Giải pháp phát triển bền vững ngành Chè

cssk – 24/09/2020 – 10:36 AM

Việt Nam hiện đứng thứ 5 trên thế giới về xuất khẩu chè, đứng thứ 7 về sản xuất chè toàn cầu. Sản phẩm chè của Việt Nam hiện đã được xuất sang 74 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, theo đánh giá, khoảng 90% sản lượng chè của nước ta xuất khẩu ở dạng thô, giá bán thấp và được tiêu thụ dưới thương hiệu của các nhà nhập khẩu. Cùng với đó, hoạt động sản xuất chè còn nhiều hạn chế bất cập… Do vậy, để nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển bền vững, ngành Chè đang áp dụng và triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm đổi mới quy trình sản xuất, chế biến, nâng cao giá trị xuất khẩu, hạn chế những bất cập, từng bước xây dựng thương hiệu chè Việt trên thế giới.

Giải pháp phát triển bền vững ngành Chè
Ảnh minh họa: Nguồn internet

Tiếp tục đọc “Giải pháp phát triển bền vững ngành Chè”

Hai tuần cấp phép một sân golf

11/04/2021 08:50 GMT+7

TTOChỉ trong vòng 2 năm gần đây, VN có thêm 35 sân golf, nâng tổng số sân golf cả nước lên 75 sân. Các địa phương đang đua nhau làm sân golf nên hàng trăm sân golf khác dự kiến sẽ hoạt động trong những năm tới.

Hai tuần cấp phép một sân golf - Ảnh 1.

Ảnh: QUANG ĐỊNH

Theo các chuyên gia, đang có tình trạng các chủ dự án lợi dụng việc cho phép sử dụng 10% tổng diện tích đất sân golf xây dựng các công trình phục vụ hoạt động sân golf để xây khách sạn, biệt thự nghỉ dưỡng phục vụ mục đích kinh doanh trái phép.

Tiếp tục đọc “Hai tuần cấp phép một sân golf”

Tổ chức ngầm thao túng thị trường thực phẩm toàn cầu

antg – 22:48 01/10/2019

Năm 2018, chính phủ Ấn Độ đã từng phải nhượng bộ các công ty thực phẩm lớn và hoãn quyết định cho dán nhãn cảnh báo đỏ lên các bao bì thực phẩm có hại cho sức khỏe người tiêu dùng.

Đồng thời, để xoa dịu dư luận chỉ trích hành động trên, chính phủ Ấn Độ cũng thành lập một ủy ban thẩm định hệ thống dán nhãn cảnh báo thực phẩm đang trong giai đoạn đề xuất. Nếu hoàn thiện và đưa vào vận hành hệ thống dán nhãn này, Ấn Độ sẽ trở thành quốc gia đi đầu thế giới trong cuộc chiến chống béo phì đang diễn ra hết sức cam go.

Nhưng người được chọn làm lãnh đạo ủy ban (có 3 thành viên) này lại là một người khiến dư luận càng bất bình nhiều hơn. Đó là tiến sĩ Boindala Sesikeran, một chuyên gia dinh dưỡng kỳ cựu từng làm cố vấn dinh dưỡng cho tập đoàn Nestlé.

Tiếp tục đọc “Tổ chức ngầm thao túng thị trường thực phẩm toàn cầu”

Trả lại bãi biển cho cộng đồng: còn rất nhiều việc phải làm!

Chuyên đề ‘Đô thị đặc thù – Tiến biển bằng đô thị’:

Người đô thị –  12:25 | Thứ năm, 15/04/2021 

Gần đây, nhiều địa phương như Nha Trang, Đà Nẵng, Vũng Tàu, các chính quyền đã có những động thái thu hồi các dự án hết thời hạn thuê đất, các dự án treo để giành lại các bãi biển cho cộng đồng, tăng cường các không gian công cộng (KGCC) cho cư dân đô thị và du khách. Đây là những nỗ lực đáng được ghi nhận, thể hiện sự lắng nghe phản ứng của dư luận và tiếng nói của người dân, dẫn đến sự điều chỉnh xu hướng trong tiến trình dẫn dắt phát triển của các chính quyền địa phương.

Nhưng, dường như đây mới chỉ là những điểm sáng nhỏ, chưa đủ để trở thành một xu hướng đảo ngược: đòi lại bờ biển cho KGCC…

Người dân bản địa Phú Quốc từng bức xúc vì bị các khu du lịch hạn chế tiếp cận bãi biển. Ảnh: T.M

Tiếp tục đọc “Trả lại bãi biển cho cộng đồng: còn rất nhiều việc phải làm!”

“Sạt lở mỹ quan” và đô thị “xấu hóa”

 nguoidothi – 20:39 | Thứ hai, 12/04/2021 Sự cố sửa chữa làm tan nát nhà nguyện của tu viện cổ Franciscaines ở Đà Lạt mới đây (9.3), một lần nữa gióng lên tiếng chuông báo động “sạt lở di sản trong lòng đô thị” (*). Tuy nhiên, trong khi các di sản kiến trúc hay, đẹp bị xóa bỏ hoặc hư hao không ngừng thì cùng lúc không ít các công trình xây dựng mới gây tổn hại mỹ quan chung, vẫn liên tục ra đời.

Hiện trường tu viện Franciscaines khi tháo dỡ. Ảnh: Lâm Viên/Báo Thanh niên

Nhiều cao ốc “lạ lùng” đã và đang xuất hiện dày đặc, làm biến đổi khung cảnh các khu phố từng làm nên hồn cốt các đô thị. Những năm gần đây, nhiều tòa nhà công cộng, tượng đài, công viên và ngay cả cầu đường có kiểu dáng kệch cỡm hay màu sắc dị dạng đã gây “bão dư luận” trong cư dân tại chỗ và với cả du khách.

Tiếp tục đọc ““Sạt lở mỹ quan” và đô thị “xấu hóa””

Làn sóng bác sĩ bệnh viện công “dứt áo ra đi” nhìn từ Bệnh viện Bạch Mai

baodautuD.Ngân – 14/04/2021 09:47

 Theo lý giải của lãnh đạo Bệnh viện Bạch Mai việc 221 người lao động của Bệnh viện xin nghỉ việc, chuyển việc trong một thời gian ngắn là điều bình thường.

Ông Nguyễn Quang Tuấn, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai khẳng định, từ năm 2020 đến nay có 221 bác sĩ, nhân viên y tế của Bệnh viện xin nghỉ việc, chuyển việc. Và để bù vào đơn vị đã tuyển dụng hơn 500 cán bộ y tế… chất lượng cao!

Theo lý giải của lãnh đạo Bệnh viện Bạch Mai việc 221 bác sĩ của bệnh viện xin nghỉ việc, chuyển việc trong một thời gian ngắn là điều bình thường
Tiếp tục đọc “Làn sóng bác sĩ bệnh viện công “dứt áo ra đi” nhìn từ Bệnh viện Bạch Mai”

Global Trend 2040

Read and download report > >

FOREWORD

Welcome to the 7th edition of the National Intelligence Council’s Global Trends report. Published every four years since 1997, Global Trends assesses the key trends and uncertainties that will shape the strategic environment for the United States during the next two decades.

Global Trends is designed to provide an analytic framework for policymakers early in each administration as they craft national security strategy and navigate an uncertain future. The goal is not to offer a specific prediction of the world in 2040; instead, our intent is to help policymakers and citizens see what may lie beyond the horizon and prepare for an array of possible futures.

Each edition of Global Trends is a unique undertaking, as its authors on the National Intelligence Council develop a methodology and formulate the analysis. This process involved numerous steps: examining and evaluating previous editions of Global Trends for lessons learned; research and discovery involving widespread consultations, data collection, and commissioned research; synthesizing, outlining, and drafting; and soliciting internal and external feedback to revise and sharpen the analysis.

A central component of the project has been our conversations with the world outside our security gates. We benefited greatly from ongoing conversations with esteemed academics and researchers across a range of disciplines, anchoring our study in the latest theories and data. We also broadened our contacts to hear diverse perspectives, ranging from high school students in Washington DC, to civil society organizations in Africa, to business leaders in Asia, to foresight practitioners in Europe and Asia, to environmental groups in South America. These discussions offered us new ideas and expertise, challenged our assumptions, and helped us to identify and understand our biases and blind spots.

One of the key challenges with a project of this breadth and magnitude is how to organize all the analysis into a story that is coherent, integrated, and forward looking. We constructed this report around two central organizing principles: identifying and assessing broad forces that are shaping the future strategic environment, and then exploring how populations and leaders will act on and respond to the forces.

Based on those organizing principles, we built the analysis in three general sections. First, we explore structural forces in four core areas: demographics, environment, economics, and technology. We selected these areas because they are foundational in shaping future dynamics and relatively universal in scope, and because we can offer projections with a
reasonable degree of confidence based on available data and evidence. The second section examines how these structural forces interact and intersect with other factors to affect emerging dynamics at three levels of analysis: individuals and society, states, and the international system. The analysis in this section involves a higher degree of uncertainty because of the variability of human choices that will be made in the future. We focus on identifying and describing the key emerging dynamics at each level, including what is driving them and how they might evolve over time. Finally, the third section identifies several key uncertainties and uses these to create five future scenarios for the world in 2040. These scenarios are not intended to be predictions but to widen the aperture as to the possibilities, exploring various combinations of how the structural forces, emerging dynamics, and key uncertainties could play out.
When exploring the long-term future, another challenge is choosing which issues to cover and emphasize, and which ones to leave out. We focused on global, long-term trends and dynamics that are likely to shape communities, states, and the international system for decades and to present them in a broader context. Accordingly, there is less on other nearterm issues and crises.

We offer this analysis with humility, knowing that invariably the future will unfold in ways that we have not foreseen. Although Global Trends is necessarily more speculative than most intelligence assessments, we rely on the fundamentals of our analytic tradecraft: we construct arguments that are grounded in data and appropriately caveated; we show our work and explain what we know and do not know; we consider alternative hypotheses and how we could be wrong; and we do not advocate policy positions or preferences. Global Trends reflects the National Intelligence Council’s perspective on these future trends; it does not represent the official, coordinated view of the US Intelligence Community nor US policy.

We are proud to publish this report publicly for audiences around the world to read and consider. We hope that it serves as a useful resource and provokes a conversation about our collective future.

Finally, a note of gratitude to colleagues on the National Intelligence Council and the wider Intelligence Community who joined in this journey to understand our world, explore the future, and draft this report.

The Strategic Futures Group
National Intelligence Council
March 2021

Nhức nhối thế độc quyền của thị trường sản xuất thức ăn chăn nuôi

Báo Đầu tưHà Tâm – 11/03/2015 08:01

 Không chỉ thâu tóm gần 70% thị phần thức ăn chăn nuôi với giá cao hơn 20% so với khu vực, các doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn thống trị cả ngành chăn nuôi với mô hình khép kín. Làm thế nào để phá thế độc quyền của các DN này đang là mối quan tâm hàng đầu của DN nội và cơ quan quản lý.

Nhức nhối thế độc quyền của thị trường sản xuất thức ăn chăn nuôi
Phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu, nên doanh nghiệp nội chưa thể lấy lại thị phần trong một sớm, một chiều

Số liệu từ Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi cho thấy, hiện cả nước có 239 nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi, trong đó 180 nhà máy là của các doanh nghiệp trong nước, 59 là của các liên doanh và DN FDI. Số nhà máy liên doanh và FDI không nhiều, song công suất lớn, sản lượng cao, chiếm thị phần lớn hơn nhiều so với DN trong nước. Chỉ tính riêng hai công ty là CP và Cargill đã chiếm gần 30% thị phần thức ăn chăn nuôi.

Tiếp tục đọc “Nhức nhối thế độc quyền của thị trường sản xuất thức ăn chăn nuôi”

Giáo dục dành cho học sinh dân tộc thiểu số: thách thức và cơ hội trong đại dịch COVID-19

Unicef.org – 11 Tháng 5 2020 – Rana Flowers, Trưởng Đại diện UNICEF tại Việt Nam

Khi Việt Nam sắp dần mở cửa lại trường học, tôi rất muốn tìm hiểu về công tác chuẩn bị của các nhà trường để đảm bảo an toàn cũng như sẵn sàng chào đón học sinh quay lại trường. Chặng đường lái xe lên huyện Sapa cảnh sắc thật hùng vĩ. Từ mọi góc độ, vẻ đẹp của đất nước Việt Nam hiện lên thật rực rỡ.

Khi Việt Nam sắp dần mở cửa lại trường học, tôi rất muốn tìm hiểu về công tác chuẩn bị của các nhà trường để đảm bảo an toàn cũng như sẵn sàng chào đón học sinh quay lại trường.
UNICEF Việt Nam\Trương Việt Hùng

  • Ngôn ngữ tài liệu bằng: English, Tiếng Việt

Chúng tôi dừng chân tại ngôi trường nhỏ nằm ở chân ngọn núi Phan-Xi-Păng. Cổng trường rộng mở chào đón chúng tôi, nhưng lần này thiếu vắng nụ cười, khuôn mặt rạng rỡ và tiếng hò reo của học sinh. Tôi muốn đến thăm Lào Cai vì ngành giáo dục và các thầy cô giáo nơi đây luôn mong mỏi đổi mới sáng tạo, thúc đẩy hơn nữa các tiến bộ trong công tác dạy và học trong nhà trường.
Tiếp tục đọc “Giáo dục dành cho học sinh dân tộc thiểu số: thách thức và cơ hội trong đại dịch COVID-19”

Lãng phí ngàn tỷ, xóa sổ cơ hội đầu tư ở khu công nghiệp – 4 bài

***

Lãng phí ngàn tỷ, xóa sổ cơ hội đầu tư ở khu công nghiệp – Bài 1: Phải ngừng thu hút đầu tư vì tiền thuê đất chưa tính được

Ngô Nguyên – 27/03/2021 09:40

 Khu công nghiệp Hiệp Phước phải ngưng thu hút đầu tư trên diện tích 200 ha vì cơ quan chức năng chưa duyệt hình thức thuê đất thay đổi, chưa xác định được giá đất nhà nước đối với KCN

Nhiều khu công nghiệp liên tiếp được cấp phép và mở rộng để đón sẵn cơ hội từ làn sóng dịch chuyển vốn đầu tư toàn cầu. TP.HCM luôn là địa chỉ đỏ để nhà đầu tư cập bến, song do những vướng víu trong quản lý đất đai, cùng mâu thuẫn trong quy định pháp lý, nhiều khu công nghiệp tại TP.HCM đang “đứng hình”, chủ đầu tư không thể kêu gọi đầu tư, doanh nghiệp thuê đất bị tê liệt sản xuất. Đây là sự lãng phí rất lớn cơ hội để gia tăng sức mạnh của nền kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực tới hình ảnh môi trường đầu tư – kinh doanh của Việt Nam.

 KCN Hiệp Phước giai đoạn II còn gần 200 ha đất đã đầu tư hạ tầng, có thể thu hút đầu tư 	ảnh: lê toàn
KCN Hiệp Phước giai đoạn II còn gần 200 ha đất đã đầu tư hạ tầng, có thể thu hút đầu tư.   Ảnh: Lê Toàn

Tiếp tục đọc “Lãng phí ngàn tỷ, xóa sổ cơ hội đầu tư ở khu công nghiệp – 4 bài”

Gần 80% bãi chôn lấp rác thải không hợp vệ sinh

Báo Đầu tưAn Nguyên – 13/04/2021 09:10

 Vẫn còn 6,3% khối lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị và 17% khối lượng chất thải rắn sinh hoạt nông thôn không được thu gom và bị thải bỏ ra môi trường xung quanh.

.
Theo đánh giá của Chính phủ, rác thải sinh hoạt đô thị, nông thôn chưa được phân loại, thu gom, xử lý hiệu quả, gây ô nhiễm môi trường, mất vệ sinh.

Hiện nay, khoảng 70% khối lượng chất thải rắn sinh hoạt được thu gom được xử lý bằng phương pháp chôn lấp với khối lượng khoảng 35.000 tấn/ngày nhưng chỉ có khoảng 20% trong số các bãi chôn lấp là bãi chôn lấp hợp vệ sinh, còn lại là các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh hoặc các bãi tập kết chất thải cấp xã.

Đó là thực tế được nêu tại báo cáo vê công tác bảo vệ môi trường năm 2020 của Chính phủ gửi đến các vị đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 11 vừa qua.

Tiếp tục đọc “Gần 80% bãi chôn lấp rác thải không hợp vệ sinh”

Xuất khẩu gạo: Nên vận hành theo cơ chế thị trường

Đài phát thanh và truyền hình Long An – 21/04/2020 lúc 10:44

Theo các chuyên gia, để việc xuất khẩu gạo đạt được hiệu quả thì nên vận hành theo cơ chế thị trường và sử dụng nhiều công cụ như đánh thuế xuất khẩu gạo. 

Xuất khẩu gạo Việt Nam sang thị trường châu Phi tiếp tục tăng | Kinh doanh  | Vietnam+ (VietnamPlus)
Việt Nam là một trong những nước có thế mạnh về xuất khẩu gạo. Ảnh: TTXVN.

Nên vận hành theo cơ chế thị trường

Theo TS. Đặng Kim Sơn, Nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), trong bối cảnh dịch bệnh hiện nay, mọi ngành, lĩnh vực đều rất khó khăn, thì tín hiệu tốt của thị trường lúa gạo là điểm sáng quý giá, cần phải tận dụng ngay để giúp nông dân vượt qua khó khăn hiện nay và gượng dậy sau dịch bệnh.

TS Đặng Kim Sơn khẳng định, trong thời điểm này, việc Chính phủ đặt ra những lo ngại về an ninh lương thực là vô cùng cần thiết. Nhưng sự thay đổi quá đột ngột trong điều hành xuất khẩu gạo của các bộ ngành đã tạo ra cơn sóng trong ngành lúa gạo những ngày vừa qua. 

Tiếp tục đọc “Xuất khẩu gạo: Nên vận hành theo cơ chế thị trường”

Ca COVID tăng vọt 3 con số, chuyện gì xảy ra ở Campuchia, Thái Lan?

11/04/2021 05:40 GMT+7

TTOSố ca mắc mới COVID-19 mỗi ngày bất ngờ tăng vọt lên 3 con số ở cả Campuchia lẫn Thái Lan khiến dư luận sửng sốt đặt câu hỏi: Chuyện gì đang xảy ra với tình hình dịch bệnh COVID-19 tại đây?

Ca COVID tăng vọt 3 con số, chuyện gì xảy ra ở Campuchia, Thái Lan? - Ảnh 1.

Cảnh sát phong tỏa một tuyến đường ở thủ đô Phnom Penh (Campuchia) để phòng chống dịch COVID-19 – Ảnh: KHMER TIMES

Thủ tướng Samdech Hun Sen ngày 10-4 thông báo nước này có thêm 477 ca COVID-19, nâng tổng số ca nhiễm virus corona tại Campuchia lên 4.081 ca. Cùng ngày, Thái Lan ghi nhận gần 800 ca mới, nhà chức trách đã phải dựng gấp 10 bệnh viện dã chiến để có chỗ tiếp nhận bệnh nhân COVID-19.

Tiếp tục đọc “Ca COVID tăng vọt 3 con số, chuyện gì xảy ra ở Campuchia, Thái Lan?”

Từ 1-7, TPHCM sẽ chỉ còn một cấp chính quyền là UBND TPHCM

Lê Anh, Thứ Tư,  7/4/2021, 21:31

(KTSG Online) – Thực hiện mô hình chính quyền đô thị, từ ngày 1-7-2021, chính quyền TPHCM tại 16 quận và Thành phố Thủ Đức sẽ chỉ còn một cấp (thay vì 3 cấp); việc sao y, chứng thực chữ ký được ủy quyền cho công chức tư pháp, hộ tịch thực hiện thay vì chủ tịch hoặc phó chủ tịch phường ký.


Tổ chức mô hình chính quyền đô thị nhằm giải quyết kịp thời nhu cầu làm hồ sơ giấy tờ của người dân- Ảnh: Lê Anh

Đây là một số điểm mới được phổ biến tại hội nghị triển khai thực hiện Nghị định số 33/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số 131/2020/QH14 về tổ chức chính quyền đô thị tại TPHCM diễn ra chiều 7-4. Tiếp tục đọc “Từ 1-7, TPHCM sẽ chỉ còn một cấp chính quyền là UBND TPHCM”

Xóa bất bình đẳng cực điểm: Mục tiêu phát triển bền vững, 2015–2030

Sợ nghèo | Đọt Chuối Non

Eliminating Extreme Inequality: A Sustainable Development Goal, 2015–2030

Michael W. Doyle and Joseph E. Stiglitz | March 2014

At the United Nations Millennium Summit in September 2000, UN member states took a dramatic step by putting people rather than states at the center of the UN’s agenda. In their Millennium Declaration,*1 the assembled world leaders agreed to a set of breathtakingly broad goals touching on peace through development, the environment, human rights, the protection of the vulnerable, the special needs of Africa, and reforms of UN institutions. Particularly influential was the codification of the Declaration’s development related objectives, which emerged in the summer of 2001 as the now familiar eight Millennium Development Goals (MDGs), to be realized by 2015:2

  1. Eradicate extreme poverty and hunger.3
    • Halve the proportion of people living on less than a dollar a day and those who suffer from hunger.
  2. Achieve universal primary education.
    • Ensure that all boys and girls complete primary school.
  3. Promote gender equality and empower women.
    • Eliminate gender disparities in primary and secondary education preferably by 2005, and at all levels by 2015.
  4. Reduce child mortality.
    • Reduce by two-thirds the mortality rate among children under five.
  5. Improve maternal health.
    • Reduce by three-quarters the ratio of women dying in childbirth.
  6. Combat HIV/AIDS, malaria, and other diseases.
    • Halt and begin to reverse the spread of HIV/AIDS and the incidence of malaria and other major diseases.
  7. Ensure environmental sustainability.
    • Integrate the principles of sustainable development into country policies and programs and reverse the loss of environmental resources.
    • By 2015, reduce by half the proportion of people without access to safe drinking water.
    • By 2020, achieve significant improvement in the lives of at least 100 million slum dwellers.
  8. Develop a global partnership for development.
    • Develop further an open trading and financial system that includes a commitment to good governance, development, and poverty reduction—nationally and internationally.
    • Address the special needs of the least developed countries, and the special needs of landlocked and small island developing states.
    • Deal comprehensively with the debt problems of developing countries.
    • Develop decent and productive work for youth.
    • In cooperation with pharmaceutical companies, provide access to affordable essential drugs in developing countries.
    • In cooperation with the private sector, make available the benefits of new technologies—especially information and communications technologies.

As UN Secretary-General Kofi Annan later described them, the MDGs were a remarkable effort in international coordination. They established common ground among competitive development agencies, inspired concerted action by international organizations and national governments, and offered an opportunity for citizens to insist that governments focus on the “we the peoples” they claimed to represent. In short, they transformed the agenda of world leaders.4

The MDG record has been mixed. Some goals, such as halving the proportion of people living in extreme poverty, have been met at the global level, but none have been fulfilled in all countries.

Fourteen years later, the MDG record has been mixed. Some goals, such as halving the proportion of people living in extreme poverty, have been met at the global level, but none have been fulfilled in all countries. Others, such as universal access to primary education, are unlikely to be achieved by 2015.5

However, while the accomplishment of these goals would have been an impressive achievement, even taken together they do not represent a complete or comprehensive vision of human development. They were constrained by what the member states could agree upon in 2000 and, in particular, they lacked a vision of equitable development.6 As the international community thinks about the set of goals that will follow the MDGs, it is time to address that shortcoming by adding the goal of “eliminating extreme inequality” to the original eight.

WHY INEQUALITY MATTERS

Every country has a distinct political economy that shapes the extent and effects of inequalities; each requires separate assessment. The marked differences in the extent and nature of inequality across countries demonstrate that inequality is not just determined by economic forces; it is shaped by politics and policies.

Full equality is not the goal. Some economic inequalities may be conducive to economic growth. Other inequalities may not be worth addressing because doing so infringes on cherished liberties. While the precise point at which inequalities turn harmful may differ from country to country, once inequality becomes extreme, harmful social, economic, and political effects become evident. Extreme inequalities tend to hamper economic growth and undermine both political equality and social stability. And because inequalities have cumulative economic, social, and political effects, each of these contributing factors requires separate and concerted attention. We turn first to the economic arguments for reducing extreme inequalities, and then to the political and social arguments.

Economic Arguments 7

Economists of widely differing philosophical outlooks agree that inequalities of incomes and assets have harmful economic effects. Increasing inequalities, with top-heavy income distributions, lessen aggregate demand (the rich tend to spend a smaller fraction of their income than the poor), which can slow economic growth. The attempt of monetary authorities to offset these effects can contribute to credit bubbles, and these bubbles in turn lead to economic instability. That is why inequality is often associated with economic instability. In this perspective, it is not a surprise that inequality reached high levels before the Great Recession of 2008 and before the Great Depression of the 1930s.8 Recent International Monetary Fund research shows that high inequality is associated with shorter growth cycles.9

Much of the inequality observed around the world is associated with rent-seeking (for example, the exercise of monopoly power), and such inequality manifestly undermines economic efficiency. But perhaps the worse dimension of inequality is inequality of opportunity, which is both the cause and consequence of inequality of outcomes, and causes economic inefficiency and reduced development, as large numbers of individuals are not able to live up to their potential.10 Countries with high inequality tend to invest less in public goods, such as infrastructure, technology, and education, which contribute to long-term economic prosperity and growth.

Reducing inequality, on the other hand, has clear economic as well as social benefits. It strengthens people’s sense that society is fair; improves social cohesion and mobility, making it more likely that more citizens live up to their potential; and broadens support for growth initiatives. Policies that aim for growth but ignore inequality may ultimately be self-defeating, whereas policies that decrease inequality by, for example, boosting employment and education have beneficial effects on the human capital that modern economies increasingly need.11

Gaps between the rich and the poor are partly the result of economic forces, but equally, or even more, they are the result of public policy choices, such as taxation, the level of the minimum wage, and the amount invested in health care and education.

Political and Social Arguments

Gaps between the rich and the poor are partly the result of economic forces, but equally, or even more, they are the result of public policy choices, such as taxation, the level of the minimum wage, and the amount invested in health care and education. This is why countries whose economic circumstances are otherwise similar can have markedly different levels of inequality. These inequalities in turn affect policy-making because even democratically-elected officials respond more attentively to the views of affluent constituents than they do to the views of poor people.12 The more that wealth is allowed unrestricted roles in funding elections, the more likely it is that economic inequality will get translated into political inequality.

As noted, extreme inequalities undermine not only economic stability but also social and political stability. But there is no simple causal relation between economic inequality and social stability, as measured by crime or civil violence. Neither form of violence correlates with Gini indices or Palma ratios (the top 10 percent of the population’s share of Gross National Income [GNI] divided by the poorest 40 percent of the population’s share of GNI).13 There are, however, substantial links between violence and “horizontal inequalities” that combine economic stratification with race, ethnicity, religion, or region. When the poor are from one race, ethnicity, religion, or region, and the rich are from another, a lethal, destabilizing dynamic often emerges.

Drawing on 123 national surveys in 61 developing countries, one study carefully documents the effects of inequalities in assets among ethnicities. For a typical country with average values on all the variables accounting for violence, the probability of civil conflict in a given year is 2.3 percent. If the level of horizontal asset inequality among ethnic groups is increased to the ninety-fifth percentile (and the other variables remain at their average values), the probability of conflict increases to 6.1 percent—more than a twofold increase. A similar comparison focused on differences in income among religious groups shows an increase from 2.9 percent to 7.2 percent—again, more than twofold.14 Another study using similar methods finds regional disparities in wealth to be correlated with an especially high risk of conflict onset in sub-Saharan Africa.15

Using a different methodology that focuses on geographical disparities in income that are linked with ethnic differentiation, rather than surveys to measure inequalities, other authors confirm the dangers of large horizontal inequalities. Focusing on the post–cold war period (1991–2005), Lars-Erik Cederman, Nils Weidmann, and Kristian Gleditsch divide the total sum of economic production in a given ethnic settlement area by the group’s population size to get ethnic group–specific measures of per capita economic production. They find that both relatively poorer and relatively richer ethnic groups have higher likelihoods of experiencing civil war. Demonstrating that not just ethnographic factors are at work, they show that the richer (or the poorer) the ethnographic group is, the greater the likelihood of the extreme groups experiencing civil war with other ethnographic groups.16

THE MANY DIMENSIONS OF INEQUALITY

Just as discussions of poverty and poverty reduction expanded from a singleminded focus on income to many other dimensions of deprivation—including health and the environment—so too did they evolve in the case of inequality.17 Indeed, in most countries it appears that inequalities in wealth exceed those in income. Especially in countries without adequate public health systems, a Palma ratio reflecting health status would almost surely show even greater inequalities than a Palma ratio for income. A Palma ratio based on exposures to environmental hazards would likely demonstrate a similar trend.

One of the most pernicious forms of inequality relates to inequality of opportunity, reflected in a lack of socioeconomic mobility, condemning those born into the bottom of the economic pyramid to almost surely remain there. Alan Krueger, former Chairman of the U.S. Council of Economic Advisors, has pointed to this link between inequality and opportunity.18 Inequality of income tends to be associated with less economic mobility and fewer opportunities across generations. The fact that those born into the bottom of the economic pyramid are condemned to never reach their potential reinforces the correlation between inequality and slower long-term economic growth.19

That these dimensions of inequality are related suggests that focusing on one dimension at a time may underestimate the true magnitude of societal inequalities and provide an inadequate basis for policy. For example, health inequality is both a cause and consequence of income inequality. Inequalities in education are a primary determinant of inequalities in income and opportunity. In turn, as we have emphasized, when there are distinct social patterns of these multiple inequalities (for example, those associated with race or ethnicity), the consequences for society (including social instability) are increased.

MEASURING THE GOAL

We propose that the following goal—call it “Goal Nine”—be added to revisions and updates of the original eight: Eliminate extreme inequality at the national level in every country. For this goal, we propose the following targets:

  • By 2030, reduce extreme income inequalities in all countries such that the post-tax income of the top 10 percent is no more than the post-transfer income of the bottom 40 percent.
  • By 2020, establish a public commission in every country that will assess and report on the effects of national inequalities.

There is a growing consensus that the best indicator for these targets is the Palma ratio, which effectively focuses on extremes of inequality—the ratio of incomes at the very top to those at the bottom.20 In many countries around the world it is changes in these extremes that are most noticeable and most invidious, while the share of income in the middle is relatively stable.21 All countries should focus on their “extreme” inequalities, that is, the inequalities that do most harm to equitable and sustainable economic growth and that undermine social and political stability. A Palma ratio of 1 is an ideal reached in only a few countries. For example, countries in Scandinavia, with Palma ratios at 1 or less,22 do not seem to suffer from the liabilities associated with extreme inequalities. Indeed, in some accounts they seem to benefit from a positive “equality multiplier” across the various aspects of their socioeconomic development, making them efficient and flexible as well as equitable and stable.23

But countries differ not just in how unequal they are now but also in their culture, tolerance of inequality of various kinds, and capacity for social change. Hence, the more important target is the second one: a national dialogue by 2020 on what should be done to address the inequalities of most relevance to the particular country. Such a dialogue would draw attention to the policies in each country that exacerbate inequality (for example, deficiencies in the education system, the legal system, or the tax and transfer system); those that simultaneously distort the economy and contribute to economic, political, and social instability; and those that might most easily be altered.24

Support for reducing extreme inequalities is widespread.25 In a letter to Dr. Homi Kharas, lead author and executive secretary of the secretariat supporting the High-Level Panel of Eminent Persons on the Post-2015 Development Agenda, ninety economists, academics, and development experts urged that reduction in inequality in the post-2015 development framework be made a priority, and suggested that inequality be measured using the Palma ratio.26 They argue—consistent with our analysis—that inequality threatens poverty eradication, sustainable development, democratic processes, and social cohesion.27

Awareness of the adverse effects of inequality has moved beyond academics and social activists. A July 2013 speech by U.S. President Barack Obama outlined the role of inequality in creating credit bubbles (like the one that precipitated the Great Recession) and the way it deprives people of opportunity, which in turn fosters an inefficient economy in which the talents of many cannot be mobilized for the good of all.28 And Pope Francis, in his address in the Varginha slum of Rio de Janeiro on World Youth Day 2013, emphasized the need for greater solidarity, greater social justice, and special attention to the circumstances of youth. And, again consistent with the studies cited earlier, he declared that peace cannot be maintained in unequal societies with marginalized communities.29

There are many dimensions to inequality—some with more invidious effects than others—and many ways to measure these inequalities. One thing is certain, however: sustainable development cannot be achieved while ignoring extreme disparities. It is imperative that the post-MDG agenda have as one of its central points a focus on inequality.

NOTES

* The authors have benefited from the research assistance of Alicia Evangelides, Eamon Kircher-Allen, and Laurence Wilse-Samson.


Xóa bất bình đẳng cực điểm: Mục tiêu phát triển bền vững, 2015–2030

Michael W. Doyle và Joseph E. Stiglitz | Tháng 3 năm 2014

[PTH: Giáo sư Stiglitz có Nobel Kinh tế và rất hỗ trợ Việt Nam]

Tháng 9 năm 2000, tại Hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ Liên hợp quốc, các nước thành viên đã đi một bước đột ngột bằng cách đặt con người, chứ không phải các nước, vào trọng tâm của chương trình nghị sự. Trong Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc,*1, các lãnh đạo thế giới nhóm họp với nhau đã cùng nhất trí bộ mục tiêu chung rất hấp dẫn về hòa bình thông qua phát triển, môi trường, nhân quyền, bảo vệ người dễ bị tổn thương, nhu cầu đặc biệt của châu Phi và cải cách các thể chế Liên hợp quốc. Đặc biệt có ảnh hưởng là việc soạn bộ luật các mục tiêu liên quan đến phát triển của Tuyên bố,trỗi lên vào mùa hè năm 2001 mà ngày nay là 8 Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) quen thuộc, nhằm đạt được vào năm 2015: 2

  1. Xoá đói nghèo cực điểm.3
    • Giảm 1/2 số người sống dưới 1 đô la 1 ngày và giảm 1/2 số người bị đói.
  2. Đạt giáo dục tiểu học phổ cập.
    • Đảm bảo mọi trẻ em trai và gái đều xong tiểu học.
  3. Thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ.
    • Xóa chênh lệch giới trong giáo dục tiểu học và trung học phổ thông, tốt nhất là vào năm 2005 và ở mọi cấp năm 2015.
  4. Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em.
    • Giảm 2/3 số tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi.
  5. Cải thiện sức khỏe người mẹ.
    • Giảm 3/4 số phụ nữ chết khi sinh con.
  6. Chiến đấu với HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh khác.
    • Ngăn chặn và bắt đầu đảo ngược sự lây lan của HIV/AIDS, tỷ lệ mắc sốt rét và các bệnh chính khác.
  7. Đảm bảo tính bền vững của môi trường.
    • Lồng ghép các nguyên tắc phát triển bền vững vào các chính sách và chương trình quốc gia, và đảo ngược việc mất tài nguyên môi trường.
    • Đến năm 2015, giảm 1/2 số người không được sử dụng nước sạch.
    • Đến năm 2020, đạt được cải thiện đáng kể trong đời sống của ít nhất 100 triệu dân khu ổ chuột.
  8. Xây dựng quan hệ đối tác toàn cầu để phát triển.
    • Phát triển thêm nữa hệ thống thương mại và tài chính mở có cam kết chính quyền tốt, phát triển và giảm nghèo – trên phạm vi quốc gia và quốc tế.
    • Giải quyết các nhu cầu đặc biệt của các nước kém phát triển nhất và các nhu cầu đặc biệt của các nước đang phát triển không giáp biển, và các đảo nhỏ.
    • Giải quyết toàn diện vấn đề nợ của các nước đang phát triển
    • Phát triển công việc tốt và hiệu năng cao cho người trẻ.
    • Hợp tác với công ty dược phẩm, cung cấp quyền tiếp cận các loại thuốc cần thiết vừa với túi tiền ở các nước đang phát triển.
    • Hợp tác với khu vực tư nhân, tạo phúc lợi công nghệ mới – đặc biệt công nghệ thông tin và truyền thông.

Như Tổng thư ký Liên hợp quốc Kofi Annan sau đó đã miêu tả, các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ này là nỗ lực xuất sắc của phối hợp quốc tế. Các Mục tiêu đã thiết lập nền móng chung cho các cơ quan phát triển cạnh tranh nhau, gợi hứng cho các hành động hòa hợp của các tổ chức quốc tế và các chính phủ quốc gia, đồng thời tạo cơ hội cho người dân đòi chính phủ tập trung vào “người dân chúng tôi” mà chính phủ tuyên bố đại diện. Tóm lại, các Mục tiêu đã thay đổi chương trình nghị sự của các lãnh đạo thế giới.4

Thành quả của Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ có điều được điều không. Vài mục tiêu, chẳng hạn như giảm 1/2 số người sống trong tận cùng nghèo khó, tuy được đáp ứng ở cấp toàn cầu, nhưng không được thực hiện ở tất cả các nước.

Mười bốn năm sau, thành quả của Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ có điều được điều không. Vài mục tiêu, chẳng hạn như giảm 1/2 số người sống trong tận cùng nghèo khó, tuy được đáp ứng ở cấp toàn cầu, nhưng không được thực hiện ở tất cả các nước. Những mục tiêu khác, chẳng hạn như tiếp cận giáo dục tiểu học phổ cập, khó có thể đạt được vào năm 2015.5

Tuy nhiên, trong khi việc hoàn thành mục tiêu đáng lẽ phải là thành tích huy hoàng, thì trên tổng thể các mục tiêu cũng chẳng thể hiện được tầm nhìn toàn diện hoặc đầy đủ về phát triển con người. Các mục tiêu đã bị giới hạn bởi những gì các nước thành viên có thể đồng ý vào năm 2000, và đặc biệt, chúng thiếu tầm nhìn về phát triển công bằng.6 Vì cộng đồng quốc tế đang nghĩ về bộ mục tiêu theo sau các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, đã đến lúc phải giải quyết thiếu sót đó bằng cách thêm mục tiêu “xóa bất bình đẳng cực điểm” vào 8 mục tiêu ban đầu.

TẠI SAO BẤT BÌNH ĐẲNG LÀ VẤN ĐỀ LỚN

Mỗi nước đều có nền kinh tế chính trị riêng định hình quy mô và tác động của bất bình đẳng; thế nên mỗi nước đều phải được đánh giá riêng. Khác biệt đặc trưng về mức độ và bản chất của bất bình đẳng giữa các nước chứng tỏ bất bình đẳng không chỉ được xác định bởi các lực kinh tế; mà còn được định hình bởi chính trị và chính sách.

Hoàn toàn bình đẳng không phải là mục tiêu. Vài bất bình đẳng kinh tế có thể có lợi cho phát triển kinh tế. Những bất bình đẳng khác có thể chẳng bõ công giải quyết vì làm như vậy là vi phạm những tự được yêu chuộng. Dù thời điểm chính xác mà bất bình đẳng trở nên có hại có thể khác nhau giữa các nước, nhưng một khi bất bình đẳng trở nên cực độ, ảnh hưởng có hại về xã hội, kinh tế và chính trị sẽ trở nên rõ ràng. Bất bình đẳng cực điểm có khuynh hướng cản trở phát triển kinh tế và hủy hoại cả bình đẳng chính trị và ổn định xã hội. Và vì bất bình đẳng có ảnh hưởng chất chồng cả về kinh tế, xã hội và chính trị, mỗi yếu tố góp phần tạo nên bất bình đẳng này đòi hỏi được cả chú ý riêng và chú ý phối hợp. Trước hết, chúng tôi quay sang lập luận kinh tế để làm giảm bất bình đẳng cực điểm, và sau đó là lập luận chính trị và xã hội.

Lập luận kinh tế 7

Những nhà kinh tế có quan điểm triết học khác nhau nhiều đều đồng ý rằng bất bình đẳng thu nhập và tài sản đều có ảnh hưởng kinh tế nguy hại. Bất bình đẳng gia tăng, với phân bổ thu nhập quá nhiều ở đỉnh, làm giảm tổng cầu (người giàu có xu hướng tiêu chỉ một tỉ số nhỏ của lợi tức của họ, nhỏ hơn so với tỉ số tiêu lợi tức của người nghèo), có thể làm chậm tăng trưởng kinh tế. Nỗ lực của cơ quan tiền tệ nhằm bù đắp ảnh hưởng này có thể góp phần tạo ra bong bóng tín dụng, và những bong bóng này lại dẫn đến bất ổn kinh tế. Đó là lý do vì sao bất bình đẳng thường gắn liền với bất ổn kinh tế. Theo quan điểm này, chẳng có gì ngạc nhiên khi bất bình đẳng đạt mức cao vào trước Đại suy thoái năm 2008 và trước Đại suy thoái những năm 1930.8 Nghiên cứu gần đây của Quỹ Tiền tệ Quốc tế cho thấy bất bình đẳng cao có liên quan đến những chu kỳ tăng trưởng ngắn hơn.9

Phần lớn bất bình đẳng được quan sát trên thế giới đều liên quan đến trục lợi (ví dụ, sử dụng độc quyền), và hiển nhiên bất bình đẳng đó làm hao mòn hiệu quả kinh tế. Nhưng có lẽ loại bất bình đẳng tồi tệ hơn cả là bất bình đẳng cơ hội, vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của bất bình đẳng kết quả, gây ra bất lực kinh tế và làm giảm phát triển, khi lượng lớn người không thể sống đúng với tiềm năng của họ.10 Nước có bất bình đẳng cao có xu hướng ít đầu tư vào tài sản công hơn, như cơ sở hạ tầng, công nghệ và giáo dục, những tài sản đóng góp vào tăng trưởng và thịnh vượng kinh tế dài hạn.

Mặt khác, rõ ràng giảm bất bình đẳng có lợi cho kinh tế cũng như xã hội. Giảm bất bình đẳng củng cố ý thức của mọi người rằng xã hội là công bằng; cải thiện tính liên kết và tính di động xã hội, làm cho nhiều người có thể sống đúng với tiềm năng của họ hơn; và mở rộng hỗ trợ cho những sáng kiến ​​tăng trưởng. Những chính sách nhằm mục đích phát triển nhưng phớt lờ bất bình đẳng rốt cuộc có thể tự chuốc lấy thất bại, trong khi những chính sách giảm bất bình đẳng, chẳng hạn như gia tăng việc làm và giáo dục có tác động lợi ích tới vốn con người mà kinh tế hiện đại càng ngày càng cần. 11

Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo một phần là kết quả của các lực lượng kinh tế, nhưng tương đương, hay thậm chí nhiều hơn, là kết quả của lựa chọn chính sách công, chẳng hạn như thuế, lương tối thiểu, và lượng đầu tư vào chăm sóc sức khỏe và giáo dục.

Lập luận Chính trị và Xã hội

Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo một phần là kết quả của các lực lượng kinh tế, nhưng tương đương, hay thậm chí nhiều hơn, là kết quả của lựa chọn chính sách công, chẳng hạn như thuế, lương tối thiểu, và lượng đầu tư vào chăm sóc sức khỏe và giáo dục. Đây là lý do vì sao các nước có hoàn cảnh kinh tế giống nhau có thể có mức độ bất bình đẳng khác nhau rõ rệt. Đến lượt mình, những bất bình đẳng này lại ảnh hưởng đến việc làm chính sách, vì ngay cả quan chức được bầu dân chủ cũng phản ứng chăm chú hơn với những quan điểm của cử tri giàu, hơn là quan điểm của cử tri nghèo.12 Người giàu càng được đóng vai trò tài trợ bầu cử không hạn chế, càng có nhiều khả năng bất bình đẳng kinh tế chuyển thành bất bình đẳng chính trị.

Như đã nói, bất bình đẳng cực điểm không chỉ hủy hoại ổn định kinh tế mà còn hủy hoại cả ổn định xã hội và chính trị. Nhưng chẳng có liên hệ nhân quả đơn giản nào giữa bất bình đẳng kinh tế và ổn định xã hội, khi đo bằng tội phạm hay bạo lực dân sự. Chẳng có hình thức bạo lực nào liên quan với chỉ số Gini [là hệ số Gini (hệ số Loren), là hệ số chỉ ra mức bất bình đẳng của phân phối thu nhập cho mọi cá nhân trong một nền kinh tế – theo Wikipedia] hay tỷ lệ Palma (10% dân số giàu nhất trong Tổng Thu nhập Quốc dân [GNI] chia cho 40% người nghèo nhất của GNI).13 Tuy nhiên, có những liên kết chắc nịch giữa bạo lực và “bất bình đẳng theo chiều ngang” – là bất bình đẳng phối hợp phân tầng kinh tế với chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo hay khu vực. Khi người nghèo đến từ một chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo hay khu vực, còn người giàu đến từ một chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo hay khu vực khác, động lực gây mất ổn định chết người thường nổi lên.

Dựa trên 123 cuộc khảo sát khắp nước ở 61 nước đang phát triển, một nghiên cứu đã cẩn thận ghi lại những tác động của bất bình đẳng tài sản giữa các dân tộc. Với một nước điển hình có giá trị trung bình trên mọi tham số liên quan đến bạo lực, thì xác suất xung đột dân sự [nội chiến] trong một năm là 2,3%. Nếu mức độ bất bình đẳng tài sản theo chiều ngang giữa các nhóm dân tộc tăng lên đến phân vị thứ 95 (và các tham số khác vẫn ở giá trị trung bình), thì xác suất xung đột sẽ tăng lên 6,1% – tăng hơn gấp hai lần. So sánh tương tự tập trung vào khác biệt thu nhập giữa các nhóm tôn giáo cho thấy mức tăng từ 2,9% lên 7,2% – lần nữa, gấp hơn hai lần.14 Một nghiên cứu khác dùng phương pháp tương tự cho thấy chênh lệch giàu nghèo theo khu vực có liên quan cùng chiều với rủi ro xung đột trỗi lên ở hạ Sahara, Châu Phi (vùng châu Phi nằm phía nam sa mạc Sahara).15

Để đo bất bình đẳng, thay vì khảo sát, khi dùng phương pháp khác, tập trung vào chênh lệch thu nhập theo khu vực địa lý, có liên kết với sự phân biệt chủng tộc, thay vì khảo cứu đo lường bất bìnhđẳng, các tác giả khác khẳng định những nguy hiểm của bất bình đẳng rộng lớn theo chiều ngang. Tập trung vào giai đoạn sau chiến tranh lạnh (1991–2005), Lars-Erik Cederman, Nils Weidmann và Kristian Gleditsch chia tổng sản lượng kinh tế trong một vùng dân định cư cụ thể cho lượng dân số của nhóm để có số đo sản lượng kinh tế bình quân đầu người. Họ thấy cả nhóm dân tương đối nghèo hơn và nhóm tương đối giàu hơn đều có khả năng xảy ra nội chiến cao hơn. Chứng minh rằng không chỉ các yếu tố chủng tộc mới có tác dụng, chúng cho thấy nhóm dân càng giàu hơn (hay càng nghèo hơn) thì khả năng các nhóm cực điểm này có nội chiến với các nhóm dân khác càng lớn.16

NHIỀU LOẠI BẤT BÌNH ĐẲNG

Giống như các thảo luận về nghèo và giảm nghèo đẫ mở rộng từ việc chỉ tập trung vào thu nhập sang nhiều khía cạnh khác của thiếu thốn – gồm sức khỏe và môi trường – thì các thảo luận này cũng tiến hoá trong trường hợp bất bình đẳng.17 Thật vậy, hình như ở đa số các nước, bất bình đẳng tài sản vượt quá bất bình đẳng thu nhập. Đặc biệt ở những nước không có hệ thống y tế công cộng đầy đủ, tỷ lệ Palma phản ánh tình trạng sức khỏe gần như chắc chắn cho thấy những bất bình đẳng lớn hơn tỷ lệ Palma thu nhập. Tỷ lệ Palma dựa trên độ phơi nhiễm với các nguy hiểm môi trường có thể sẽ cho thấy xu hướng tương tự.

Một trong những hình thức bất bình đẳng nguy hại nhất lại liên quan đến bất bình đẳng cơ hội, thể hiện ở chỗ thiếu di động kinh tế xã hội, khiến người sinh ở đáy kim tự tháp kinh tế gần như chắc chắn đứng ở lại đó. Alan Krueger, cựu Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Kinh tế Hoa Kỳ, đã chỉ ra mắt xích giữa bất bình đẳng và cơ hội này.18 Bất bình đẳng thu nhập có khuynh hướng gắn liền với ít di động kinh tế hơn và ít cơ hội hơn qua các thế hệ. Thực tế, người sinh ở đáy kim tự tháp kinh tế bị kết án là không bao giờ đạt được tiềm năng của họ đã củng cố mối liên quan giữa bất bình đẳng và phát triển kinh tế dài hạn chậm hơn.19

Việc những khía cạnh bất bình đẳng này có liên quan với nhau cho thấy việc tập trung vào một khía cạnh tại một thời điểm có thể đánh giá thấp mức độ thật của bất bình đẳng xã hội và chuẩn bị cái nền không phù hợp cho chính sách. Ví dụ, bất bình đẳng sức khỏe vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của bất bình đẳng thu nhập. Bất bình đẳng trong giáo dục là yếu tố quyết định chính của bất bình đẳng thu nhập và cơ hội. Ngược lại, như chúng tôi đã nhấn mạnh, khi có những hình thái xã hội riêng của những bất bình đẳng này (ví dụ, bất bình đẳng liên quan đến chủng tộc hay sắc tộc), hậu quả với xã hội (gồm cả bất ổn xã hội) sẽ tăng lên.

ĐO MỤC TIÊU

Chúng tôi đề xuất mục tiêu sau – gọi là “Mục tiêu số 9” – thêm vào bản sửa đổi và cập nhật của 8 mục tiêu ban đầu: Xóa bất bình đẳng cực điểm ở cấp quốc gia ở mọi nước. Với mục tiêu này, chúng tôi đề xuất những chỉ tiêu đi theo:

  • Đến năm 2030, giảm bất bình đẳng thu nhập cực điểm ở mọi nước sao cho thu nhập sau thuế của 10% hàng đầu không nhiều hơn thu nhập sau khi chuyển tiền của 40% dưới cùng.
  • Đến năm 2020, thành lập ủy ban công ở mọi nước để đánh giá và báo cáo tác động bất bình đẳng quốc gia.

Càng ngày càng có đồng thuận rằng chỉ số tốt nhất cho các mục tiêu này là tỷ lệ Palma, tỷ lệ này tập trung hiệu quả vào bất bình đẳng cực điểm — tỷ lệ thu nhập ở mức cao nhất so với mức thấp nhất.20 Ở nhiều nước trên thế giới, những thay đổi tại các thái cực này là điều dễ nhận thấy nhất và tai ác nhất, trong khi tỷ trọng thu nhập ở nhóm trung bình tương đối ổn định.21 Mọi nước nên tập trung vào những bất bình đẳng “cực điểm” của họ, tức là bất bình đẳng có hại nhất với phát triển kinh tế công bằng và bền vững, và bất bình đẳng hủy hoại ổn định xã hội và chính trị. Tỷ lệ Palma 1 là mức lý tưởng chỉ đạt được ở rất ít nước. Ví dụ, các nước Bắc Âu, với tỷ lệ Palma từ 1 trở xuống,22 dường như không phải chịu các gánh nặng liên quan đến bất bình đẳng cực điểm. Thật vậy, trong vài trường hợp, các nước Bắc Âu dường như được hưởng lợi từ “hệ số bình đẳng” dương trên các khía cạnh khác nhau của phát triển kinh tế xã hội, làm cho chúng hoạt động hiệu quả và linh hoạt, cũng như công bằng và ổn định.23

Nhưng các nước khác nhau không chỉ khác ở bất bình đẳng ra sao mà còn khác ở văn hóa bất bình đẳng, khả năng chịu đựng bất bình đẳng ở nhiều dạng khác nhau, và khả năng thay đổi xã hội. Do đó, mục tiêu quan trọng hơn lại là mục tiêu thứ hai: đến năm 2020, đối thoại quốc gia về chuyện cần làm để giải quyết bất bình đẳng liên quan nhất đến quốc gia cụ thể. Đối thoại như vậy sẽ thu hút sự chú ý đến chính sách ở từng nước có làm trầm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng (ví dụ, những khiếm khuyết trong hệ thống giáo dục, hệ thống luật, hay hệ thống thuế và chuyển nhượng); những yếu tố vừa bóp méo nên kinh tế, vừa góp phần gây bất ổn kinh tế, chính trị và xã hội; và những yếu tố có thể dễ dàng được thay đổi nhất.24

Hỗ trợ giảm bất bình đẳng cực điểm đang được phổ biến.25 Trong lá thư gửi Tiến sĩ Homi Kharas, tác giả chính và tổng thư ký điều hành của ban thư ký hỗ trợ hộ Ban Hội thẩm Cấp cao của Những Người Chính Yếu trong Chương trình Nghị sự Phát triển Sau-2015, chín mươi nhà kinh tế, học giả và chuyên gia phát triển, đã kêu gọi ưu tiên giảm bất bình đẳng cực điểm trong khuôn khổ phát triển sau năm 2015 và đề xuất đo bất bình đẳng bằng tỷ lệ Palma.26 Họ lập luận – phù hợp với phân tích của chúng tôi – rằng bất bình đẳng đang đe dọa xóa nghèo, phát triển bền vững, quá trình dân chủ, và gắn kết xã hội.27

Nhận thức về tác động có hại của bất bình đẳng đã vượt ra ngoài giới học thuật và các nhà hoạt động xã hội. Bài phát biểu vào tháng 7 năm 2013 của Tổng thống Mỹ Barack Obama đã phát thảo vai trò của bất bình đẳng trong việc tạo ra bong bóng tín dụng (giống như bong bóng tạo kết tủa cuộc Đại Suy thoái) và cách bất bình đẳng tước đi cơ hội của mọi người, từ đó nuôi nền kinh tế kém hiệu quả, trong đó tài năng của nhiều người không thể được huy động cho lợi ích của mọi người.28 Và Giáo hoàng Phanxicô (giáo hoàng hiện tại của Giáo hội Công giáo Rôma), trong diễn văn tại khu ổ chuột Varginha ở thành phố Rio de Janeiro, Brasil, Ngày Giới trẻ Thế giới 2013 (ngày hội của giới trẻ Công giáo toàn thế giới), đã nhấn mạnh nhu cầu đoàn kết hơn, công bằng xã hội hơn, và quan tâm đặc biệt đến hoàn cảnh giới trẻ. Và, lần nữa, nhất quán với các nghiên cứu được trích dẫn trước đó, Giáo hoàng tuyên bố hòa bình chẳng thể được duy trì trong những xã hội bất bình đẳng với những cộng đồng ở bên rìa xã hội.29

Có nhiều khía cạnh dẫn đến bất bình đẳng — vài khía cạnh có nhiều tác động tai ác hơn vài khía cạnh khác — và có nhiều cách đo lường những bất bình đẳng này. Tuy nhiên, một điều chắc chắn: chẳng thể đạt được phát triển bền vững khi phớt lờ những chênh lệch cực điểm. Điều bắt buộc là chương trình nghị sự hậu Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ phải tập trung vào bất bình đẳng như một trong những điểm trọng tâm của chương trình.

GHI CHÚ

  • Các tác giả đã được hưởng lợi từ hỗ trợ nghiên cứu của Alicia Evangelides, Eamon Kircher-Allen và Laurence Wilse-Samson.

(Phạm Thu Hương dịch)