Thập giá và Lưỡi gươm – Những cuộc đụng độ cải cách ruộng đất

(Trích từ tác phẩm “Thập giá và Lưỡi gươm”,  linh mục Trần Tam Tỉnh)
Xem Mục lục tác phẩm ở cuối bài
Ấn bản 1978 của nhà xuất bản Trẻ

Chương IV

GIÁO HỘI TRONG KHÁNG CHIẾN

(tiếp theo)

5 – NHỮNG CUỘC ĐỤNG ĐỘ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

Cuộc đụng độ đầu tiên giữa chính phủ Hồ Chí Minh và Giáo hội đã xảy ra vào dịp có cuộc cải cách ruộng đất. Như đã thấy ở chương trên, dưới thời thực dân, Giáo hội là một nhà đại gia chủ. Hơn nữa, cuộc cải cách ruộng đất này hầu như chỉ đụng tới Giáo hội Công giáo, bởi vì từ thời thực dân cho tới năm 1954, Giáo hội Công giáo là tổ chức tôn giáo duy nhất có pháp nhân và được quyền sở hữu.

Cần ghi nhận rằng Việt Nam là một nước chủ yếu nông nghiệp. Tám mươi phần trăm dân số là nông dân và chỉ sinh sống nhờ thu nhập từ nông nghiệp. Thế nhưng, có tới 61,5% nông dân không hề có được một tấc đất.

Nhằm áp dụng chính sách «người cày có ruộng» và nhằm đảm bảo điều kiện sinh nhai tối thiểu cho mỗi người dân, chính phủ Hà Nội đã tiến hành phân bố lại đất đai nhờ việc trưng thu của thực dân, của Giáo hội (đồng thời vẫn để lại cho Giáo hội một phần đất đủ lo việc thờ tự và bảo đảm đời sống cho các giáo sĩ), các địa chủ và phú nông (nhà nước trả cho những người có tinh thần dân chủ, kháng chiến và không phản động những khoản bồi thường dưới dạng công trái, có tiền lời hằng năm là 1,5%).

Cuộc cải cách ruộng đất đã được tiến hành một cách máy móc, do những cán bộ thiếu kinh nghiệm, với các tòa án đặt biệc về cải cách ruộng đất, gây ra nhiều điều sai phạm. Do đó mà nhiều người đã bị oan ức.

Chính phủ đã sớm thấy các điều sai sót đó và đã nhận lỗi. Ngày 17-8-1946, cụ Hồ Chí Minh thừa nhận: «Trong việc thực hiện thống nhất lại các vùng nông thôn, đã xảy ra những điều sai sót… Đảng vá Chính phủ đã nghiêm túc sửa chữa những thiếu sót đó và đã vạch ra một chương trình chỉnh đốn lại.

«Những người bị qui thành phần địa chủ và phú nông không đúng, phải được phục hồi lại cho đúng qui cách. Các đảng viên, cán bộ và nhân dân đã là đối tượng của việc xét xử sai lầm, phải được phục hồi lại trong các chức vụ và quyền lợi của họ và danh dự của họ phải được công nhận lại… »

Nhưng việc đó quá trể, nên không ngăn chặn kịp sự tức giận của dân chúng. Tháng 11 năm 1956, nông dân Nghệ Tĩnh đã nổi loạn. Cụ Hồ Chí Minh đã phải bãi bỏ các tòa án đặc biệt, bãi miễn chức vụ của ông Trường Chinh và những người có trách nhiệm về sự thất bại nói trên. Tiếp đó, một «chiến dịch sửa sai» được phát động.

Trước Cải cách, đất trồng trọt miền Bắc được phân phối như sau:

THÀNH PHẦN DIỆN TÍCH MẪU TỈ LỆ % SO VỚI TOÀN DIỆN
Thực dân Pháp 15.952,05 1
Giáo Hội 23.928,07 1,5
Đất công và bần công 398.801,25 25
Địa chủ 390.825,22 24,5
Phú nông 113.259,22 7,1
Trung nông 462.520,50 29
Bần nông 169.520,50 10
Bần cố nông 17.447,25 1,1
Những lao động khác 12.461,64 0,8

Theo báo Nhân Dân ngày 13-8-1967, thì 30% nông dân kết án địa chủ không đúng. Theo G. Chaliand (Nông dân Bắc Việt và chiến tranh) thì «những sai lầm có thể do hai vi phạm về chính sách:

─ Những tiêu chuẩn qui định thành phần đã không được tuân thủ. Cho nên phú nông bị cho là địa chủ, trung nông bị liệt là phú nông và cả người bần nông cũng bị đánh. Có những địa chủ yêu nước đã bị ngược đãi như địa chủ phản quốc.

─ Đã có những vi phạm do tín ngưỡng trong các vùng có đông Công giáo và khẩu lệnh về cải cách ruộng đất đã được áp dụng máy móc tại những vùng dân tộc thiểu số.

Trong số những nạn nhân của sai lầm về về cải cách ruộng đất như Bác đã nói rõ, có đảng viên, có người gần gũi với chế độ và khỏi phải nói là có những người Công giáo, các Linh mục và cả Giám mục.

Trong vụ nổi loạn của nông dân tại Nghệ An xảy ra ngay sau đợt «sửa sai», giáo dân Quỳnh Lưu, địa phận Vinh, đã đòi tự do cho những giáo sĩ đã bị bắt giữ, phục hồi danh dự cho các linh mục và giáo dân đã bị hành hạ phỉ báng trong cải cách, hoàn lại của cải cho địa phận và các xứ đạo đã bị chính phủ tước đoạt hoặc tịch thu. Trước những sự kiện đó, Ủy ban Liên lạc Công giáo đã họp tại Hà Nộ từ 14 đến 16-11-1956 và trong bản tuyên bố bế mạc, đã không ngần ngại phê phán những sai lầm của các cán bộ thực hiện cải cách ruộng đất: «Những sai phạm trong cải cách ruộng đất đã vi phạm chính sách tự do tín ngưỡng của Đảng Lao Động và của Chính phủ và chà đạp lên các quyền linh thiêng của tín hữu».

Phái đoàn của Ủy ban đã được cụ Hồ Chí Minh tiếp và Người đã biểu lộ sự chân thành buồn tiếc về những sai trái xảy ra, và để sửa chửa, Người quyết định cấp cho những khoản tiền quan trọng sửa chửa các nhà thờ và chủng viện lại. Sau khi đã sửa chửa những sai sót rồi, chính phủ không vì thế mà hủy bỏ nền tảng của chính sách xã hội của mình để hoàn trả lại Giáo hội các đất đai – phương tiện sản xuất – tương đương với 1,5% diện tích trồng trọt của toàn miền Bắc. Làm thế tức là lại tỏ ra bất công đối với đa số dân chúng chưa từng có được tất đất nào.

Trong việc áp dụng có sửa đổi cuộc cải cách ruộng đất, theo tinh thần sắc lệnh về tôn giáo (Điều 10) mỗi xứ đạo có linh mục được phân bổ cho trung bình một héc-ta, và mỗi xứ không có linh mục được trung bình từ 4 đến 5 sào. Cũng nên biết rằng, với tất cả thiện chí trên, chính phủ cũng chỉ có thể cấp cho mỗi đầu người bình quân 1 sào đất thôi, bởi vậy dân số miền Bắc là 13 triệu vào năm 1954, và 23 triệu vào năm 1973, còn diện tích đất có thể trồng trọt chỉ có 1605,305 héc-ta. (Nhờ nổ lực phục hóa đất bỏ hoang, năm 1973 diện tích đất lên tới 2 triệu héc-ta).

Cuộc cải cách ruộng đất, dầu có sửa chửa cho hết các điều sai sót đáng tiếc, thì cũng không làm vui lòng Giáo hội được, bởi vì Giáo hội coi của cải mình là «của thánh, bất khả xâm phạm». Người ta đồn rằng có giám mục đã công khai tuyên bố «giáo dân nào đã canh tác trên đất ruộng trước kia thuộc về Giáo hội, thì sẽ phải sa hỏa ngục đời đời», có linh mục từ chối không làm các phép «cho những ai ăn cướp trực tiếp hoặc gian tiếp đất đai thuộc về Giáo hội!»

Năm 1958, thủ tướng Phạm văn Đồng đã mời các Giám mục họp lại, để thảo luận với ông về vấn đề liên quan giữa Giáo hội và Nhà nước. Đức cha Trịnh như Khuê, giám mục Hà Nội, đã trả lời rằng, không có thể có đối thoại, bao lâu chính phủ chưa hoàn trả cho Giáo hội của cải đã tịch thu.

Sau cuộc cải cách, bà con nông dân đã được kêu gọi xây dựng hợp tác xã. Việc hợp tác xã hóa, một cách cần thiết trong một nước, mà năm 1954 đất đai bị chia nhỏ ra tột độ – 14 triệu mảnh ruộng có bờ ngăn – không sao đem cơ giới vào được, thì đối với lãnh đạo Giáo hội lại là một hình thức Cộng sản, bị Rôma lên án. «Với các hợp tác xã, của tư hữu sẽ không còn, đó là điều ngược với nguyên tắc quyền sở hữu mà thần học vẫn dạy». Thế là không sao tránh khỏi đụng độ giữa Giáo hội và Nhà nước. Có vị giám mục ra vạ tuyệt thông những giáo dân nào tham gia hợp tác xã, hay ít là từ chối không cho họ chịu các phép. Có linh mục dạy cho giáo dân rằng, hợp tác xã là hình thức canh tác ngược với luật của Giáo hội. Do vậy, người ta thấy giáo dân tham gia hợp tác xã chậm hơn người bên Lương. Chính quyền địa phương cũng có ở đó một phần trách nhiệm, như Tạp chì Học Tập, tạp chí chính thức của Đảng Lao Động, đã đang tải một bài tự phê liên quan đến vấn đề đó.

«Tại một số nơi, tư tưởng giai cấp phong kiến, luật lệ khắt khe của một vài tôn giáo, cũng như những việc làm phản động tinh vi của một số kẻ đội lốt thầy tu, đã ngăn cản nhiều việc gây ý thức công và về việc làm chủ tập thể nơi nhiều giáo dân. Đàng khác, chính quyền và cán bộ có trách nhiệm bảo vệ quyền dân chủ của nhân dân, cũng có những sai phạm. Chẳng hạn nhiều đơn vị cơ sở chưa biết quan tâm nâng cao ý thức quyền làm chủ tập thể cho giáo dân, chưa biết giúp đở họ một cách cụ thể trong việc chống lại các lực lượng phản động trong Giáo hội, nhiều cán bộ có thái độ quan liêu hách dịch đối với dân chúng, có những thành kiến hẹp hòi và tỏ ra phân biệt đối xử những công dân thuôc một tôn giáo nào đó… Vì thế, muốn phát triển mạnh mẽ các quyền dân chủ của tín đồ, cần phải rõ ràng, phần đông dân có đạo đã tham gia các hợp tác xã nông nghiệp và chẳng qua họ là những xã viên hợp tác nông nghiệp có niềm tin tôn giáo. Do đó, ngoài các tự do dân chủ bình thường, một đàng phải bảo đảm quyền làm chủ tập thể của họ trong kinh tế, chính trị và xã hội như mọi xã viên nông nghiệp khác, và đàng khác, cần hiểu rõ các đặc tính riêng của những xã viên có đức tin và bảo vệ sự tự do tín ngưỡng của họ.

Thoạt nhìn, người ta khó thấy tại sao lại có vấn để xảy ra giữa các hợp tác xã và tự do tín ngưỡng. Và cũng có người lấy làm lạ khi nghe cụ Hồ Chí Minh tuyên bố năm 1962 rằng «các sinh hoạt tôn giáo không được gây hại cho sản xuất». Muốn hiễu điều này, cần phải sống, hoặc quan sát sinh hoạt thường nhật của người Công giáo Việt Nam. Dân chúng Công giáo Việt Nam thiết tưởng là quần chúng mộ đạo nhất thế giới. Hàng ngày họ đi dự kinh lễ sớm chiều rất đông và thích rước kiệu, làm tuần tam nhật và làm nhiều việc đạo đức sùng kính khác, không những vào ngày chủ nhật, mà cả các ngày trong tuần. Tại các họ đạo nông thôn, kinh lễ buổi mai kéo dài hai ba giờ, cuộc rước dài cả buổi, cũng như các tuần Tam Nhật, thường cản trở việc sản xuất của hợp tác xã, vốn theo một lịch trình khoa học hơn. Vì thế, trong các báo chí Hà Nội, những linh mục quản xứ nào mà rút vắn giờ lễ, hoặc đổi giờ làm lễ và chầu Thánh Thể, để giáo dân tiện việc lo sản xuất, thì bị tiếng là yêu nước và cấp tiến. Có những linh mục bảo thủ còn chỉ trích các hợp tác xã vi phạm quyền tự do tín ngưỡng của xã viên, vì bắt buộc họ phải đi lao động vào các giờ, lẽ ra họ phải đi lễ hay đi đọc kinh.

Mục Lục

LỜI NÓI ĐẦU

DẪN NHẬP

CHƯƠNG I: HƯƠNG LIỆU VÀ CÁC LINH HỒN

1. HƯƠNG LIỆU VÀ ĐẠI BÁC
2. NHỮNG VIỆC CHÚA LÀM QUA BÀN TAY NGƯỜI PHÁP
3. NHỮNG VIỄN ẢNH
4. GIÁM MỤC BÁ ĐA LỘC
5. THẬP GIÁ VÀ LƯỠI GƯƠM
6. GIÁM MỤC PUY-GI-NIÊ
7. GIÁO HỘI DƯỚI CHẾ ĐỘ THUỘC ĐỊA
8. CHỦ NGHĨA PHONG KIẾN TRONG ĐẠO
9. TRONG TRẬN GIÓ XOÁY NHỮNG NĂM 30
10. THẬP GIÁ ĐƯỢC GIẢI PHÓNG

CHƯƠNG II: BINH THÁNH GIÁ, NẠN NHÂN CỦA ĐẠO QUÂN THÁNH GIÁ

1. THẬP GIÁ ĐI CHUNG VỚI NGÔI SAO,
HAY CHỐNG LẠI NGÔI SAO?
2. HỒ CHÍ MINH VÀ LÊ HỮU TỪ
3. THẬP GIÁ BIẾN THÀNH ĐẠI BÁC
4. VÀ CÁI BÃY TAI HẠI BIẾT BAO!
5. CUỘC THÁNH CHIẾN
6. CUỘC XUẤT HÀNH
7. NGƯỜI CÔNG GIÁO, TRỌNG TÂM CỦA CUỘC DI CƯ

CHƯƠNG III: GIÁO HỘI TRONG CƠN BÃO BÙNG

1. GIÁO HỘI CHIẾN THẮNG
2. HOA SEN ĐẪM MÁU
3. AI LÀ NGƯỜI CHỊU TRÁCH NHIỆM.
4. CÁC TƯỚNG TÁ MÚA MAY QUAY CUỒNG
5. ĐỐI DIỆN VỚI CHIẾN TRANH CỦA MỸ
6. GIÁO HỘI ĐỐI DIỆN VỚI VẤN ĐỀ HÒA BÌNH
7. NỖI HĂM DỌA CỦA HÒA BÌNH

CHƯƠNG IV: GIÁO HỘI TRONG KHÁNG CHIẾN

1. NGƯỜI CÔNG GIÁO YÊU NƯỚC VÀ NHỮNG NGƯỜI CÁCH MẠNG
2. NHỮNG NGƯỜI CÔNG GIÁO KHÁNG CHIẾN Ở NAM BỘ
3. CÔNG GIÁO KHÁNG CHIẾN BẮC BỘ
4. CỤ HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI GIÁO HỘI
5. NHỮNG CUỘC ĐỤNG ĐỘ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT
6. TÀI SẢN CỦA GIÁO HỘI
7. CÁC CỐ THỪA SAI
8. SỰ ĐÁP TRẢ CỦA GIÁO HỘI TRƯỚC BÀN TAY ĐƯA RA
9. NGƯỜI CÔNG GIÁO VÀ CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN THỨ HAI
10. THÁNH LỄ VÀ RƯỚC KIỆU
11. VIỆC CẬP NHẬT HÓA 
XUYÊN QUA CUỘC GIẢI PHÓNG
NHỮNG CUỘC RA ĐI
VỤ GIÁM MỤC NGUYỄN VĂN THUẬN
CHỐNG ĐỐI
CỘNG TÁC
DẤN THÂN
NHỮNG TÍN HỮU CƠ SỞ
KẾT LUẬN
HƯỚNG NHÌN VỀ TƯƠNG LAI

PHỤ LỤC :

– PHONG THÁNH
– TRỜI MỚI ĐẤT MỚI

(HẾT)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s