có thể được ưu tiên và hệ thống ngân hàng được tăng cường, với trọng tâm là khiến nhiều ngân hàng hơn tuân thủ quy định quốc tế Basel dành cho ngân hàng.

Quốc gia cũng không thể nào lờ đi một yết tố lớn kém hiệu quả thúc đẩy tăng trường: đó là CÁC DOANH NGHIỆP VỐN NHÀ NƯỚC CHIẾM 1/3 GDP nhưng tăng trưởng chậm hơn nhiều so với các công ty khác. Từ năm 2001, trong khi Việt Nam đã giảm hơn 90% lượng doanh nghiệp vốn sở hữu hoàn toàn nhà nước , nhưng chặng đường vẫn còn quá dài để hoàn thành do những nỗ lực này vẫn chưa làm cho khu vực doanh nghiệp nhà nước trở nên gọn gàng hơn (Hình 3). Cổ phần hóa có mục tiêu, thoái vốn bền vững và các chương trình chuyển đổi có thể được coi  là làm cho các doanh nghiệp nhà nước cạnh tranh trong nước và thậm chí cạnh tranh hơn trong giai đoạn  toàn cầu hóa.

Ngoài ra, quốc gia  có thể khai thác tiềm năng đáng kể chưa được thực hiện của hệ sinh thái khởi nghiệp. Năm 2019, 741 triệu đô la đã được đầu tư vào các công ty khởi nghiệp tại Việt Nam, so với 2,38 tỷ đô la của Indonesia. Thật ngạc nhiên khi Việt Nam chỉ tạo ra một kỳ lân, so với sáu kỳ lân ở Indonesia. Một nỗ lực toàn diện hơn trong hệ sinh thái có thể xóa bỏ các giới hạn cấu trúc đối với hoạt động kinh doanh tư nhân, cung cấp tài chính cho các dự án tiềm năng cao và cung cấp các cấu trúc ươm mầm  tạo đất cho các doanh nghiệp tăng trưởng cao.

 

4. Khám phá năng lượng tái tạo để tăng trưởng ít carbon hơn

Là một động lực chính về nhu cầu năng lượng mới và là một quốc gia có khả năng bị ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu, Việt Nam có thể đẩy nhanh hành trình hướng tới một tương lai ít sử dụng các-bon hơn. Một kế hoạch mới mang tính quốc gia báo hiệu một nỗ lực đáng kể để thúc đẩy quá trình chuyển đổi này. Theo đề xuất mới nhất, than đá dự kiến ​​sẽ chiếm khoảng 37% sản lượng năng lượng vào năm 2025, thay vì một nửa như kế hoạch trước đây. Năng lượng tái tạo sẽ tăng lên khoảng 25% trong hỗn hợp năng lượng, tăng từ 13% trong kế hoạch trước.

Đề xuất này thể hiện sự thu hẹp đáng kể các kế hoạch phát triển các nhà máy than, vốn đang chịu nhiều áp lực và phải đối mặt với những thách thức về tài chính trong những năm gần đây. Để hiểu chính xác những gì sẽ cần để tích hợp năng lượng tái tạo, Việt Nam cũng có thể xem xét các cơ hội khuyến khích đầu tư vốn mới đáng kể thông qua các biện pháp khuyến khích mạnh mẽ và tiến hành đánh giá khả năng lưới điện chi tiết cho một thế hệ tài sản năng lượng mới.

Nhìn về phía trước khi đại dịch dần ổn định và thương mại toàn cầu gia tăng, các điều chỉnh cơ cấu được đề xuất có thể tái thiết lập các lĩnh vực xuất khẩu quan trọng của Việt Nam và đặt mục tiêu chuyển đổi trở lại trong tầm tay. Với những phản ứng phù hợp sau COVID-19 mở đường cho sự phục hồi kinh tế, những điều chỉnh cho nền kinh tế Việt Nam có thể đi một chặng đường dài hướng tới hiện thực hóa một tương lai là một quốc gia có hiệu suất cao.

Đây là bài thứ hai trong số hai bài báo McKinsey phân tích tác động tức thời của Covid 19 đối với nền kinh tế Việt Nam và xác định những thách thức lâu dài có thể giải quyết để hiện thực hóa tiềm năng của quốc gia.

Nguyễn Mai Quỳnh chuyển ngữ

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s