Một số tiến bộ kỹ thuật hiện nay của nông nghiệp lúa

Ts Trần Văn Đạt

image004Lúa gạo là thức ăn căn bản của hơn phân nửa dân số thế giới hay hơn 3,3 tỉ người, trong đó Châu Á chiếm 90% tổng sản xuất và tiêu thụ. Năm 2013, thế giới sản xuất 747 triệu tấn lúa trên diện tích 161 triệu ha và trao đổi mậu dịch toàn cầu độ 37,5 triệu tấn gạo (FAO, 2014). Theo phỏng đoán Cơ quan FAO, đến năm 2050 dân số sẽ tăng đến 9,6 tỉ người, thành phố sẽ mở rộng thêm, diện tích đất trồng lúa bị thu hẹp dần, năng suất lúa tăng chậm và mức độ sản xuất lúa gạo hiện nay không thể bắt kịp nhu cầu dân số tăng cao lúc đó, nếu con người không đạt được những tiến bộ kỹ thuật đáng kể như đã thấy trong Cách Mạng Xanh cuối cùng. Cuộc Cách Mạng Xanh này xảy ra trên thế giới trong thập niên 1970 và 1980, nhờ vào khám phá các gen lùn lúa mì của Nhựt Bổn và áp dụng kỹ thuật lai tạo tuyển chọn di truyền của các chuyên gia Mỹ và Á Châu. Tiếp tục đọc “Một số tiến bộ kỹ thuật hiện nay của nông nghiệp lúa”

Nền nông nghiệp Việt nam giữa ngã ba đường

Khoảng một phần tư thế kỷ vừa qua, nền nông nghiệp Việt Nam đã có những bước bước tiến khổng lồ. Trong suốt những năm 1990, người làm nông quy mô nhỏ đã có những cải tiến vững chắc về năng suất lúa kỹ thuật thâm canh và những cải tiến hơn thế đã đóng vai trò trung tâm trong thành tựu của Việt Nam về xóa đói giảm ngoài, an ninh lương thực quốc gia và ổn định xã hội. Việt Nam đã từng trải qua nạn đói nhưng hiện nay, tỷ lệ thực phẩm sẵn có trên đầu người của nước đứng ở vị trí cao trong các nước thu nhập trung bình. Rất nhiều nước đang học hỏi thành công về an ninh lương thực của Việt Nam. Năng suất lúa bình quân của Việt Nam hiện nay trong số những nền kinh tế Châu Á mới nổi, chỉ đứng sau Trung Quốc. VN cũng đạt được tăng trưởng bùng nổ trong xuất khẩu nông nghiệp và hiện nay đang đứng trong 5 nước xuất khẩu lớn nhất ở nhiều sản phẩm đa dạng như tôm, cà phê, hạt điều, gạo và tiêu.

Tuy nhiên thành tựu của Việt Nam về năng suất nông nghiệp và xuất khẩu, trở ấn tượng hơn so với hiệu suất, phúc lợi của nông dân và chất lượng sản phẩm. Việt Nam tụt hậu hơn các nước trong khu vực về nhiều yếu tố. Liên quan hệ đến đất nông nghiệp, lao động và năng suất sử dụng nước và năng suất cho các nhân tố tổng hợp, đã từng tăng mạnh ở, nhưng những yếu tố này lại trên đà sụt giảm những năm gần đây. Một hố sâu ngăn cách được hình thành giữa thu nhập nông nghiệp và phi nông nghiệp, và bất bình đằng thu nhập tăng cao ở khu vực nông thôn. Hầu hết giao dịch nông nghiệp ở Việt Nam đến từ nguyên liệu thô, đặc biệt với mức giá thấp hơn so với những đối thủ cạnh tranh hàng đầu khác do chất lượng và các khác biệt. Trong nước, an toàn thực phẩm là mối quan tâm ngày càng tăng cao. Tiếp tục đọc “Nền nông nghiệp Việt nam giữa ngã ba đường”

Tại sao nhân lực trình độ cao ít về nông thôn lập nghiệp?

Hai năm trước, World Bank xuất bản một ấn phẩm mang tên Đổi mới Nông nghiệp Việt Nam: Nhiều giá trị hơn từ đầu tư ít hơn (Transforming Vietnamese Agriculture: Gainning More from Less, 2016). Báo cáo này đã chỉ rõ những khó khăn, thách thức mà nông nghiệp Việt Nam đang gặp phải và đưa ra những giải pháp cũng như dự đoán những thành tựu tiềm năng từ những giải pháp này. Báo cáo này cũng chỉ ra những thách thức và đòi hỏi đổi mới để tăng tính khả thi của các giải pháp đó.

Báo cáo của World Bank đã chỉ ra Nông nghiệp Việt Nam cần phải đổi mới theo hướng thân thiện với môi trường hơn, tăng trưởng dựa vào việc tăng hiệu suất sử dụng yếu tố đầu vào, bao gồm tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, năng lượng) và tăng năng suất lao động. Cạnh tranh thông qua chất lượng và thương hiệu sản phẩm hơn là chỉ cạnh tranh dựa vào giá thành. Tiếp tục đọc “Tại sao nhân lực trình độ cao ít về nông thôn lập nghiệp?”

Để không ai bị bỏ lại phía sau

  • NGUYỄN QUANG ĐỒNG 
(CHUYÊN GIA CHÍNH SÁCH CÔNG VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN TRUYỀN THÔNG IPS)
  • 18.03.2018, 05:55

TTCT – Toàn văn CPTPP cuối cùng cũng đã được công bố. Và như mọi cuộc chơi kinh tế khác, khó có chuyện lợi ích mà hiệp định mang lại sẽ được phân bổ đồng đều cho mọi nhóm dân cư, mọi doanh nghiệp. Sẽ có người hưởng lợi nhiều và sẽ có những người thua thiệt.

Để không ai bị bỏ lại phía sau
Nông nghiệp sẽ chịu sức ép lớn từ CPTPP trong khi chẳng mấy nông dân hiểu biết chuyện gì sẽ xảy ra sắp tới trong lĩnh vực của mình. Ảnh: MAI VINH

Câu hỏi lớn đặt ra là những nhóm thua thiệt là ai, bị tác động đến mức độ nào? Và theo đó, bài toán tiếp theo mà từng chính phủ, trong đó có Việt Nam, sẽ cần phải giải là chính sách nội địa trong từng nước sẽ phải điều chỉnh thế nào – để ít những nhóm thiệt thòi, những nhóm yếu thế – qua can thiệp chính sách từ chính phủ, được san sẻ lợi ích từ Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), hoặc chí ít ra cũng không bị “bỏ lại phía sau”. Tiếp tục đọc “Để không ai bị bỏ lại phía sau”

Trồng một cây

  • VŨ MỸ HẠNH – TRẦN NGUYỄN NGUYÊN – LÊ XUÂN HÀ – ĐINH QUANG SƠN – HẰNG MAI
  • TTCT – 05.03.2018, 08:54

Năm 1977, học giả Kirkpatrick Sale đã hỏi kinh tế gia người Đức E.F. Schumacher: “Dựa vào những hiểu biết sâu sắc về kinh tế, xã hội của mình, ông có thể đưa ra lời khuyên nào có tính hoàn toàn chính trị không?”. Schumacher trả lời: “Hãy trồng một cây!”.

>> Đời luôn sẵn kẻ mộng mơ

Trồng một cây? Đó lại là một lời khuyên chính trị hay sao? Và đó là câu chuyện ở phương Tây nửa sau thế kỷ 20. Nhưng ở Việt Nam, nửa đầu thế kỷ 19, “trồng một cây” đã là một quyết định chính trị rồi. Theo sách Quốc sử di biên, năm 1831, vua Minh Mạng đã ban chiếu có đoạn: “Chiếu sai các thành trấn, thành phủ và đường quan đều trồng cây mít, cách 5 thước trồng một cây. Đê sông lớn, đê sông nhỏ đều trồng cây liễu; các vườn tược bỏ hoang đều phải trồng đay gai”.Đến đầu thế kỷ 21 này, khi rừng tự nhiên mất đi với tốc độ chóng mặt, lũ lụt năm sau gây hậu quả nặng nề hơn năm trước, không chuyện gì chính trị và thời sự hơn là việc “trồng một cây”. Và không gì hay hơn để bắt đầu bằng việc nghe những người trồng cây kể chuyện của họ.
TRỒNG MỘT CÂY
Bờ kè An Nhiên trước lũ. (Ảnh: trang trại An Nhiên cung cấp)

Tiếp tục đọc “Trồng một cây”

Đồng bằng Sông Cửu Long: Những thách thức hiện nay và ngày mai

TS04/04/2016 11:14 Nguyễn Ngọc Trân

Hiện nay và trong thời gian tới, ĐBSCL phải đương đầu với ít nhất hai thách thức toàn cầu, một thách thức khu vực và một thách thức từ chính sự khai thác đồng bằng. Toàn cầu, đó là biến đổi khí hậu, nước biển dâng, và toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập quốc tế. Các thách thức đó không tác động riêng lẻ mà cùng nhau và liên hoàn tác động, nhân lên hậu quả của các tác hại là thách thức tổng hợp đối với sự phát triển bền vững của đồng bằng.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nằm ở ngoài cùng của châu thổ sông Mekong giáp với biển, được hình thành từ khoảng 6000 năm nay, từ trầm tích mà sông Mekong tải ra biển cộng với quá trình biển lùi. Nước và trầm tích là hai yếu tố thuộc về bản chất của đồng bằng.
Tiếp tục đọc “Đồng bằng Sông Cửu Long: Những thách thức hiện nay và ngày mai”

Biến động bờ biển Sóc Trăng – Bạc Liêu – Cà Mau qua phân tích ảnh vệ tinh (1973-2014)

ĐMT – ON 

Manon Besset, Edward J. Anthony, Guillaume Brunier et Philippe Dussouillez

  1. Giới thiệu

Đồng bằng sông Cửu Long (hình 1) được coi là đồng bằng lớn thứ ba trên thế giới với diện tích gần 100.000 km² (Coleman và Huh, 2004). Với 18 triệu dân, ĐBSCL thâm canh nông nghiệp gồm ruộng lúa, cây ăn quả cũng như nuôi tôm và cá, từng loại chiếm 60%, 70% và 60% tổng sản lượng của Việt Nam (Uỷ ban sông Mekong, 2010 ). ĐBSCL được mô tả như vựa lúa của Đông Nam Á, được nối với một con sông với chiều dài 4.750 km và lưu vực thoát nước khoảng 832.000 km² (Milliman và Ren, 1995). Lưu lượng nước trung bình ước tính của sông Mekong khoảng 14.500 m³/s (Uỷ ban Sông Mekong, 2010). Chế độ thuỷ văn hàng năm theo mùa với một mùa lũ (tháng 5 đến tháng 10), trong đó trầm tích của sông được đưa đến đồng bằng và bờ biển. Ước tính tải lượng trầm tích hàng năm của sông Mekong tại Kratie, Campuchia, chỉ ở thượng nguồn đồng bằng (hình 1), dao động từ 50 đến 160 Mt. Gió mùa Ấn Độ cũng tương ứng với sóng năng lượng thấp từ phía tây nam gây suy yếu dòng dọc bờ về phía Đông Bắc. Trong mùa này, lượng bùn cao từ sông Mekong chủ yếu lắng đọng trong khu vực gần bờ biển của các cửa sông phân lưu (Wolanski et al, 1998;.. Unverricht et al, 2013), khác với với mùa khô, lượng bùn mang tới do sóng mạnh bởi gió Đông Bắc Thái Bình Dương (hình 1). Trầm tích vận chuyển dọc theo phía tây nam từ cửa sông bởi những đợt gió tín phong, sức gió và thủy triều. Dải triều giảm từ khoảng 3m vào mùa xuân dọc theo bờ biển Nam Trung Hoa xuống dưới 1m ở Vịnh Thái Lan, cũng như vùng biển được che chắn từ các sóng theo mùa Thái Bình Dương có năng lượng cao hơn.

Vùng ĐBSCL phát triển nhanh để hình thành đường bờ dài 700 km ở Biển Đông từ 5,3 đến 3,5 ngàn năm với tốc độ bồi tụ lên đến 16 m/năm (Tạ et al., 2002). Khi tiếp xúc với sóng biển ngày càng tăng, tỷ lệ này giảm xuống dưới 10 m/năm ở cửa sông. Tuy vậy, tỷ lệ này vẫn ở mức cao lên đến 26 m/năm trong khu vực Cà Mau ở phía tây nam (Ta và cộng sự, 2002). Sự chênh lệch về tỷ lệ này là do hình thái lệch của đồng bằng về phía tây nam (hình 1). Sự khác biệt này cũng  phản ánh sự biến đồi kích thước hạt, từ cát ưu thế ở cửa sông, nơi bị chi phối bởi các giồng cát (Tamura et al., 2012), đến bùn ưu thế khu vực phía tây trong quá khứ là rừng ngập mặn.

Hình 1: Khu vực nghiên cứu. A: Lưu vực sông Mekong và phần nội địa với sáu lưu vực sông. B: Vùng ĐBSCL Việt Nam. Đồng bằng và một phần mạng lưới kênh rạch và đê. C: Sóng Biển Đông. (Dữ liệu Wavewatch III từ Trung tâm Dự báo Môi trường Quốc gia (NCEP) Tiếp tục đọc “Biến động bờ biển Sóc Trăng – Bạc Liêu – Cà Mau qua phân tích ảnh vệ tinh (1973-2014)”

Hoạt động phi nông nghiệp trong phát triển nông thôn: Chiến lược Nông thôn, Ngân Hàng Thế Giới, 2001

Download báo cáo tại đây

 

1.     Lời tựa

Giảm nghèo là một mục tiêu bao trùm của World Bank, và với 75% người nghèo trên toàn thế giới sống ở khu vực nông thôn, phát triển nông thôn là cấu phần quan trọng để tiến tới hoàn thành mục tiêu giảm nghèo. Theo yêu cầu của Giám đốc Ngân hàng Thế giới – WB, Wolfensohn, bộ phận phụ trách vấn đề nông thôn của WB đã soạn thảo chiến lược phát triển nông thôn sửa đổi, Tiếp cận Người nghèo ở nông thôn. Chiến lược này được thiết kế dựa trên liên kết chặt chẽ với các vùng và các cơ quan ban ngành có hoạt động liên quan đến vấn đề nông thôn. Các mục tiêu chủa chiến lược mới này nhằm hồi phục các hoạt động của WB ở nông thôn bằng cách a) Điều chỉnh khung chiến lược; và b) thiết lập các chương trình bao gồm các kế hoạch hành động cụ thể và khả thi. Chiến lược phát triển nông thôn mới đưa ra một tình hình nông thôn khác so với trước đây, và một dân số nông thôn đang phải đối mặt với nhiều vấn đề mới, đặc biệt là các thách thức và cơ hội mà người nghèo phải đối mặt trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tầm nhìn và cách thực thi của chiến lược phát triển mới được xây dựng dựa trên bài học thành công trong quá khứ cũng như kết hợp các ý tưởng mới từ các mô hình phát triển khác. Tiếp tục đọc “Hoạt động phi nông nghiệp trong phát triển nông thôn: Chiến lược Nông thôn, Ngân Hàng Thế Giới, 2001”

Vietnam’s rice paddies offer Japan’s farmers chance to grow

asia.nikkei.com

Local cultivation in emerging Asian markets proves cheaper than exports

HIDEKI SHINOHARA, Nikkei staff writer

A woman wearing a traditional hat sits in a rice field outside Hoi An, Vietnam. © Reuters

NIIGATA, Japan — Japan’s rice farmers are venturing into the rest of Asia to grow their crops locally. Supported by an increase in the number of Japanese restaurants across the region, the farmers are teaming up with locals to apply their expertise, hoping to ride the strong brand power that Japonica rice enjoys.

The trend lets locals indulge their taste in high-quality Japanese rice without paying stratospheric prices for imported versions, as some wealthy Chinese are doing. Tiếp tục đọc “Vietnam’s rice paddies offer Japan’s farmers chance to grow”

VN seeks to accelerate agricultural restructuring

Last update 10:28 | 04/02/2018

Accelerating agricultural restructuring towards large-scale and high-tech production became critical for the sector involving 70 per cent of the country’s population but contributing just below 20 per cent of the country’s gross domestic product (GDP).

VN seeks to accelerate agricultural restructuring, vietnam economy, business news, vn news, vietnamnet bridge, english news, Vietnam news, news Vietnam, vietnamnet news, vn news, Vietnam net news, Vietnam latest news, Vietnam breaking news

Avocado fruits were packaged for export. Viet Nam is seeking measures to promote exports of agricultural products. 

At a recent working session with the Prime Minister’s economic consultants team, Minister of Agriculture and Rural Development Nguyen Xuan Cuong said the agricultural sector was facing growing competition and technical barriers.

Cuong said the restructuring process helped improve the production capacity significantly with many products now in surplus. Tiếp tục đọc “VN seeks to accelerate agricultural restructuring”

Đêm lạnh Sài Gòn, đủ kiểu ngủ ngoài trời của người vô gia cư

Trong lúc nhiều gia đình đang say giấc thì đâu đó tại những góc đường, trạm xe buýt, gầm cầu…, không ít người vô gia cư đang nằm co ro trong đêm lạnh giữa khuya Sài Gòn. Những ngày cuối năm, Sài Gòn lạnh và người ngoài đường thì co ro.
Ông Trần Văn Khỏi (Thái Bình) lang thang ở TP.HCM hơn 8 năm nay và đêm đêm ngủ trên cầu Calmette /// Ảnh: Lam Ngọc

 Ông Trần Văn Khỏi (Thái Bình) lang thang ở TP.HCM hơn 8 năm nay và đêm đêm ngủ trên cầu Calmette

ẢNH: LAM NGỌC
Khu vực trung tâm như quận 1, quận 3, quận 5… có số lượng người vô gia cư ngủ nhiều nhất. Ban ngày họ mưu sinh bằng đủ nghề như: Bán vé số, đạp xích lô, nhặt ve chai… tối đến thì bạ đâu là ngủ đó sau một ngày tất bật mưu sinh.

Tiếp tục đọc “Đêm lạnh Sài Gòn, đủ kiểu ngủ ngoài trời của người vô gia cư”

Hàng ngàn lượt người bỏ thôn bản Lạng Sơn ‘đi chui’ sang Trung Quốc làm thuê

NN – 17/11/2017, 14:30 (GMT+7) Có lẽ, những chính sách đầu tư phát triển sản xuất ở nông thôn Lạng Sơn còn hạn chế nên rất nhiều nông dân ở các địa phương tỉnh này phải sang Trung Quốc làm thuê. Bi kịch nhiều vô kể…

Nhẹ thì bị bắt do nhập cảnh trái phép, nặng thì bị lừa bán, bị bóc lột sức lao động không lương, thậm chí là mất mạng…

13-44-15_nh_3-_b_trieu_thi_moiBà Triệu Thị Mọi kể lại những ngày bị giam ở Trung Quốc Tiếp tục đọc “Hàng ngàn lượt người bỏ thôn bản Lạng Sơn ‘đi chui’ sang Trung Quốc làm thuê”

Bất cập đất đai nhìn từ câu chuyện đầm phá ông Đoàn Văn Vươn – 3 bài

***

Bất cập đất đai nhìn từ câu chuyện đầm phá ông Đoàn Văn Vươn

17/01/2018, 14:30 (GMT+7)

Bộ Tài nguyên-Môi trường mới đây đã công bố dự thảo Luật Đất đai sửa đổi để lấy ý kiến nhân dân. NNVN xin trích vài góc nhìn từ những nạn nhân nổi tiếng bất đắc dĩ để thấy được phần nào những bất cập của vấn đề mà nhiều ý kiến của họ còn vượt cả phạm vi của dự thảo lần này.

Dã tràng xe cát biển Đông

Tất tả đuổi theo lũ vịt đang nhốn nháo chạy trong chuồng đến khi bắt được hai con xong thì đầu anh đã trắng xóa toàn lông bám mà miệng vẫn nhệch ra cười: “Vịt biển này đánh tiết canh thì hết ý”!

15-45-56_dsc_0341
Nông dân Đoàn Văn Vươn

Tiếp tục đọc “Bất cập đất đai nhìn từ câu chuyện đầm phá ông Đoàn Văn Vươn – 3 bài”

Kinh tế nông thôn Việt Nam: Bằng chứng từ Điều tra hộ gia đình nông thôn tại 12 tỉnh của Việt Nam

Xem toàn bộ báo cáo tại đây

Tăng trưởng kinh tế bền vững của Việt Nam trong suốt một thập kỉ qua và quá trình chuyển đổi cấu trúc đang diễn ra đã dẫn đến những cải thiện quan trọng về phúc lợi của người dân nông thôn Việt Nam (Tarp, 2017). Tỉ lệ nghèo đói đã giảm ngoạn mục và đang tiếp tục diễn biến theo chiều hướng này. Kết quả điều tra VARHS 2016 khẳng định xu thế này với thu nhập trung bình ở 12 tỉnh được điều tra đều tăng hơn so với năm 2014. Cùng lúc đó, tỉ lệ các hộ được xếp loại là hộ nghèo cũng tăng lên do việc nâng chuẩn nghèo cho thấy ngày càng có nhiều hộ nghèo được tiếp cận các hỗ trợ và dịch vụ của chính phủ để thoát khỏi nghèo đói. Tuy nhiên, Tarp (2017), lại chỉ ra rằng thành công về kinh tế của Việt Nam đã không được chia sẻ công bằng giữa các hộ ở nông thôn, với chênh lệch lớn trong phúc lợi và tiếp cận các nguồn lực giữa các nhóm hộ gia đình. Trong báo cáo này, chúng tôi ghi nhận rằng rất nhiều trong số những chênh lệch này tiếp tục tồn tại trong năm 2016 ở các vùng nông thôn thuộc 12 tỉnh được điều tra.

Chương 1 cho thấy các hộ ở miền núi phía Bác, Lào Cai, Điện Biên, và Lai Châu thụt lùi hơn ở một loạt các chỉ số phúc lợi như về mức độ chuyển dịch khỏi nghèo đói, tiếp cận giáp dục, y tế và các dịch vụ khác. Thêm nữa, nhiều chênh lệch tiếp tục tồn tại giữa các nhóm dân tộc và khoảng cách giữa các hộ giàu nhất và nghèo nhất tiếp tục duy trì ở mức rất lớn.
Tiếp tục đọc “Kinh tế nông thôn Việt Nam: Bằng chứng từ Điều tra hộ gia đình nông thôn tại 12 tỉnh của Việt Nam”