Hệ lụy lớn từ phát triển thủy điện ở Nghệ An (2 kỳ) – Thủy điện Nghệ An: Kiểm tra ra nhiều bất cập

Hệ lụy lớn từ phát triển thủy điện ở Nghệ An – Bài 1: Khốn khó đeo bám người dân

THẾ AN

02-10-2018 16:17
Kinhtedothi – Các dự án Thủy điện ở Nghệ An lâu nay đã và đang thi nhau mọc lên ồ ạt, khiến cho nhà cửa, hàng nghìn ha đất từng được xem là “bờ xôi, ruộng mật” gắn bó bao đời nay với người dân miền Tây xứ Nghệ đã phải tháo dỡ, dắt díu nhau ra đi.

Dự án Thủy điện Pắc Lay sẽ tác động xấu đến Đồng bằng sông Cửu Long

Song, những người dân ấy vẫn đang phải gồng mình gánh chịu cảnh nhà cửa xuống cấp, thiếu nước, thiếu tư liệu sản xuất, hạ tầng chưa hoàn thiện… diễn ra trong suốt nhiều năm qua tại các vùng tái định cư.

Khốn khó từ thủy điện

Theo số liệu từ Sở Công thương tỉnh Nghệ An cung cấp, trên địa bàn tỉnh hiện có 32 dự án thủy điện lớn, nhỏ đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, với tổng công suất 1.359,9MW. Đến thời điểm hiện nay, đã có 13 dự án thủy điện đã vận hành hòa lưới điện quốc gia, 02 dự án đang vận hành thử, 07 dự án đang được triển khai thi công và 05 dự án vẫn còn phải nằm trên “giấy” để cân đo, đong đếm triển khai.

Các dự án đã và đang được triển khai xây dựng thủy điện trên địa bàn Nghệ An cũng đã “xâm thực” mất 5.687 ha đất rừng, 1.733,3 ha đất sản xuất nông nghiệp và hơn 1 nghìn ha đất khác. Kéo theo đó là cùng gần 5000 hộ dân phải di dời đến nơi ở mới, cũng đồng nghĩa với hàng nghìn ha đất đai, ruộng vườn, nhà cửa gắn bó với bao đời của người dân ở các huyện miền Tây xứ Nghệ phải tháo dỡ, bỏ lại để nhường chỗ cho thủy điện. Song, những người dân ấy vẫn đang phải sống trong cảnh nhà cửa xuống cấp, thiếu nước, thiếu tư liệu sản xuất, hạ tầng chưa hoàn thiện…trong suốt nhiều năm qua tại nơi ở mới.

Nổi bật cho thực trạng này phải kể đến dự án thủy điện Bản Vẽ, đây là dự án đã làm cho 3.022 hộ dân ở các xã Yên Na, Yên Tĩnh, Hữu Khuông, Hữu Dương…của huyện Tương Dương phải di dời đến nơi ở mới. Tuy nhiên, hơn 10 năm qua kể từ khi chính thức được ngăn dòng vào tháng 12/2005, hàng nghìn hộ dân thuộc diện tái định cư trên địa bàn các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Thanh Chương vẫn sống trong cảnh nhà tái định cư xuống cấp, hạ tầng không đảm bảo, tư liệu sản xuất thiếu thốn… Không chỉ vây, cho đến nay khu tái định cư thuộc 2 xã Ngọc Lâm, Thanh Sơn (huyện Thanh Chương) vẫn đang tồn tại việc bồi thường, cân đối trừ đất giữa nơi đi và nơi đến vẫn chưa thực hiện được do việc vướng mắc trong công tác giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguyên nhân mà các cơ quan chức năng tỉnh Nghệ An đưa ra đó là do hồ sơ, bản đồ địa chính của đơn vị tư vấn lập từ năm 2012 đến nay chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Anh Cụt Văn P, xã Xiêng My (Tương Dương), vùng tái định cư của nhà máy Thủy điện Bản Vẽ, chia sẻ: “Về lâu dài không thể ở được nữa, bởi vì nhà họ xây bị xuống cấp quá nhiều. Nền sụt lún, tường nhà thì nứt nhiều lắm, chúng tôi cảm thấy không an toàn khi sống trong ngôi nhà này.”

Không chỉ riêng ở các khu tái định cư thủy điện Bản Vẽ, mà thực trạng này cũng đang diễn ra ở các vùng tái định cư của thủy điện Hủa Na, Khe Bố… Đó là hệ thống cấp nước sinh hoạt của một số điểm tái định cư hiện nay đã bị hư hỏng, xuống cấp. Một số hạng mục như bể nước sinh hoạt, nhà cộng đồng, đường giao thông còn thiếu khiến người dân tái định cư đang phải gồng mình sống lay lắt tại nơi ở mới. Cùng với thực trạng ấy, là do sống không quen trong môi trường mới nên không ít hộ dân tái định cư thuộc các vùng định cư liên tục hồi hương, trở về chốn cũ chấp nhận sống lênh đênh trên lòng hồ thủy điện mưu sinh bằng nghề chài lưới qua ngày.

Trao đổi với phóng viên, ông Hoàng Văn Tám, Giám đốc Sở Công thương tỉnh Nghệ An thừa nhận, những tồn tại, bất cập mà người dân di dời tới các vùng tái định cư để nhường chỗ cho việc xây dựng các nhà máy thủy điện trên địa bàn phải gánh chịu trong thời gian qua là có thật. “Hiện nay, Nghệ An đang phối hợp với các chủ đầu tư, Sở, ban ngành để từng bước tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn cho người dân tái định cư. Trước mắt, việc giao đất sản xuất cho người dân để ổn định cuộc sống sẽ được đốc thúc thực hiện trong thời gian sớm nhất” – ông Tám cho biết thêm.

Bất cập trong quy hoạch

“Hàng nghìn ha diện tích đất rừng bị triệt tiêu, nhấn chìm dưới lòng hồ thủy điện, đất bờ xôi, ruộng mật canh tác hoa màu bao đời của bà con bị xói mòn, sạt lở do tác động từ thủy điện rất lớn mà đến nay lời cảnh báo vẫn chưa hề cũ” là trăn trở của kỹ sư thủy lợi Nguyễn Quang Hòa – nguyên Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi Nghệ An, Giám đốc Trung tâm Ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ thủy lợi trong suốt thời gian qua.

Hiện, trên địa bàn Nghệ An, các dự án thủy điện được quy hoạch xây dựng theo hình bậc thang tại các vùng thượng lưu của sông Cả, sông Hiếu… Đây là những con sông phải oằn mình gánh nhiều dự án thủy điện nhất của Nghệ An.

Với thượng nguồn sông Cả chảy qua huyện Tương Dương phải gánh trên mình thủy điện Bản Vẽ (320MW), xuôi về phía hạ nguồn khoảng 50km đường chim bay là thủy điện Khe Bố (100MW). Rồi ngược lên các nhánh Nậm Mô, Nậm Nơn đầu nguồn đổ về sông Cả, tại huyện Kỳ Sơn cũng đang được triển khai quy hoạch xây dựng 11 dự án thủy điện chỉ vài chục MW trở lại. Khi dòng sông Cả chảy xuống địa phận huyện Con Cuông, thì các nhà máy thủy điện Chi Khê (41MW), Khe Thơi…cũng đua nhau chặn dòng, nắn dòng để triển khai xây dựng. Chỉ tính riêng, trên 1km dòng sông Nậm Mộ, đoạn qua xã Tà Cạ, huyện Kỳ Sơn (một hợp lưu lớn của sông Cả) đã có đến 3 dự án đã đi vào hoạt động và 1 dự án chủ đầu tư đang khảo sát xin cấp phép đầu tư gồm nhà máy thủy điện Nậm Cắn, thủy điện Nậm Mô và thủy điện Bản Cánh với tổng công suất chỉ 38MW.

Còn dọc theo thượng nguồn sông Hiếu có trên 10 dự án nhà máy thủy điện với công suất chỉ vài chục MW cũng đang được xây dựng ở huyện Quế Phong, Quỳ Châu theo bố cục bậc thang.

Kỹ sư Nguyễn Quang Hòa cho rằng, việc quy hoạch xây dựng ồ ạt các dự án nhà máy thủy điện theo bố cục bậc thang trong thời gian qua trên địa bàn Nghệ An sẽ gây ảnh hưởng rất lớn tới đời sống dân sinh. Vấn đề này cũng đã được cảnh báo tại các diễn đàn phản biện về những hệ lụy liên quan đến thủy điện nhưng các nhà chức trách vẫn phớt lờ, chấp thuận cho triển khai xây dựng hàng chục thủy điện nhỏ trên địa bàn trong thời gian qua. Việc xây dựng các nhà máy thủy điện hiện nay ngay trên hệ thống sông Cả đã khiến cho hạn hán, lũ lụt liên tục xảy ra. Đây là hệ thống sông chính cung cấp nước tưới cho các huyện đồng bằng của tỉnh Nghệ An như Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương, Đô Lương, Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành…nhưng khi lúa trổ vụ Đông Xuân và gieo trồng vụ Hè Thu đều gặp cảnh thiếu nước. Bởi theo chu trình của hàng chục năm trước khi mùa nước lên và mùa nước kiệt thì người dân đã dựa vào đây để gieo trồng nhằm tránh hạn hán, lũ lụt. Tuy nhiên, từ khi xây dựng hệ thống các nhà máy thủy điện trên sông Cả đã vận hành tích nước vào mùa kiệt, xả lũ vào mùa mưa khiến tình hình sản xuất nông nghiệp của vùng hạ lưu bị đảo lộn nghiêm trọng.

Ông Nguyễn Quang Hòa lấy ví dụ tại Bara Đô Lương được tính toán để ngăn nước tối đa ở cao trình 10,05m nhưng nay chỉ còn dưới 9m. Hoặc Bara Nam Đàn có cao trình 1,15m nhưng nay xuống dưới mức – 0,2m nước. “Thủy điện chặn dòng khiến hàng nghìn ha diện tích đất rừng bị nhấn chìm. Phía dưới vùng hạ lưu sông Cả thì giảm rất lớn lượng phù sa bồi đắp hàng năm mà thay vào đó là do tác động của dòng chảy nên tình trạng sạt lở, xói mòn đã xảy ra ở các huyện Đô Lương, Thanh Chương, Nam Đàn. Lâu nay chúng ta cứ hô hào chung tay chống biến đổi khí hậu ở đâu chứ ngay việc làm thủy điện đã thực sự tiếp tay cho quá trình biến đổi khí hậu nhanh hơn rồi” – kỹ sư Nguyễn Quang Hòa cho biết.

Hệ lụy lớn từ phát triển thủy điện ở Nghệ An – Bài 2: Giải quyết thế nào?

THẾ AN

04-10-2018 08:34
Song, trên thực tế thì ngược lại, mới đây nhất là việc xả tràn của các nhà máy vào đợt lũ cuối tháng 8 và đầu tháng 9 vừa qua đã làm cho người dân các huyện miền Tây Nghệ An …khốn đốn.

 

Hệ lụy dai dẳng

Từ 10 năm trở lại đây, việc triển khai các dự án xây dựng nhà máy thủy điện đã được tỉnh Nghệ An tập trung đôn đốc nhằm giải phóng mặt bằng, lập phương án tái định cư nhường chỗ cho chủ đầu tư triển khai. Từ đó, các dự án nhà máy thủy điện đã nhanh chóng ngăn dòng, vận hành tua bin để hòa lưới điện quốc gia. Thế nhưng, có một bất cập mà thủy điện trên thượng nguồn sông Cả, sông Hiếu…mang lại đó là hệ lụy ảnh hưởng rất lớn về môi trường sống của người bị đảo lộn, hàng nghìn ha rừng bị xóa sổ. Các chuyên gia đã cảnh báo về hệ thống thủy điện bậc thang ở Nghệ An “băm nát” các dòng sông trong suốt thời gian qua nhưng nhiều dự án chỉ có công suất vài chục MW vẫn được chấp thuận xây dựng.

Trong tổng số 32 dự án nhà máy thủy điện lớn, nhỏ được phê duyệt quy hoạch xây dựng trên địa bàn Nghệ An, hiện nay đã có 13 dự án đã vận hành hòa lưới điện quốc gia với tổng công suất 780,5MW và 2 dự án cũng đang chạy thử với tổng công suất 75MW. Hàng năm, thủy điện Nghệ An cũng đã đóng góp 2,2 tỷ Kw cho điện lưới quốc gia. Cùng với đó là việc đóng góp cho ngân sách địa phương, chỉ tính riêng trong năm 2017, thủy điện ở Nghệ An đã đóng góp nguồn thu ngân sách khoảng 532 tỷ đồng. Đây là con số không hề nhỏ cho ngân sách Nghệ An, nhưng theo phân tích của các chuyên gia kinh tế thì nếu so sánh với tổng gần 10 ngàn ha diện tích rừng, đất lúa, hoa màu…thì chưa nghĩa lý gì. Bởi việc tích tụ, tạo thảm thực vật rừng, phù sa hoa màu phải mất hàng chục thậm chí hàng trăm năm mới có được. Tuy nhiên, khi thủy điện về, toàn bộ diện tích đất rừng, đất lúa sinh lợi rất lớn hàng năm cho công đồng nay không còn nữa. Ngoài ra, tỷ lệ đói nghèo, không có việc làm, tư liệu sản xuất thiếu ở nơi tái định cư mới đã khiến cuộc sống của người dân phải “tha phương cầu thực” cũng vì thủy điện.

Chủ tịch UBND huyện Kỳ Sơn Nguyễn Thanh Hoàng cho rằng, nếu triển khai các dự án thủy điện trên địa bàn thì sẽ nhấn chìm số lượng lớn diện tích đất trồng lúa nước của người dân. Chỉ tính riêng khi thực hiện xây dựng thủy điện Ca Nan thì sẽ có khoảng 9ha lúa nước bị nhấn chìm. Trong khi đó, toàn huyện Kỳ Sơn chỉ có khoảng 300ha lúa nước nên việc triển khai quá nhiều dự án nhà máy thủy điện nhỏ thì nguy cơ hàng trăm ha lúa nước của bà con sẽ không còn nữa.

Thủy điện không chỉ điều tiết nước tưới tiêu như chủ đầu tư thuyết trình mà chu trình vận hành thì đi ngược lại. Ngay như tại xã Cà Tạ với 1km chiều dài sông Nậm Mộ nhưng có tới 3 nhà máy thủy điện ngăn dòng. Điều đáng nói là hàng năm, các dự án thủy điện này tiến hành vận hành xả đáy khiến thủy sinh bị cuốn trôi, xói mòn sạt lở phía hạ lưu thường xuyên xảy ra.

Không chỉ Kỳ Sơn, ngay địa bàn huyện Tương Dương có tới 3 dự án thủy điện đã hòa lưới điện quốc gia (Bản Vẽ 320MW, Khe Bố 100MW, Nậm Nơn 20MW) nhưng hiện nay vẫn còn 25 bản làng của 5 xã sống ngay dưới chân nhà máy thủy điện vẫn chưa có điện lưới sinh hoạt. Thực trạng này cũng đang tồn tại ở hơn 100 bản làng (thuộc 8 huyện miền núi trên địa bàn tỉnh Nghệ An) đang sống trong cảnh “khát” điện lưới trong suốt thời gian qua.

Trao đổi với phóng viên, ông Lê Hồng Vinh – Trưởng ban Kinh tế – Ngân sách HĐND tỉnh Nghệ An cho rằng, những bất cập xung quanh các dự án thủy điện trong thời gian qua một phần cũng do cấp ủy chính quyền chưa làm tốt công tác quản lý nhà nước trên địa bàn. Công tác kiểm tra, giám sát, phản biện, kiến nghị xử lý các sai phạm do thủy điện gây ra chưa được kịp thời, hiệu quả. Mặt khác, việc tham mưu, khảo sát, lập quy hoạch của các Sở, ban ngành đối với các dự án thủy điện cũng chưa được khách quan, khoa học. Việc đánh giá cái được, cái mất khi tiến hành phê duyệt xây dựng thủy điện trên hệ thống thượng nguồn sông Lam, sông Hiếu…cũng chưa được cụ thể.

Nghịch cảnh vùng cao

Ngoài những bất cập mà người dân các huyện miền Tây đã phải gánh chịu dai dẳng hàng chục năm nay do các dự án thủy điện ồ ạt mọc lên, thì chưa năm nào tình trạng ngập lụt tại một số huyện miền núi tỉnh Nghệ An lại nặng nề như đợt mưa lũ xảy ra trong tháng 8 và đầu tháng 9/2018 vừa qua. Nhiều bản làng đã bị chia cắt, nhà cửa bị cuốn trôi, các công trình hạ tầng bị sạt lở, hư hỏng. Dư luận cho rằng trong số nhiều nguyên nhân gây nên ngập lụt, thiệt hại nặng nề như vậy một phần là do một số nhà máy thủy điện tiến hành xả lũ. Đồng thời kiến đề nghị các nhà máy thủy điện gây thiệt hại cho người dân và cho các địa phương vùng hạ du thì cần phải bồi thường (chứ không phải hỗ trợ) để người dân và các địa phương sớm khôi phục lại sản xuất, ổn định cuộc sống, sữa chữa lại các công trình hạ tầng bị thiệt hại.

Theo Phó Chủ tịch UBND huyện Con Cuông Lô Xuân Thao nhận định, đợt lũ lụt vừa qua là một nghịch lý, chỉ xảy ra sau khi trên dòng sông Lam xây dựng hệ thống các nhà máy thủy điện. “Trời thì nắng chang chang mà lại có lũ lụt, cùng thời điểm này, các nhà máy thủy điện xả lũ thì nguyên nhân là do các nhà máy thủy điện chứ khó cho là có nguyên nhân nào khác. Ở đâu thì tôi không rõ, nhưng cán bộ, nhân dân huyện Con Cuông đều xác định lũ lụt lớn thế này là do các nhà máy thủy điện xả lũ”.

Tiêu điểm cho những kiến nghị này, là huyện Tương Dương đã có Báo cáo số 246/BC-UBND gửi đến các cơ quan có thẩm quyền về “Tình hình lũ lụt do xả lũ của Thủy điện Bản Vẽ gây ra trên địa bàn huyện Tương Dương”. Tại Báo cáo này, ngoài nêu tình hình thiệt hại, những nguyên nhân dẫn đến lũ lụt, UBND huyện Tương Dương kiến nghị các nhà máy thủy điện: Bản Vẽ, Nậm Nơn, Khe Bố… cần kiểm tra, khảo sát lại cốt nước ngập để cắm lại mốc ngập thượng lưu và hạ lưu; có phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với các hộ dân bị ảnh hưởng sau đợt xả lũ vừa qua; sửa chữa những công trình công cộng bị ảnh hưởng, hư hỏng như đường 543C, 543B, kè sông Lam đoạn qua thị trấn Hòa Bình, đường điện 04 và đường điện viễn thông, các cầu treo…

Đồng thời, huyện Tương Dương kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo Ban Chỉ huy PCTT-TKCN tỉnh và các sở, ngành xem xét hạ mực nước dâng bình thường của Thủy điện Khe Bố xuống dưới cốt 65m; đối với thủy điện Bản Vẽ, đề nghị thực hiện quy trình vận hành liên hồ chứa theo đúng Quyết định số 2125/QĐ-TTg và đưa độ cao mức nước trước mùa mưa lũ thấp hơn 192,5m; đề nghị thành lập đoàn kiểm tra liên ngành để đánh giá thực tế về thiệt hại, làm rõ nguyên nhân và trách nhiệm của các thủy điện, các đơn vị liên quan để có chính sách khắc phục các thiệt hại; đồng thời đánh giá lại quy trình vận hành liên hồ chứa, cắm lại mốc ngập lũ của các lòng hồ để có phương án phòng tránh, xử lý; xây dựng hệ thống thông tin, cảnh báo lũ sớm.

Liên quan đến vấn đề lũ lụt miền Tây của tỉnh, trao đổi với phóng viên trong ngày 4/9/2018 tại huyện Tương Dương, Phó Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An Nguyễn Văn Thông cho rằng: “Chúng ta ghi nhận những đóng góp của các Nhà máy thủy điện trong nhiều năm qua. Nhưng từ các đợt lũ lụt trong tháng 8/2018, cần đánh giá những tác động của các nhà máy thủy điện. Đánh giá để đề ra được những giải pháp khắc chế, triệt tiêu những hệ lụy; đồng thời qua đó để các nhà máy thủy điện phải nhìn nhận, có sự điều chỉnh và có trách nhiệm với xã hội…”.

Lũ lụt vùng cao là một nghịch cảnh đã gây những thiệt hại to lớn về tài sản cho nhân dân miền Tây xứ Nghệ, bên cạnh đó còn tạo ra tâm lý lo lắng, bất ổn cho nhân dân. Bởi vậy, sau những đợt lũ lụt vừa qua, các cơ quan có thẩm quyền tỉnh Nghệ An phải nhìn nhận sự bất ổn lâu dài để tiến tới việc cần có những phương án nhằm hạn chế tác hại của các dự án thủy điện gây nên.

Thủy điện Nghệ An: Kiểm tra ra nhiều bất cập

THẾ AN

09-11-2018 13:40
Kinhtedothi – Sau đợt lũ cuối tháng 8 và đầu tháng 9, gây một phần thiệt hại vùng hạ du các nhà máy và làm biến đổi dòng chảy, gây ngập lụt, hư hỏng, sạt lở nhà dân, đường giao thông và công trình hạ tầng, ngày 28/9/2018, UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành Quyết định số 4347/QĐ-UBND thành lập đoàn kiểm tra liên ngành đánh giá toàn diện tác động của thủy điện đối với việc điều tiết, ngăn lũ trên địa bàn tỉnh.

Thủy điện Đăk Di 4 không thực hiện đúng cam kết
 

 

Chỉ rõ nhiều bất cập

Sau 1 tháng thực hiện kiểm tra theo Quyết định 4347/QĐ-UBND, ngày 29/10/2018, đoàn kiểm tra liên ngành có Văn bản số 395/BC.ĐKTLN báo cáo đánh giá toàn diện tác động của các công trình thủy điện đối với việc điều tiết, ngăn lũ trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
 

“>

Tại Văn bản này, đoàn kiểm tra liên ngành đã chỉ ra nhiều bất cập trong việc xả lũ của 3 nhà máy thủy điện Bản Vẽ, Khe Bố, Chi Khê (vận hành theo Quyết định số 2125/QĐ-TTg ngày 1/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ) như sau: Việc vận hành xã lũ đúng theo quy định, quy trình của Thủ tướng Chính phủ, tuy nhiên vẫn gây một phần thiệt hại vùng hạ du các nhà máy và làm biến đổi dòng chảy, mực nước hạ du dâng cao đột ngột góp một phần làm gia tăng việc sạt lở bờ sông, suối vùng hạ du của các nhà máy; gây ngập lụt, hư hỏng, sạt lở nhà dân, đường giao thông và công trình hạ tầng các huyện Tương Dương, Con Cuông và Kỳ Sơn.

Đối với các nhà máy thủy điện vận hành đơn hồ theo quy trình của Bộ Công Thương, UBND tỉnh: Các hồ này không có dung tích phòng lũ; các hồ chứa vận hành đúng quy trình, quy định, tuy nhiên vùng hạ du của một số nhà máy cũng bị ảnh hưởng một phần do lũ về quá lớn, dòng sông bị thu hẹp gây xói lở bờ sông vùng hạ du của các nhà máy và gây ngập lụt, sạt lở nhà dân, đường giao thông… Tổng cộng thiệt hại do 2 cơn bão số 3, số 4 và đợt lũ từ ngày 28 đến 31/8 lên đến trên 1.857 tỷ đồng.

Những tồn tại trong quá trình vận hành điều tiết lũ của các thủy điện được chỉ rõ, đó là: Công tác dự báo lưu lượng về hồ thủy điện Bản Vẽ vẫn còn sai số, do 80% diện tích lưu vực hồ chứa thủy điện Bản Vẽ ở Lào, không kiểm soát, theo dõi được; Đài Khí tượng thủy văn khu vực Bắc Trung Bộ không có số liệu để dự báo lũ về.

Một số đập công suất xả lũ tối đa nhỏ hơn lưu lượng lũ đổ về (Khe Bố, Bản Ang, Chi Khê, Nậm Mô) làm nước thượng nguồn các hồ thủy điện dâng nhanh quá cao trình đã đền bù giải phóng mặt bằng gây nhiều thiệt hại cho người dân sinh sống trong khu vực này. Ngoài ra, chính các đập thủy điện làm co hẹp dòng chảy, tạo cao trình chênh lệch lớn giữa thượng lưu và hạ lưu của đập dẫn đến khi xả lũ tạo thành lưu tốc nước quá lớn làm sạt lở nhiều hơn cho vùng hạ du, làm tăng thiệt hại cho nhân dân (nhất là khu vực gần thân đập) trong đợt mưa lũ. Lưu lượng xả lũ của các thủy điện thay đổi nhanh, chênh lệch lớn làm gia tăng thiệt hại, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt của người dân.

Công tác quan trắc, dự báo nước thượng nguồn của các dự báo thủy điện còn hạn chế dẫn đến việc xả lũ không chủ động, lưu lượng xả liên tục thay đổi lớn trong thời gian ngắn làm cho lũ vùng hạ du liên tục có thay đổi lớn gây khó khăn cho công tác phòng, chống lũ, làm gia tăng thiệt hại do lũ gây ra.
 

Hành lang thoát lũ chưa đảm bảo an toàn khi hạ mực nước hồ thủy điện Bản Vẽ về mực nước trước lũ. Do phát triển kinh tế, xây dựng nhà cửa, sản xuất nông nghiệp, làm đường giao thông… lấn chiến lòng sông làm co hẹp tiết diện thoát lũ; chưa có bản đồ ngập lụt vùng hạ du của các thủy điện theo quy định…

Khẩn trương khắc phục hậu quả

Từ việc chỉ ra những tồn tại, bất cập trong quá trình vận hành điều tiết lũ của các thủy điện, đoàn kiểm tra liên ngành đã nêu ra nhiều giải pháp phải cần sớm thực hiện, đó là: Khẩn trương khắc phục hậu quả đợt mưa lũ; hỗ trợ các gia đình bị thiệt hại; bố trí chỗ ở tạm cho các hộ dân bị mất nhà ở hoặc phải di dời; tổ chức cứu trợ khẩn cấp lương thực, nhu yếu phẩm, thuốc men, đồ dùng sinh hoạt cho các gia đình có nhà bị trôi, bị sập, phải di dời khẩn cấp… không được để cho người dân bị đói hoặc không có nơi ở.

Triển khai đánh giá, thống kê thiệt hại để chủ động hỗ trợ, khắc phục hậu quả. Chỉ đạo vận hành, giám sát chặt chẽ việc xả lũ các hồ chứa thủy điện đảm bảo lợi ích phát điện, an toàn hồ đập và tính mạng, tài sản, cơ sở hạ tầng của nhân dân và Nhà nước. Rà soát, đánh giá các khu dân cư bị ngập lụt phía hạ du lòng hồ thủy điện để lập quy hoạch xây dựng hạ tầng, sắp xếp bố trí dân cư ra khỏi khu vực nguy hiểm; sửa chữa các công trình hạ tầng bị hư hỏng để sớm ổn định đời sống nhân dân.

Các nhà máy thủy điện Nậm Mô, Bản Ang, Nậm Nơn, Khe Bố, Chi Khê thực hiện nạo vét lòng hồ theo định kỳ 2 năm một lần. Nếu không nạo vét thì phải hạ thấp mực nước dâng bình thường để đảm bảo an toàn cho công trình, lòng hồ và hạ du khi vận hành xả lũ.

Đoàn kiểm tra liên ngành yêu cầu các công ty thủy điện phối hợp với cơ quan chức năng ở địa phương kiểm tra thiệt hại vùng hạ du, khu vực lòng hồ và có phương án hỗ trợ, đền bù kịp thời cho các địa phương. Cụ thể, đền bù di dời cho những hộ dân chưa được đền bù nằm trong phạm vi mốc hành lang bảo vệ nguồn nước và đền bù thiệt hại cho những hộ bị ngập trên mốc hành lang bảo vệ nguồn nước.

Hỗ trợ thiệt hại vùng hạ du nhà máy thủy điện bị ngập lũ. Thực hiện nghiêm túc phương án phòng, chống lũ cho hạ du đã được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt; các hồ chứa đã đi vào vận hành thì phải chủ trì và chịu trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương xây dựng phương án phòng, chống lũ lụt cho vùng hạ du theo các kịch bản và có bản đồ ngập lụt theo từng kịch bản; cắm mốc theo các kịch bản và có phương án di dời những nhà bị ảnh hưởng…

Tại Văn bản số 395, đoàn kiểm tra liên ngành còn có nhiều kiến nghị, đề xuất lên Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương và UBND tỉnh. Trong đó, đáng lưu ý là đề nghị UBND tỉnh đưa ra khỏi quy hoạch, rút giấy phép đầu tư các dự án thủy điện không khả thi, hiệu quả thấp, chậm tiến độ hoặc chưa triển khai, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, đời sống nhân dân (Mỹ Lý, Nậm Mô 1, Xốp Cốc…); không quy hoạch thêm các thủy điện đang khảo sát (Cẩm Sơn, bản Pủng, bản Bà…); đề nghị thuê một viện khoa học tư vấn đánh giá tổng thể và toàn diện những tác động của thủy điện trên địa bàn tỉnh một cách khoa học và khách quan.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s