Điều tra 2 kỳ: Đắk Lắk – Tham nhũng Y tế liệu có “chìm xuồng”? Kỳ 2:- Các bệnh viện mỏi mòn “ kêu trời không thấu”

Điều tra 2 kỳ Đk Lk– Tham nhũng Y tế liệu có “chìm xuồng”?

Bài I- Trục lợi đấu thầu thuốc trên nỗi khổ bệnh nhân
Bài II- Các bệnh viện mỏi mòn “ kêu trời không thấu”

            Trong 2 tháng 10, 11/2016, lãnh đạo UBND tỉnh Đắk Lắk đã ký các quyết định xử phạt hành chính 10 bệnh viện với tổng mức phạt gần 1,7 tỷ đồng, về tội xả nước thải, bụi thải, khí thải gây ô nhiễm, không thực hiện giám sát, quan trắc môi trường. Trong đó, có tới 9/10 đơn vị là bệnh viện công, bị yêu cầu phải khắc phục các vi phạm chậm nhất vào ngày cuối năm 2016.

Nơi BV ĐK Buôn Ma Thuột đặt lò đốt rác tạm đã nhiều lần bị khiếu nại vì gây ô nhiễm khu dân cư
Nơi BV ĐK Buôn Ma Thuột đặt lò đốt rác tạm đã nhiều lần bị khiếu nại vì gây ô nhiễm khu dân cư

Tiếp tục đọc “Điều tra 2 kỳ: Đắk Lắk – Tham nhũng Y tế liệu có “chìm xuồng”? Kỳ 2:- Các bệnh viện mỏi mòn “ kêu trời không thấu””

Điều tra 2 kỳ:  Đắk Lắk – Tham nhũng Y tế liệu có “chìm xuồng”? Kỳ 1: Trục lợi đấu thầu thuốc trên nỗi khổ bệnh nhân

>> Tiêu cực trong đấu thầu dược phẩm: Nhóm lợi ích thao túng!
>> Chấn động ngành y: Muốn khởi tố phải chờ… Bộ Y tế

          Dù báo đài đã đăng, phát rất nhiều bài phanh phui các dấu hiệu tiêu cực, tham nhũng của lãnh đạo Sở Y tế Đắk Lắk, nhưng 2 văn bản chỉ đạo từ Văn phòng Chính phủ về việc phải sớm điều tra làm rõ vấn đề này, xử lý theo đúng pháp luật đến nay vẫn chưa được thực thi. Thực trạng thiếu thuốc, ô nhiễm về nước và rác thải, mua sắm bừa bãi trang thiết bị y tế còn đó, thì Sở Y tế đã lại tiếp tục vi phạm Luật Dược trong việc tổ chức đấu thầu thuốc năm 2017!

Bài I- Trục lợi đấu thầu thuốc trên nỗi khổ bệnh nhân
Bài II- Các bệnh viện mỏi mòn “ kêu trời không thấu”

Đơn thư phản ánh tố cáo các dấu hiệu tiêu cực tham nhũng của ngành Y tế Đắk Lắk vẫn liên tục gửi về báo Tiền Phong
Đơn thư phản ánh tố cáo các dấu hiệu tiêu cực tham nhũng của ngành Y tế Đắk Lắk vẫn liên tục gửi về báo Tiền Phong

Tiếp tục đọc “Điều tra 2 kỳ:  Đắk Lắk – Tham nhũng Y tế liệu có “chìm xuồng”? Kỳ 1: Trục lợi đấu thầu thuốc trên nỗi khổ bệnh nhân”

Vietnam localities defend receiving costly cars gifted by local businesses

TUOI TRE NEWS

Updated : 02/24/2017 16:48 GMT + 7

Authorities from one Vietnamese city and another province have addressed public concerns over luxury cars gifted to the local governments by local businesses, saying the practice is by no means a legal or ethical issue.

State entities in the central city of Da Nang and the southernmost province of Ca Mau have attracted public attention following reports from local media outlets that a number of state-owned cars at their disposal were presents from the local business community.

The Ca Mau administration has two luxury Lexus in its state-owned car fleet, whereas the Da Nang Party Committee and the municipal administration each have four cars gifted by businesses. Tiếp tục đọc “Vietnam localities defend receiving costly cars gifted by local businesses”

Kiểm toán 27 dự án BOT, giảm gần 100 năm thu phí!

22/02/2017 09:08 GMT+7

TTO – Kiểm toán Nhà nước (KTNN) cho biết nhiều dự án trong số 27 dự án kiểm toán phải giảm 5-7 năm thu phí. Tổng cộng tất cả các dự án, giảm tới gần 100 năm thu phí.

Kiểm toán 27 dự án BOT, giảm gần 100 năm thu phí!
Trạm thu phí BOT của Tập đoàn Đức Long Gia Lai đặt trên quốc lộ 14 đầu vào cửa phía Nam TP Pleiku (Gia Lai) thuộc dự án nâng cấp mở rộng quốc lộ 14 từ km1610 đến cầu 110 (Gia Lai). Dự án này được đề nghị giảm 7 năm, 2 tháng, 27 ngày thu phí – Ảnh: T.B.D.

Thông tin trên được KTNN báo cáo với đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư và khai thác các công trình giao thông theo hình thức BOT ngày 21-2. Tiếp tục đọc “Kiểm toán 27 dự án BOT, giảm gần 100 năm thu phí!”

After night in cell, Samsung scion taken for questioning

SEOUL: Handcuffed and tied with white rope, the scion of one of the world’s biggest conglomerates, Samsung Group, was taken on Saturday for questioning by South Korean authorities after spending a night in a small detention cell.

Samsung Group chief Jay Y. Lee was arrested on Friday for his alleged role in a corruption scandal that has led to the impeachment of President Park Geun-hye.

The 48-year-old Lee, who has a net worth of US$6.2 billion, heads the technology giant that is the world’s biggest manufacturer of smartphones, flat-screen televisions and memory chips. Tiếp tục đọc “After night in cell, Samsung scion taken for questioning”

Nghệ An lên tiếng về vụ việc phức tạp tại Giáo xứ Song Ngọc

Thứ năm, 16/2/2017 | 20:51 GMT+7

16 cán bộ, cảnh sát của Nghệ An đã bị thương trong vụ xô xát với hàng trăm giáo dân giáo xứ Song Ngọc ngày 14/2.

Vụ việc được TTXVN đánh giá là “phức tạp” xảy ra tại Giáo xứ Song Ngọc, xã Quỳnh Ngọc (Quỳnh Lưu, Nghệ An). Theo nguồn tin này, ngày 10/2, Linh mục Nguyễn Đình Thục, quản xứ Song Ngọc, soạn “thư ngỏ” kêu gọi các linh mục và cộng đoàn các Giáo xứ Hiệp Thông, cầu nguyện cho giáo dân Giáo xứ Song Ngọc đi gửi đơn khởi kiện Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa tại Tòa án Nhân dân Thị xã Kỳ Anh (tỉnh Hà Tĩnh) vào ngày 14/2/2017.

Sáng sớm ngày 14/2 khoảng 500 giáo dân tập trung tại Giáo xứ Song Ngọc để đi vào tỉnh Hà Tĩnh. Khi đến xã Diễn Hồng (Diễn Châu, Nghệ An), cảnh sát giao thông đã tổ chức phân làn phương tiện tham gia giao thông khác đi vào một làn đường và đoàn giáo dân đi vào một làn đường để tránh ách tắc.

Tiếp tục đọc “Nghệ An lên tiếng về vụ việc phức tạp tại Giáo xứ Song Ngọc”

Transparency International – Corruption perceptions index 2016

Read full report on transparency.org 

2016 Rank Country 2016 Score 2015 Score 2014 Score 2013 Score 2012 Score Region
1 Denmark 90 91 92 91 90 Europe and Central Asia
1 New Zealand 90 88 91 91 90 Asia Pacific
3 Finland 89 90 89 89 90 Europe and Central Asia
4 Sweden 88 89 87 89 88 Europe and Central Asia
5 Switzerland 86 86 86 85 86 Europe and Central Asia
6 Norway 85 87 86 86 85 Europe and Central Asia
7 Singapore 84 85 84 86 87 Asia Pacific
8 Netherlands 83 87 83 83 84 Europe and Central Asia
9 Canada 82 83 81 81 84 Americas
10 Germany 81 81 79 78 79 Europe and Central Asia
10 Luxembourg 81 81 82 80 80 Europe and Central Asia
10 United Kingdom 81 81 78 76 74 Europe and Central Asia
13 Australia 79 79 80 81 85 Asia Pacific
14 Iceland 78 79 79 78 82 Europe and Central Asia
15 Belgium 77 77 76 75 75 Europe and Central Asia
15 Hong Kong 77 75 74 75 77 Asia Pacific
17 Austria 75 76 72 69 69 Europe and Central Asia
18 United States 74 76 74 73 73 Americas
19 Ireland 73 75 74 72 69 Europe and Central Asia
20 Japan 72 75 76 74 74 Asia Pacific
21 Uruguay 71 74 73 73 72 Americas
22 Estonia 70 70 69 68 64 Europe and Central Asia
23 France 69 70 69 71 71 Europe and Central Asia
24 Bahamas 66 N/A 71 71 71 Americas
24 Chile 66 70 73 71 72 Americas
24 United Arab Emirates 66 70 70 69 68 Middle East and North Africa
27 Bhutan 65 65 65 63 63 Asia Pacific
28 Israel 64 61 60 61 60 Middle East and North Africa
29 Poland 62 62 61 60 58 Europe and Central Asia
29 Portugal 62 63 63 62 63 Europe and Central Asia
31 Barbados 61 N/A 74 75 76 Americas
31 Qatar 61 71 69 68 68 Middle East and North Africa
31 Slovenia 61 60 58 57 61 Europe and Central Asia
31 Taiwan 61 62 61 61 61 Asia Pacific
35 Botswana 60 63 63 64 65 Sub Saharan Africa
35 Saint Lucia 60 N/A N/A 71 71 Americas
35 Saint Vincent and the Grenadines 60 N/A 67 62 62 Americas
38 Cape Verde 59 55 57 58 60 Sub Saharan Africa
38 Dominica 59 N/A 58 58 58 Americas
38 Lithuania 59 61 58 57 54 Europe and Central Asia
41 Brunei 58 N/A N/A 60 55 Asia Pacific
41 Costa Rica 58 55 54 53 54 Americas
41 Spain 58 58 60 59 65 Europe and Central Asia
44 Georgia 57 52 52 49 52 Europe and Central Asia
44 Latvia 57 55 55 53 49 Europe and Central Asia
46 Grenada 56 N/A N/A N/A N/A Americas
47 Cyprus 55 61 63 63 66 Europe and Central Asia
47 Czech Republic 55 56 51 48 49 Europe and Central Asia
47 Malta 55 56 55 56 57 Europe and Central Asia
50 Mauritius 54 53 54 52 57 Sub Saharan Africa
50 Rwanda 54 54 49 53 53 Sub Saharan Africa
52 Korea (South) 53 56 55 55 56 Asia Pacific
53 Namibia 52 53 49 48 48 Sub Saharan Africa
54 Slovakia 51 51 50 47 46 Europe and Central Asia
55 Croatia 49 51 48 48 46 Europe and Central Asia
55 Malaysia 49 50 52 50 49 Asia Pacific
57 Hungary 48 51 54 54 55 Europe and Central Asia
57 Jordan 48 53 49 45 48 Middle East and North Africa
57 Romania 48 46 43 43 44 Europe and Central Asia
60 Cuba 47 47 46 46 48 Americas
60 Italy 47 44 43 43 42 Europe and Central Asia
62 Sao Tome and Principe 46 42 42 42 42 Sub Saharan Africa
62 Saudi Arabia 46 52 49 46 44 Middle East and North Africa
64 Montenegro 45 44 42 44 41 Europe and Central Asia
64 Oman 45 45 45 47 47 Middle East and North Africa
64 Senegal 45 44 43 41 36 Sub Saharan Africa
64 South Africa 45 44 44 42 43 Sub Saharan Africa
64 Suriname 45 36 36 36 37 Americas
69 Greece 44 46 43 40 36 Europe and Central Asia
70 Bahrain 43 51 49 48 51 Middle East and North Africa
70 Ghana 43 47 48 46 45 Sub Saharan Africa
72 Burkina Faso 42 38 38 38 38 Sub Saharan Africa
72 Serbia 42 40 41 42 39 Europe and Central Asia
72 Solomon Islands 42 N/A N/A N/A N/A Asia Pacific
75 Bulgaria 41 41 43 41 41 Europe and Central Asia
75 Kuwait 41 49 44 43 44 Middle East and North Africa
75 Tunisia 41 38 40 41 41 Middle East and North Africa
75 Turkey 41 42 45 50 49 Europe and Central Asia
79 Belarus 40 32 31 29 31 Europe and Central Asia
79 Brazil 40 38 43 42 43 Americas
79 China 40 37 36 40 39 Asia Pacific
79 India 40 38 38 36 36 Asia Pacific
83 Albania 39 36 33 31 33 Europe and Central Asia
83 Bosnia and Herzegovina 39 38 39 42 42 Europe and Central Asia
83 Jamaica 39 41 38 38 38 Americas
83 Lesotho 39 44 49 49 45 Sub Saharan Africa
87 Mongolia 38 39 39 38 36 Asia Pacific
87 Panama 38 39 37 35 38 Americas
87 Zambia 38 38 38 38 37 Sub Saharan Africa
90 Colombia 37 37 37 36 36 Americas
90 Indonesia 37 36 34 32 32 Asia Pacific
90 Liberia 37 37 37 38 41 Sub Saharan Africa
90 Morocco 37 36 39 37 37 Middle East and North Africa
90 The FYR of Macedonia 37 42 45 44 43 Europe and Central Asia
95 Argentina 36 32 34 34 35 Americas
95 Benin 36 37 39 36 36 Sub Saharan Africa
95 El Salvador 36 39 39 38 38 Americas
95 Kosovo 36 33 33 33 34 Europe and Central Asia
95 Maldives 36 N/A N/A N/A N/A Asia Pacific
95 Sri Lanka 36 37 38 37 40 Asia Pacific
101 Gabon 35 34 37 34 35 Sub Saharan Africa
101 Niger 35 34 35 34 33 Sub Saharan Africa
101 Peru 35 36 38 38 38 Americas
101 Philippines 35 35 38 36 34 Asia Pacific
101 Thailand 35 38 38 35 37 Asia Pacific
101 Timor-Leste 35 28 28 30 33 Asia Pacific
101 Trinidad and Tobago 35 39 38 38 39 Americas
108 Algeria 34 36 36 36 34 Middle East and North Africa
108 Côte d´Ivoire 34 32 32 27 29 Sub Saharan Africa
108 Egypt 34 36 37 32 32 Middle East and North Africa
108 Ethiopia 34 33 33 33 33 Sub Saharan Africa
108 Guyana 34 29 30 27 28 Americas
113 Armenia 33 35 37 36 34 Europe and Central Asia
113 Bolivia 33 34 35 34 34 Americas
113 Vietnam 33 31 31 31 31 Asia Pacific
116 Mali 32 35 32 28 34 Sub Saharan Africa
116 Pakistan 32 30 29 28 27 Asia Pacific
116 Tanzania 32 30 31 33 35 Sub Saharan Africa
116 Togo 32 32 29 29 30 Sub Saharan Africa
120 Dominican Republic 31 33 32 29 32 Americas
120 Ecuador 31 32 33 35 32 Americas
120 Malawi 31 31 33 37 37 Sub Saharan Africa
123 Azerbaijan 30 29 29 28 27 Europe and Central Asia
123 Djibouti 30 34 34 36 36 Sub Saharan Africa
123 Honduras 30 31 29 26 28 Americas
123 Laos 30 25 25 26 21 Asia Pacific
123 Mexico 30 35 35 34 34 Americas
123 Moldova 30 33 35 35 36 Europe and Central Asia
123 Paraguay 30 27 24 24 25 Americas
123 Sierra Leone 30 29 31 30 31 Sub Saharan Africa
131 Iran 29 27 27 25 28 Middle East and North Africa
131 Kazakhstan 29 28 29 26 28 Europe and Central Asia
131 Nepal 29 27 29 31 27 Asia Pacific
131 Russia 29 29 27 28 28 Europe and Central Asia
131 Ukraine 29 27 26 25 26 Europe and Central Asia
136 Guatemala 28 28 32 29 33 Americas
136 Kyrgyzstan 28 28 27 24 24 Europe and Central Asia
136 Lebanon 28 28 27 28 30 Middle East and North Africa
136 Myanmar 28 22 21 21 15 Asia Pacific
136 Nigeria 28 26 27 25 27 Sub Saharan Africa
136 Papua New Guinea 28 25 25 25 25 Asia Pacific
142 Guinea 27 25 25 24 24 Sub Saharan Africa
142 Mauritania 27 31 30 30 31 Middle East and North Africa
142 Mozambique 27 31 31 30 31 Sub Saharan Africa
145 Bangladesh 26 25 25 27 26 Asia Pacific
145 Cameroon 26 27 27 25 26 Sub Saharan Africa
145 Gambia 26 28 29 28 34 Sub Saharan Africa
145 Kenya 26 25 25 27 27 Sub Saharan Africa
145 Madagascar 26 28 28 28 32 Sub Saharan Africa
145 Nicaragua 26 27 28 28 29 Americas
151 Tajikistan 25 26 23 22 22 Europe and Central Asia
151 Uganda 25 25 26 26 29 Sub Saharan Africa
153 Comoros 24 26 26 28 28 Sub Saharan Africa
154 Turkmenistan 22 18 17 17 17 Europe and Central Asia
154 Zimbabwe 22 21 21 21 20 Sub Saharan Africa
156 Cambodia 21 21 21 20 22 Asia Pacific
156 Democratic Republic of Congo 21 22 22 22 21 Sub Saharan Africa
156 Uzbekistan 21 19 18 17 17 Europe and Central Asia
159 Burundi 20 21 20 21 19 Sub Saharan Africa
159 Central African Republic 20 24 24 25 26 Sub Saharan Africa
159 Chad 20 22 22 19 19 Sub Saharan Africa
159 Haiti 20 17 19 19 19 Americas
159 Republic of Congo 20 23 23 22 26 Sub Saharan Africa
164 Angola 18 15 19 23 22 Sub Saharan Africa
164 Eritrea 18 18 18 20 25 Sub Saharan Africa
166 Iraq 17 16 16 16 18 Middle East and North Africa
166 Venezuela 17 17 19 20 19 Americas
168 Guinea-Bissau 16 17 19 19 25 Sub Saharan Africa
169 Afghanistan 15 11 12 8 8 Asia Pacific
170 Libya 14 16 18 15 21 Middle East and North Africa
170 Sudan 14 12 11 11 13 Middle East and North Africa
170 Yemen 14 18 19 18 23 Middle East and North Africa
173 Syria 13 18 20 17 26 Middle East and North Africa
174 Korea (North) 12 8 8 8 8 Asia Pacific
175 South Sudan 11 15 15 14 N/A Sub Saharan Africa
176 Somalia 10 8 8 8 8 Sub Saharan Africa

Chỉ số cảm nhận tham nhũng 2016: Việt Nam tăng nhẹ về điểm số

TT – Một hệ thống tư pháp liêm chính, nghiêm minh sẽ tạo ra sự thay đổi rõ nét trong cảm nhận về tham nhũng trong khu vực công

Ngày 25 tháng 1 năm 2017, Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) công bố Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng (CPI) 2016, xếp hạng 176 quốc gia và vùng lãnh thổ dựa trên cảm nhận của các doanh nhân và chuyên gia về tham nhũng trong khu vực công. Tiếp tục đọc “Chỉ số cảm nhận tham nhũng 2016: Việt Nam tăng nhẹ về điểm số”

Đắk Lắk: Lãnh đạo tỉnh gặp mặt văn nghệ sĩ, trí thức và báo chí đầu năm

Sáng ngày 8/2/2017, lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức gặp mặt đầu Xuân Đinh Dậu 2017 với hơn 400 đại biểu, là những đại diện của giới văn nghệ sĩ, trí thức và các cơ quan báo đài thường trú trên địa bàn tỉnh.

Toàn cảnh gặp mặt
Toàn cảnh gặp mặt

Tại buổi gặp mặt, ông Nguyễn Hải Ninh, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Đắk Lắk thông báo về các thành tựu cơ bản năm qua tỉnh đã đạt được trên nhiều lĩnh vực: Tiếp tục đọc “Đắk Lắk: Lãnh đạo tỉnh gặp mặt văn nghệ sĩ, trí thức và báo chí đầu năm”

Đạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam – Phần II: Chính sách thực dân và Chính sách của các vị truyền giáo tại Bắc kỳ

Luận án Tiến Sĩ Quốc Gia Khoa Học Chính Trị Đại Học Paris.

Vấn đề người Pháp giải quyết ở Bắc kỳ không phải là tôn giáo mà là buôn bán. Bắc kỳ bên cạnh Trung quốc và Trung quốc với số dân 400 triệu đã làm cho các nước kỷ nghệ phương Tây thèm thuồng. Tiếp tục đọc “Đạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam – Phần II: Chính sách thực dân và Chính sách của các vị truyền giáo tại Bắc kỳ”

Vì sao khó xử lý tội phạm rửa tiền?

08/04/2016 06:21 GMT+7

(BM) – Mặc dù pháp luật đã quy định khá đầy đủ, nhưng trên thực tế các vụ án về tội phạm rửa tiền thời gian qua ít bị phát hiện và xử lý. Một trong những nguyên nhân là do những vướng mắc khi thực thi các quy định của pháp luật.

Tiếp tục đọc “Vì sao khó xử lý tội phạm rửa tiền?”

Chế độ sở hữu toàn dân và vấn đề sở hữu đất đai – 2 kỳ

  • Chế độ sở hữu toàn dân và vấn đề sở hữu đất đai (Kỳ II)
  • Chế độ sở hữu toàn dân và vấn đề sở hữu đất đai (Kỳ I)

Chế độ sở hữu toàn dân và vấn đề sở hữu đất đai (Kỳ I)

19/10/2010 13:58Tia Sáng

Trong suốt thời gian qua, bất chấp mọi cố gắng của các nhà làm luật, các vấn đề cơ bản liên quan đến sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước vẫn chưa được giải quyết. Vấn đề sở hữu vốn thuộc một trong những phạm trù “cổ điển” của khoa học pháp lý và phạm trù “sơ đẳng” của một hệ thống pháp luật. Do đó, hầu như không có khó khăn gì để minh định nó. Nguyên nhân có thể có nhiều, nhưng theo chúng tôi, phần quan trọng nằm ở các “rào cản” mà các nhà làm luật chưa thể vượt qua cả về tâm lý chính trị và nhận thức chính trị.

Ở khía cạnh pháp lý, “sở hữu” luôn luôn là vấn đề nền tảng của cả pháp luật kinh tế lẫn pháp luật dân sự. Hơn một nửa thế kỷ qua, việc xây dựng pháp luật ở nước ta đều đã xoay quanh khái niệm này, và trên thực tế đã đạt được nhiều thành tựu cơ bản và nổi bật. Đó là thông qua các Hiến pháp từ 1946, 1959, 1980 và 1992 và các đạo luật đơn lẻ khác, đặc biệt là Bộ luật Dân sự năm 1995 như một đỉnh cao, sau đó sửa đổi năm 2005,  Nhà nước ta đã khẳng định và sáng tạo ra các chế định liên quan đến chế độ và hình thức sở hữu, địa vị pháp lý của chủ sở hữu, các chế định kề cận v.v..

Tuy nhiên, có một thực tế là cho tới hiện nay, vẫn tồn tại hai cách tiếp cận với vấn đề sở hữu  khác nhau, thậm chí chồng chéo và lẫn lộn. Đó là tiếp cận chính trị và tiếp cận pháp lý.

Nhấn mạnh cách “tiếp cận chính trị”, chúng ta luôn luôn tìm cách phân định và phân biệt giữa chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa (với nền tảng là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) và chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa (mà nòng cốt là sở hữu tư nhân).  Trong khi đó, cách tiếp cận pháp lý đòi hỏi phải xác định rõ các quyền và nghĩa vụ của các chủ sở hữu và các đối tượng liên quan trong các giao dịch liên quan đến sở hữu theo  “hình thức sở hữu”, vốn đa dạng, phong phú và đậm màu sắc thực tiễn hơn “chế độ sở hữu”.

Cụ thể, Hiến pháp 1992 quy định ba chế độ sở hữu là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng. Đồng thời, Hiến pháp cũng xác định các đối tượng quan trọng thuộc sở hữu toàn dân, trong đó bao gồm đất đai và “phần vốn và tài sản Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp …”. Đến năm 2003, trong hai đạo luật quan trọng được Quốc hội thông qua là Luật Đất đai và Luật Doanh nghiệp nhà nước lại có hai quy định khác nhau liên quan đến hai đối tượng thuộc sở hữu toàn dân. Trong khi Luật Đất đai vẫn khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân còn Nhà nước là “đại diện chủ sở hữu toàn dân”, thì Luật Doanh nghiệp nhà nước lại định nghĩa rằng “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ…”.

Trong suốt thời gian qua mặc dù mọi cố gắng của các nhà làm luật, các vấn đề cơ bản liên quan đến sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước vẫn chưa được giải quyết. Tại sao vậy? Và vấn đề nằm ở đâu?

Có thể khẳng định rằng lý do không tại năng lực chuyên môn của các nhà làm luật. Vấn đề sở hữu vốn thuộc một trong những phạm trù “cổ điển” của khoa học pháp lý và phạm trù “sơ đẳng” của một hệ thống pháp luật. Do đó, hầu như không có khó khăn gì để minh định nó. Nguyên nhân có thể có nhiều, nhưng theo chúng tôi, phần quan trọng nằm ở các “rào cản” mà các nhà làm luật chưa thể vượt qua cả về tâm lý chính trị và nhận thức chính trị.

Về tâm lý chính trị, phải chăng đó là sự e ngại và né tránh để đối diện và cắt nghĩa về lý luận sự thay đổi có tính bước ngoặt của các chế định có tính nguyên tắc của Hiến pháp 1980 (trong đó khẳng định vị trí độc tôn của sở hữu xã hội chủ nghĩa với hai chế độ sở hữu là “toàn dân” và “tập thể”) thông qua ban hành Hiến pháp 1992 (với sự khẳng định cùng tồn tại của sở hữu tư nhân và nền kinh tế đa thành phần)?

Về nhận thức chính trị, phải chăng vẫn tồn tại định kiến xưa cũ rằng chủ nghĩa xã hội và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể được bảo đảm và xây dựng trên nền tảng của hoặc chế độ sở hữu toàn dân, hoặc hình thức sở hữu nhà nước ?

Ngoài ra, về mặt lý luận, dường như chúng ta vẫn để mặc nhiên tồn tại quan niệm mang tính giáo điều về phạm trù “sở hữu toàn dân” (cho đây là điều có tính tất yếu khách quan trong một xã hội xã hội chủ nghĩa), ở một cực này, và đơn giản hay tầm thường hoá nó bằng khái niệm “sở hữu nhà nước”, ở một cực khác, mà không có sự đào sâu để làm cho minh bạch.

I/ Về chế độ sở hữu toàn dân

Khái niệm sở hữu toàn dân là một sản phẩm của quá khứ. Trên công luận và trong một số công trình nghiên cứu thời gian qua, những vấn đề có tính nghi ngờ hoặc phê phán đã được mạnh dạn nêu ra theo hướng (i) có tồn tại thật không chế định này về mặt pháp lý, (ii) thực chất sở hữu toàn dân chỉ là cái “áo chính trị” của sở hữu nhà nước, và (iii) từ sự không rõ ràng của khái niệm và chế định này đã “đẻ” ra nhiều hệ quả và hậu quả khó giải quyết. Sự không rõ ràng này là có thật và được minh chứng bới các mâu thuẫn và không nhất quán trong các quy định của Hiến pháp với Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp nhà nước và Luật Đất đai v.v..

Đi sâu về mặt học thuật, có nhiều vấn đề cần bàn luận, thậm chí tranh cãi, về các khái niệm này. Chẳng hạn:

Nói đến “sở hữu toàn dân” đương nhiên có thể hiểu đó là quyền sở hữu chung của ít nhất tất cả mọi công dân đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Điều này, về mặt pháp lý, đòi hỏi phải tạo ra một cơ chế để tất cả mọi người dân (tức các đồng sở hữu chủ) đều có quyền tham gia “định đoạt” và “hưởng lợi” từ quyền sở hữu này.

Tuy nhiên, dân số vốn là một đại lượng có tính biến động, (chẳng hạn thông qua sự sống, chết và dịch chuyển), do đó, về mặt khách quan sẽ không bao giờ xác định được những ai cuối cùng đã, đang và sẽ là đồng chủ sở hữu. Để đơn giản hoá, sẽ có thể có cách lý giải (mặc dù khiên cưỡng) rằng, Quốc hội chính là chủ thể của sở hữu toàn dân vì là “cơ quan đại diện cao nhất”.

Tuy nhiên, Quốc hội chỉ do các công dân từ 18 tuổi trở lên và những người không bị tước quyền công dân bầu ra chứ không phải toàn dân; hơn nữa, về thực chất, bầu cử là hành vi thực hiện các quyền chính trị (để cấu tạo ra bộ máy nhà nước) chứ không phải hành vi uỷ quyền dân sự trong quan hệ sở hữu.

Ở đây, chúng tôi muốn nói tới tính vô lý về pháp luật và vô nghĩa về mặt thực tế của khái niệm sở hữu toàn dân. Mặc dù trong thời gian qua, khi cổ phần hoá các xí nghiệp quốc doanh ở Liên Xô và các nước vốn thuộc khối Đông Âu (cũ), để thể hiện thái độ nghiêm túc với chế độ sở hữu toàn dân, người ta đã chia cổ phần của các xí nghiệp này cho mọi người dân, chứ không chỉ “bán một phần cho cán bộ, công nhân viên” như ở nước ta.

Còn về “sở hữu nhà nước” thì sẽ có các câu hỏi đặt ra như: (i) Ai là nhà nước? (khái niệm “nhà nước” là một hệ thống các cơ quan và cấu trúc khác nhau chứ không phải một cơ quan tập trung hay thống nhất), (ii) “nhà nước trung ương” hay “nhà nước địa phương?, và (iii) Ai là đại diện cho chủ thể nhà nước? (phân biệt giữa cơ quan chính quyền, cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp). Một khi không làm rõ các vấn đề như vậy thì sẽ dẫn tới một loạt hệ quả là các hành động “nhân danh nhà nước” bao gồm cả sự chồng chéo lẫn lạm dụng về thẩm quyền.

Hiện nay, khi pháp luật xác định theo cách giải nghĩa rằng “nhà nước là người đại diện sở hữu toàn dân” thì cần đi tiếp theo lập luận này, mà theo đó chúng ta lại vấp phải vấn đề khác. Đó là, cũng theo pháp luật thì chỉ có Quốc hội là người có quyền đại diện nhân dân (tức đồng thời có thể sẽ là người đại diện sở hữu toàn dân) chứ không phải các cơ quan chính quyền (tức Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các địa phương). Và trong trường hợp như vậy thì cần phải xác định rõ là cơ quan chính quyền (hay nói gọn là “chính quyền”) sẽ chỉ đóng vai trò là người quản lý tài sản thuộc sở hữu toàn dân mà thôi.

Với cách đặt vấn đề như trên, trong bối cảnh Đảng, Nhà nước đang chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ XI với các chương trình nghị sự quan trọng được trông đợi như sửa đổi Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, lấy đó làm tiền đề để sửa đổi Hiến pháp 1992, chúng tôi xin kiến nghị và đề xuất như sau:

(a)    Về phương diện chủ thể sở hữu:

Xem xét bỏ khái niệm và chế định “sở hữu toàn dân” vì không có cơ chế thực hiện đồng thời không có ý nghĩa thực chất, mà thay vào đó xác định các chủ thể mới thay cho “toàn dân” và “nhà nước”.

Cụ thể, đưa vào hai khái niệm mới là sở hữu quốc gia và sở hữu của chính quyền (bao gồm sở hữu của chính quyền trung ương và sở hữu của chính quyền địa phương như tỉnh, huyện và xã), coi đó là hai hình thức quan trọng nhất của sở hữu công cộng.

Theo chúng tôi, khái niệm “quốc gia” không chỉ rộng mà còn sâu sắc hơn khái niệm “toàn dân”. “Quốc gia” bao gồm cả lịch sử của nhiều thế hệ con người Việt Nam sống trên lãnh thổ này (tức quá khứ), hiện tại (toàn dân) và tương lai (bao hàm sự phát triển). Quốc gia là phạm trù khái quát nhưng có thực, tồn tại lâu dài, không phụ thuộc vào người dân với tư cách các cá thể thuộc phạm trù có tính biến động. Sở hữu quốc gia có ý nghĩa đặc biệt, là đối tượng bất di, bất dịch, không thể mua, bán, chuyển nhượng và được bảo hộ đặc biệt.  Sở hữu của chính quyền, ngược lại, có tính linh hoạt. Chính quyền có thể mua, bán, chuyển đổi, chuyển nhượng các đối tượng thuộc sở hữu của mình trên cơ sở Bộ luật Dân sự.

(b)    Về phương diện đối tượng sở hữu:

Hiến pháp 1992 hiện hành, tại Điều 17, có liệt kê các đối tượng thuộc sở hữu toàn dân, tuy nhiên vừa quá “mở” (rất tuỳ nghi), vừa không cụ thể và đặc biệt không có sự phân loại theo cấp độ quan trọng xét về mặt tài sản của một quốc gia hay nhà nước.

Chẳng hạn, khi nói đến các “công trình kinh tế, văn hoá và khoa học…” thì quá mở và tuỳ nghi, hoặc khi liệt kê các đối tượng sở hữu thì lại đồng hạng giữa “đất đai, rừng núi, sông hồ …” với “phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp…” vốn rất khác nhau về tính chất cũng như ý nghĩa chính tị, kinh tế và xã hội.

Cần lưu ý rằng tài sản thuộc sở hữu “quốc gia”, “nhà nước” hay “toàn dân” không chỉ mang đến nguồn lợi mà còn là gánh nặng về tài chính và các nghĩa vụ khác đối với nhân dân, trước hết với tư cách là người đóng thuế, do đó, vấn đề không chỉ là bảo vệ đối với các tài sản này mà còn là sự kiểm soát của nhân dân đối với sự gia tăng của nó (ví dụ sự đầu tư xây dựng công trình hay mua sắm của các cơ quan chính quyền cần phải bị kiểm soát trong các giới hạn theo luật định).  Do đó, chúng tôi đề xuất cần có cơ chế pháp lý để phân định, phân loại, kiểm soát sự gia tăng và biến động cũng như đặt ra các giới hạn về loại cũng như quy mô giá trị đối với các tài sản thuộc loại hình sở hữu đặc biệt này.

***

Chế độ sở hữu toàn dân và vấn đề sở hữu đất đai (Kỳ II)

20/10/2010 12:08Tia Sáng

Có lẽ không có quốc gia nào có bộ luật về quản lý đất đai đồ sộ và phức tạp như ở Việt Nam, nhưng khái quát về thực trạng pháp luật về đất đai của nước ta có thể diễn nôm rằng: “xác lập quyền rất khó, sử dụng và chuyển dịch quyền cũng khó nhưng tước bỏ quyền thì rất dễ”.

II/ Về sở hữu đất đai

Nếu lấy mục tiêu của Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật như thể hiện trong Nghị quyết 48 –NQ/TW của Bộ chính trị năm ban hành năm 2005 về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam từ 2005 đến 2010, tầm nhìn 2020” là thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường và bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân để làm căn cứ đánh giá, thì có thể thấy rằng các quy định pháp luật về đất đai hiện nay đang tiếp tục là các “rào cản”.

Có lẽ không có quốc gia nào có bộ luật về quản lý đất đai đồ sộ và phức tạp như ở Việt Nam, bao gồm Luật Đất đai 2003 và hơn 400 văn bản hướng dẫn sau đó được ban hành cho tới nay. Vấn đề ở chỗ đó không phải là tất cả pháp luật cần có về  đất đai (để điều chỉnh nó như là một loại tài nguyên, đối tượng sở hữu và tài sản theo BLDS) mà chủ yếu là các văn bản liên quan đến quản lý nhà nước hay quản lý hành chính về đất đai, tức về thực chất xoay quanh bảo vệ các quyền và lợi ích của nhà nước với tư cách là “người đại diện chủ sở hữu (toàn dân) về đất đai”.

Khái quát về thực trạng pháp luật về đất đai của nước ta có thể diễn nôm rằng: “xác lập quyền rất khó, sử dụng và chuyển dịch quyền cũng khó nhưng tước bỏ quyền thì rất dễ”. Có nhiều khía cạnh để có thể bàn luận xung quanh thực trạng này, tuy nhiên xét về phương diện “sở hữu toàn dân về đất đai” có thể nêu một số vấn đề ở góc độ lý thuyết như sau:

Thứ nhất, khi Hiến pháp ghi rằng “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” thì cần coi đó là tuyên ngôn chính trị về sở hữu hơn là một chế định pháp lý. Đất đai nói chung, tương tự như không khí và ánh sáng là các yếu tố thuộc về môi trường sống tự nhiên, nên không thể là “tài sản” thuộc phạm trù sở hữu của luật dân sự được. Thay vào đó, các “mảnh đất” hay “thửa đất” cụ thể mới là đối tượng của sở hữu theo pháp luật. Luật về đất đai của các nước, do đó, chính là luật về địa chính.

Thứ hai, khi tuyên bố đất đai thuộc sở hữu toàn dân trên cơ sở Luật Đất đai năm 1980, Nhà nước đã tước đoạt về mặt pháp lý (một cách đơn giản và dễ dàng) toàn bộ sở hữu tư nhân về đất đai ở Việt Nam.

Tuy nhiên, bởi “đất đai” và “thửa đất” (hay “mảnh đất”) thuộc hai phạm trù khác nhau, do đó, trên thực tế, quá trình quốc hữu hoá các “mảnh đất” và “thửa đất” cụ thể đã không xảy ra sau đó. Hay nói một cách khác, Nhà nước vẫn phải thừa nhận một thực tế khách quan là ai ở đâu (trên mảnh đất nào) thì vẫn ở đó. Có nghĩa rằng về mặt pháp lý, Nhà nước chỉ can thiệp vào hai khía cạnh của quyền sở hữu đất đai, đó là kiểm soát quyền sử dụng và quyền định đoạt (chứ không tước đoạt hay giành lấy các quyền này). Từ nay, người dân (chủ sử dụng đất) muốn thay đổi mục đích sử dụng hay chuyển đổi, chuyển nhượng chủ quyền đối với các mảnh đất, thửa đất của mình thì phải xin phép và được sự đồng ý của Nhà nước.

Như vậy, động cơ của hành động “quốc hữu hoá” nói trên không phải nằm ở vấn đề quyền sở hữu mà ở chủ trương của Nhà nước nhằm kế hoạch hoá tập trung một cách triệt để các quan hệ liên quan đến sở hữu đất đất đai.

Thứ ba, ngày nay, khi triển khai xây dựng nền kinh tế thị trường, việc kế  hoạch hoá của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội không còn nữa, dẫn đến chế định sở hữu toàn dân đối với đất đai cũng mất hết ý nghĩa. Không những thế, việc tiếp tục duy trì chế định sở hữu này còn trực tiếp và/hoặc gián tiếp cản trở sự phát triển của nền kinh tế và quá trình làm giàu của người dân bằng việc hạn chế người dân biến các mảnh đất, thửa đất của mình thành tài sản và/hoặc vốn đầu tư.

Mặt khác, chế định sở hữu toàn dân đối với đất đai đã và đang gây ra các “lạm dụng” một cách công khai hay ngấm ngầm của tất cả các chủ thể liên quan đến sở hữu, sử dụng và kinh doanh đất đai, bao gồm cả chính các cơ quan chính quyền, trong đó, thay vì chuyển đất đai thành tài sản và vốn đầu tư để phát triển kinh tế và đời sống thì biến nó thành phương tiện đầu cơ để trục lợi bằng tiền bạc ngắn hạn.

Cụ thể, từ góc độ thực tế của việc thi hành các chính sách về đất đai, có thể minh hoạ các yếu tố “rào cản” và “lạm dụng” nói trên như sau:

(a)    Yếu tố “rào cản”. Khi nói đến phát triển trong nền kinh tế thị trường tức là phát huy quyền tự do sáng tạo của người dân với tư cách là các chủ thể kinh tế. Theo đó, người dân cần phải có quyền tự do sử dụng các “mảnh đất”, “thửa đất” của mình như một phương tiện và/hoặc tài sản (hay vốn) kinh doanh. Nói đến “phương tiện” là nói đến tính linh hoạt và đa dạng về mục đích sử dụng.

Còn nói đến “vốn” hay “tài sản” trong kinh doanh tức nói đến khả năng chuyển dịch đơn giản và thuận tiện để “quay vòng” làm tăng giá trị đồng vốn và tài sản. Các khả năng này, rất tiếc đều bị cản trở hay hạn chế chính bởi cơ chế “sở hữu toàn dân”, trong đó điển hình là năm loại giới hạn về (i) chủ thể sử dụng đất (tức ai được giao đất hay thuê đất với các tiêu chí do cơ quan quản lý nhà nước quyết định), (ii) mục đích sử dụng đất (với các phân định rất chi tiết về các loại đất và hình thức pháp lý để có đất phụ thuộc vào mục đích sử dụng), (iii) quyền liên quan đến việc sử dụng (ví dụ quyền thế chấp, chuyển nhượng, thừa kế v.v..), (iv) thời hạn sử dụng đất (được quy định phổ biến là 20, 30 hay 50 năm, trừ đất ở dân sinh), và (v) thủ tục hành chính nặng nề và phức tạp để chuyển dịch và chuyển đổi quyền sử dụng đất.

Cần lưu ý là trong thời gian qua, việc cấp các các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (“sổ đỏ”) đã được triển khai rộng rãi với quy mô và số lượng lớn, tuy nhiên câu hỏi đặt ra là “sổ đỏ” thực chất có ý nghĩa gì?

Đối với đất ở dân sinh, “sổ đỏ” chỉ tái xác nhận “ai ở đâu vẫn ở đấy”, và do đó, người dân không thấy có ích lợi gì một khi nhận thức rằng đó là đất thuộc sở hữu của ông cha để lại hoặc đã bỏ tiền ra mua từ trước, nay để nhận được  một “tờ giấy màu đỏ” lại phải nộp tiền và làm các thủ tục phiền hà. Nếu đất có “sổ đỏ” sẽ dễ dàng mua bán, chuyển nhượng hơn thì xét từ lợi ích của người dân, đó cũng chi là các thủ tục do chính Nhà nước đặt ra trong khi từ trước đó, người dân vẫn giao dịch bằng giấy viết tay.

Trên thực tế, trong các giao dịch đất đai hiện nay, đặc biệt là đất ở, nếu đối với cơ quan nhà nước khi tiến hành các thủ tục hành chính liên quan thì chỉ cần dựa trên “sổ đỏ” được cấp cho các mảnh đất, song người dân vẫn hiểu rằng, theo tập quán của giao dịch dân sự thì người đứng tên trên “sổ đỏ” chỉ là người đại diện cho các chủ sở hữu để tiếp nhận “sổ đỏ” mà thôi. Do vậy, khi tiến hành giao dịch mua bán, chuyển nhượng, bên mua vẫn yêu cầu có sự đồng ý của tất cả những đồng sở hữu hoặc có quyền và lợi ích liên quan khác đối với mảnh đất. Trong trường hợp này, có thể thấy rằng các “yếu tố dân sự” được coi trọng và thực hiện triệt để hơn các “yếu tố hành chính”.

“Sổ đỏ”, một khi được cấp, đương nhiên sẽ tạo thuận lợi hơn cho bên cho vay tiền (nhất là các ngân hàng) tiếp nhận thế chấp đối với quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, vấn đề phức tạp và các khó khăn lại xảy ra khi xử lý các thế chấp như vậy. Ngân hàng hay các bên cho vay hoàn toàn không dễ dàng phát mại tài sản thế chấp hay tiếp nhận quyền sử dụng đất thay thế bên vay bởi phụ thuộc một loạt các điều kiện được pháp luật quy định về chủ thể, mục đích, hình thức và thời hạn sử dụng đất như đã nói ở trên.

Nói tóm lại, hàng loạt các “sổ đỏ” đã được cấp sau các nỗ lực rất lớn của các cơ quan quản lý địa chính trong thời gian qua sẽ có thể phát huy tác dụng rất lớn cho đời sống dân sinh và đời sống kinh tế, nếu nó thật sự là các “chứng thư về sở hữu” đối với đất đai. Tuy nhiên với tính chất chỉ là các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (như tên gọi của nó), trong khi quyền sở hữu vẫn nằm trong tay “người khác” thì tác dụng và ý nghĩa của nó đã bị hạn chế rất nhiều.

(b)    Yếu tố “lạm dụng”. Trong thời gian qua, các “lạm dụng” trong lĩnh vực đất đai chủ yếu đến từ các doanh nghiệp và cơ quan quản lý Nhà nước tại các địa phương. Sự “lạm dụng” xảy ra đặc biệt nghiêm trọng trong hai khía cạnh (i) quy hoạch sử dụng đất và (ii) thu hồi quyền sử dụng đất hiện hữu của người dân (nhất là nông dân) để xây dựng các dự án công nghiệp và thương mại. Về mặt lý thuyết, quyền quy  hoạch sử dụng đất đương nhiên thuộc chủ sở hữu đất. Vậy nếu chủ sở hữu là “toàn dân” thì nhân dân phải được tham gia xây dựng quy hoạch.

Trên thực tế, nhân danh vai trò “đại diện  chủ sở hữu toàn dân”, các cơ quan chính quyền nắm giữ toàn quyền và độc quyền trong việc lập và sửa đổi quy  hoạch. Quá trình lạm dụng sẽ bắt đầu một cách “bài bản” khi có các nhóm lợi ích tư nhân từ phía các doanh nghiệp tham gia, thậm chí chi phối, dẫn đến hậu quả là quy  hoạch không còn phục vụ các mục đích “quốc kế dân sinh” mà chỉ nhằm hỗ trợ các nhóm lợi ích tư nhân tìm kiếm lợi nhuận thông qua các dự án kinh tế cụ thể.

Ngoài ra, Luật Đất đai và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành đã hợp thức quyền thu hồi đất của người đang sử dụng để phát triển các dự án kinh tế mà không tính đến tính chất và mục tiêu của các dự án này. Khác với giai đoạn của nền kinh tế kế hoạch trước đây, trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các dự án kinh tế được hình thành trên cơ sở các cân nhắc về lợi ích thương mại và vì động cơ lợi nhuận của cá nhân hoặc nhóm cá nhân các nhà kinh doanh.

Một sự cần thiết hay nhất thiết phải phân biệt giữa dự án vì lợi ích công cộng (trong đó có lợi ích của chính những người bị thu hồi đất) và dự án vì mục đích thương mại thuần tuý đã không được tính đến khi ban hành các văn bản pháp luật về đất đai và đầu tư. Do đó, hậu quả của quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá thời gian qua, như các phương tiện thông tin đại chúng đã cảnh báo, là sự mất và giảm nghiêm trọng “đất trồng lúa” và biến hàng triệu nông dân thành “tay trắng” về phương diện tư liệu sản xuất. Sự “lạm dụng” đó, theo chúng tôi, có nguyên nhân từ một cơ chế tâm lý và pháp lý đặc thù hình thành từ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

Thứ tư, thông qua phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, một quá trình tư nhân hoá về sở hữu đất đai đã và đang diễn ra trên thực tế một cách không thể tránh khỏi, dẫn đến vô hiệu hoá chế độ sở hữu toàn dân về đất đai như được xác định trong Hiến pháp 1992. Như trên đã nói, “chủ sở hữu đất đai” luôn luôn tách rời khỏi người chiếm hữu và sử dụng đất. Nhà nước (là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai) cố gắng duy trì quyền sở hữu của mình bằng cách can thiệp vào quá trình sử dụng và định đoạt đất.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra các quyền can thiệp một cách chủ động  này của Nhà nước đã và đang dần dần bị hạn chế và/hoặc khống chế bởi chính các yếu tố thị trường. Sự tác động của các quy luật thị trường (không chỉ bó hẹp trong nước mà còn bao gồm cả thị trường quốc tế và toàn cầu) gây sức ép làm phá vỡ các kế  hoạch chủ động, và trên thực tế những năm vừa qua đã buộc các cơ quan Nhà nước thường xuyên phải thay đổi các quy  hoạch phát triển kinh tế nói chung và quy hoạch sử dụng đất nói riêng đã ban hành.

Thực tế cũng chỉ ra rằng các dự án kinh tế có quy mô vừa và nhỏ có thể đáp ứng yêu cầu phải tuân thủ quy  hoạch; song các dự án lớn, thậm chí khổng lồ (với số vốn đầu tư được nêu ra tới hàng tỷ hay hàng chục tỷ USD) thì chắc chắn sẽ tác động làm thay đổi các quy  hoạch phát triển. Hơn nữa, các dự án đó phần lớn lại được khởi xướng và quyết định bởi các lực lượng tư nhân, là đối tượng chắc chắn chủ yếu quan tâm đến tỷ suất thu hồi đầu tư và lợi nhuận, hơn là những mục tiêu quốc kế, dân sinh.

Câu hỏi đặt ra là các cơ quan cấp phép đầu tư có thể từ chối cho phép các dự án đầu tư mang tính “gây sức ép” như vậy được không ? Có thể, nhưng rất khó, bởi về mặt công khai, Nhà nước đang và luôn luôn đứng trước một sức ép khác còn lớn và có tính trực tiếp hơn, đó là nâng cao và duy trì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, đồng thời tạo ra công ăn việc làm, lấy phát triển kinh tế để bảo đảm ổn định chính trị và xã hội.

Trở lại khía cạnh sở hữu về đất đai, vấn đề chính ở chỗ các dự án kinh tế có phải luôn luôn được triển khai như cam kết của nhà đầu tư hay không, để qua đó cơ quan Nhà nước vẫn bảo đảm được các quy hoạch và kế hoạch về sử dụng đất? Trên thực tế vừa qua, trong phần lớn các trường hợp rủi ro đối với triển khai dự án, các cơ quan quản lý Nhà nước lại khó có thể thu hồi mà thường sẵn sàng đồng ý để chủ đầu tư gia hạn sử dụng đất, chuyển đổi mục đích và/hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tổ chức, cá nhân khác. Đối với không ít dự án kinh tế, các quá trình gia hạn, chuyển đổi và chuyển nhượng lại có thể tiếp tục diễn ra thêm một vòng hay nhiều vòng nữa, để cuối cùng, các khu đất đã được cấp (có thể lên tới hàng trăm, hàng ngàn hecta) vẫn nguyên hình là “đất” trong khi các lợi ích của các chủ đầu tư liên quan vẫn được thu hồi đầy đủ, thông qua việc quay vòng kinh doanh và buôn bán cái gọi là “thương quyền” đối với đất đai.

Những điều nêu ra một cách khái quát như vậy diễn tả bản chất của quá trình tư nhân hoá đất đai, trong đó các cơ quan quản lý Nhà nước không còn đủ sức để sử dụng các công cụ và biện pháp hành chính nhằm kiểm soát sự vận động của các yếu tố và quy luật thị trường, dẫn đến đánh mất các thực quyền của người chủ sở hữu. Hậu qủa của nó, mà cả Nhà nước và xã hội phải gánh chịu là giá đất ngày càng tăng trong khi hiệu quả thật sự của các dự án đầu từ thì ngày càng thấp.

Để kết luận, đánh giá việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật trên cơ sở Nghị quyết 48-NQ-TW nói trên, liên quan đến vấn đề sở hữu về đất đai, chúng tôi cho rằng trong năm năm qua hệ thống pháp luật của nước ta không tiến thêm được bước nào trong việc giải quyết những vấn đề căn bản như đã đề cập.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng không kiến nghị bãi bỏ chế độ sở hữu đất đai hiện nay một cách đơn giản. Thay vào đó, cần có sự nghiên cứu theo hướng đặt lại vấn đề có tính nguyên tắc của Hiến pháp 1992, theo hướng huỷ bỏ chế độ sở hữu toàn dân, đa dạng hoá sở hữu về đất đai, bao gồm sở hữu quốc gia (vĩnh viễn hay về cơ bản không tư nhân hoá), sở hữu của chính quyền và sở hữu tư nhân. Điều này là thông lệ phổ biến ở hầu hết các nước đã phát triển thành công.

[Luật sư Nguyễn Tiến Lập] Tháng 9/2010

1 tỉ đô la Mỹ đảo nợ: Đâu chỉ là chuyện lãi suất?

Đỗ Thiên Anh Tuấn Thứ Sáu,  12/9/2014, 09:22 (GMT+7)

(TBKTSG) – Nhắc lại câu chuyện trái phiếu Brady

Nên gọi là gì nếu nói về giai đoạn giữa thập niên 1990, khi đó Việt Nam đã phải tái cơ cấu các khoản nợ quốc tế của mình bằng nhiều cơ chế khác nhau? Từ việc đàm phán lại nợ chính thức thông qua Câu lạc bộ Paris, mặc cả lại nợ của các ngân hàng thông qua Câu lạc bộ Luân Đôn, đến việc thương lượng nợ với Liên bang Nga. Tiếp tục đọc “1 tỉ đô la Mỹ đảo nợ: Đâu chỉ là chuyện lãi suất?”

Đúng người nhưng sai quy trình?

TÂN TỔNG THƯ KÝ LIÊN HIỆP QUỐC:
  • HẢI MINH 17.10.2016, 06:12

TTCT – Trong khi hầu hết mọi người nghĩ rằng tổng thư ký Liên Hiệp Quốc sẽ là một phụ nữ tới từ Đông Âu, kết quả chỉ còn đợi phê chuẩn lại là António Guterres – cựu thủ tướng Bồ Đào Nha.

 Đúng người nhưng sai quy trình?
Tân tổng thư ký Liên Hiệp Quốc António Guterres -dailymaverick.co.za

Tiếp tục đọc “Đúng người nhưng sai quy trình?”

Kiến nghị Quốc hội chưa thông qua luật về Hội

PPWG – 19/10/2016

Ủng hộ đồng bào lũ lụt miền Trung
Ủng hộ đồng bào lũ lụt miền Trung

Nhóm làm việc vì sự tham gia của người dân (PPWG) đề nghị Quốc hội CHƯA THÔNG QUA  Luật về Hội trong kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XIV để tiếp tục nghiên cứu và sửa đổi vì Dự thảo hiện tại (ngày 10 tháng 10 năm 2016) vẫn có những nội dung vi phạm quyền tự do hiệp hội của công dân được bảo vệ tại Điều 25 của Hiến pháp 2013, đi ngược lại xu thế hội nhập và hợp tác quốc tế, và có nguy cơ gây ra bất ổn xã hội vì những hoạt động hiệp hội bình thường của người dân có thể bị ngăn cấm. Tiếp tục đọc “Kiến nghị Quốc hội chưa thông qua luật về Hội”