Mức độ sẵn sàng cho giáo dục với trẻ em khuyết tật tại 8 tỉnh của Việt Nam.

Năm 2014, Quỹ Nhi đồng Liên hợp Quốc (UNICEF) đã hỗ trợ Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam tiến hành nghiên cứu về mức độ sẵn sàng cho giáo dục với trẻ em khuyết tật tại 8 tỉnh được UNICEF hỗ trợ của Việt Nam với các chuyến đi thực địa đến 3 tỉnh gồm Điện Biên, Ninh Thuận và Kon Tum. Báo cáo này nhằm mục đích nghiên cứu mức độ sẵn sàng của các trường học và của cộng đồng trong việc cung cấp nền giáo dục đầy đủ cho trẻ em khuyết tật và sự sẵn sàng đến trường của những trẻ em này. Để tiến hành nghiên cứu này, một nhóm tư vấn từ Trung tâm quốc tế về người khuyết tật và phục hồi chức năng (ICDR) thuộc Đại học Toronto, Canada đã ký hợp tác với UNICEF trong giai đoạn từ 01/11/2013 đến 30/08/2014.

Các phát hiện từ nghiên cứu nãy làm nổi bật lên những chính sách và thực tiễn quan trọng để tạo ra nền tảng thuận lợi cho việc xây dựng và củng cố nền giáo dục nhằm hỗ trợ cho các bé trai và bé gái khuyết tật trong việc hòa nhập và tiếp cận với giáo dục. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng Chính phủ Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong ngành giáo dục trong suốt hơn 25 năm qua và dự đoán rằng Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về giáo dục vào năm 2015. Tuy nhiên, cần phải nỗ lực hơn nữa để những lợi ích của việc đạt được mục tiêu thiên niên kỷ này đến được với những trẻ em hiện vẫn bị loại trừ khỏi hệ thống giáo dục và những trẻ em mà quyền được giáo dục của chúng vẫn chưa được nhận thức rõ ràng, chẳng hạn như những trẻ em khuyết tật và trẻ em đến từ nhóm các dân tộc thiểu số. Những rào cản chính trong việc tiếp cận giáo dục đối với những trẻ em này bao gồm cả việc thiếu cơ sở vật chất cho giáo dục cũng như chất lượng giáo dục còn hạn chế. Tiếp tục đọc “Mức độ sẵn sàng cho giáo dục với trẻ em khuyết tật tại 8 tỉnh của Việt Nam.” →

Chi tiết báo cáo: Trẻ em không được đi học ở Việt Nam

Báo cáo về trẻ em không đi học ở Việt Nam: Một nghiên cứu nhằm phục vụ cho việc quản lý giáo dục, lập kế hoạch và chính sách để mang lại sự bình đẳng trong giáo dục, tập trung vào những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Báo cáo này cũng nhằm mục đích phục vụ việc nghiên cứu chính sách và lập kế hoạch của các bộ ngành liên quan, chính quyền các địa phương và các cơ quan nghiên cứu của Chính phủ Việt Nam, đồng thời để đáp ứng nhu cầu thông tin của các tổ chức quốc tế và các tổ chức khác trong nỗ lực giảm thiểu số lượng trẻ em không được đi học ở Việt Nam. Văn phòng khu vực Đông Á Thái Bình Dương của Quỹ Nhi đồng Liên hợp Quốc (UNICEF), viện thống kê của Tổ chức Liên hợp Quốc về giáo dục, khoa học và văn hóa (UNESCO) và các nhóm nghiên cứu toàn cầu đã đưa ra các hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật để chuẩn bị bản thảo của nghiên cứu này.

Nội dung và bố cục của báo cáo được thực hiện theo hướng dẫn của Khung khái niệm và phương pháp luận, sáng kiến toàn cầu về trẻ em không đi học, được thiết kể bởi UNICEF và viện thống kê UNESCO. Những số liệu trong báo cáo được lấy từ cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009.

Nhóm nghiên cứ quốc tế nhận nhiệm vụ viết báo cáo này bao gồm Ông Muhammad Quamrul Hasan, một nhà tư vấn độc lập, là người đã phân tích các dữ liệu định lượng quan trọng và viết Chương 2; và bà Elaine Furniss, một nhà tư vấn độc lập người đã tổng hợp và hệ thống các thông tin cho báo cáo và cũng là tác giả của các chương còn lại.

Tải các báo cáo cho 6 tỉnh tại đây: http://www.un.org.vn/en/publications/publications-by-agency/doc_details/448-out-of-school-children-in-viet-nam.html

VEF – Quỹ Giáo dục Việt Nam lấy tiền từ đâu?

Mark Ashwill là nhà giáo dục người Mỹ, tiến sĩ, và cựu giám đốc của Học viện Giáo dục Quốc tế – International Institute for Education (IIE) – , trước khi ông và vợ ông sáng lập Capstone Việt Nam vào năm 2009, một cơ sở tư vấn giáo dục đặt tại Hà Nội. Khi Mark diễn thuyết tại một Diễn đàn Giáo dục cấp cao Việt Nam – Hoa Kỳ tại Hà Nội, ông rất ngạc nhiên khi thấy gần như không ai trong số 150 thính giả biết rằng một chương trình học bổng rất nhiều danh tiếng – Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF) – được cho rằng được bảo trợ bởi Chính phủ Hoa Kỳ – thực ra là chính do Chính phủ Việt Nam gây quỹ bằng một thỏa thuận hoán đổi nợ. Chính phủ Việt Nam đã đồng ý, như một phần của tiến trình bình thường hóa quan hệ 20 năm trước, để trả lại khoản nợ 146 triệu USD trong nông nghiệp và các khoản nợ khác mà Mỹ đã cấp cho bên bại trận – Chính quyền Sài Gòn. Với khoản nợ và khủng hoảng của Hy Lạp gần đây, chi tiết của điều khoản Việt Nam trả nợ cho Mỹ dưới đây do Mark Ashwill đưa ra có thể khiến nhiều người Mỹ cũng như người Việt Nam bất ngờ.

11-29-2010 http://markashwill.com/2010/11/25/vef-from-vietnam-with-money/

VEF: Tiền đến từ Việt Nam Tiếp tục đọc “VEF – Quỹ Giáo dục Việt Nam lấy tiền từ đâu?” →

Vì sao năng lượng bền vững quan trọng với trẻ em – Why sustainable energy matters to Children

UNICEF report: The critical importance of sustainable energy for children and future generations

DOWNLOAD HERE – TẢI BÁO CÁO

Evidence shows that energy at household level, in the education, health and water sectors as well as for infrastructure services has a great influence on development results among children.

Học sinh Việt Nam đánh bại học sinh Mỹ về điểm số thi, nhưng các nhà giáo dục Việt Nam chế giễu các bài thi

ENGLISH: Vietnam Wallops U.S. on Test Scores But Vietnamese Educators Scoff at Tests

 

Diane Ravitch Giáo sư nghiên cứu Giáo dục học, ĐH New York, tác giả ‘Reign of Error’
Huffington Post

STANDARDIZED TESTING

Theo bảng tóm tắt kết quả thi PISA mới được công bố gần đây, học sinh 15 tuổi Việt Nam có điểm số cao hơn các bạn đồng lứa ở Mỹ và hầu hết các nước châu Âu.

Một số người trong ngành truyền thông Mỹ cho rằng, điều này sẽ gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh, gây ra một nỗi sợ hãi và lo lắng nghiêm trọng về nguy cơ tụt hậu của Mỹ – “a Sputnik moment – (so với các nước).

Một tờ báo Việt Nam viết:

“Theo kết quả của một cuộc khảo sát toàn cầu về giáo dục, Việt Nam đứng thứ 12 trong tổng số 76 nền kinh tế, vượt trên cả Mỹ và rất nhiều nước châu Âu.

Bảng xếp hạng do các chuyên gia kinh tế học của OECD đặt ra dựa trên kết quả làm bài thi toán và khoa học của học sinh 15 tuổi. Mỹ đứng thứ 28 và hầu hết các nước châu Âu, bao gồm Đan Mạch, Thụy Điển và Anh đều không lọt được vào top 15. Tiếp tục đọc “Học sinh Việt Nam đánh bại học sinh Mỹ về điểm số thi, nhưng các nhà giáo dục Việt Nam chế giễu các bài thi” →

Đối thoại về kinh nghiệm cải cách giáo dục của Phần Lan

English: A Conversation On Lessons from Finland – Finnish education reform

Được thực hiện bởi John Graham – Xuất bản trên Professional Voice, 10(1), trang 46-53, mùa hè năm 2014.

John Graham (JG): Phần Lan được xem là một trong các quốc gia có hệ thống giáo dục hàng đầu thế giới. Theo ông đâu là các yếu tố giúp hệ thống giáo dục Phần Lan tạo nên sự khác biệt và giúp cho kết quả học tập của sinh viên Phần Lan cao hơn nhiều quốc gia khác?

Pasi Sahlberg (PS): Giới truyền thông nước ngoài có thể cho rằng Phần Lan có hệ thống giáo dục tốt nhất thế giới nhưng chắc chắn là nhiều người Phần Lan không nghĩ vậy. Khi tổ chức OECD(1) lần đầu tiên công bố kết quả xếp hạng PISA (2) của họ vào năm 2001, rất nhiều người đã ngạc nhiên với kết quả này, trong đó có người dân Phần Lan bởi họ chưa bao giờ đặt mục tiêu có thứ hạng cao trên bảng kết quả PISA. Quan điểm đối với giáo dục tại Phần Lan của các nhà giáo dục cũng như của dân chúng rất khác với tại nhiều khu vực khác, nơi mà các quốc gia cạnh tranh lẫn nhau để xem nền giáo dục nào là tốt nhất. Đối với người dân Phần Lan, trọng tâm của giáo dục là tất cả trẻ em có cơ hội để thành công và mỗi đứa trẻ cảm thấy vui vẻ và khoẻ mạnh ở trường học.

Mặc dù vậy, có một vài yếu tố hiện hữu của nền giáo dục Phần Lan giúp tạo nên sự khác biệt. Ở đây tôi chỉ đề cập đến ba yếu tố. Tiếp tục đọc “Đối thoại về kinh nghiệm cải cách giáo dục của Phần Lan” →

Cần hiểu đúng tự trị đại học

Các trường đại học, khi được tự chủ trong việc xây dựng chương trình giảng dạy, sẽ thực hiện sự đào tạo theo nhu cầu của xã hội, của nền kinh tế. Họ sẽ nắm bắt, theo dõi nhu cầu của xã hội, của doanh nghiệp và cập nhật thường xuyên chương trình giảng dạy. Việc đào tạo sẽ trở nên hiệu quả hơn rất nhiều…

Nguoidothi – Nước ta đã trải qua nhiều cuộc cải cách về giáo dục và hiện nay, nhu cầu đổi mới nền giáo dục nước nhà vẫn đang là một vấn đề bức xúc của toàn xã hội. Kinh tế Việt Nam đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, trong khi đó nền giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, vẫn còn tụt hậu so với nhiều nước trong khu vực.Cải cách giáo dục phải là một quốc sách lâu dài, mà trọng tâm là cải tổ giáo dục đại học, dựa trên nhận thức đúng đắn rằng hệ thống giáo dục đại học của chúng ta chính là tài sản trí tuệ của cả cộng đồng dân tộc Việt. Hệ thống đó nhận trách nhiệm trước cộng đồng dân tộc thực hiện nghĩa vụ đào tạo, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những con người Việt Nam ưu tú có kiến thức chân thật ngang tầm thế giới, có đầy đủ tự do và nhân cách của người trí thức, có tư duy sáng tạo độc lập. Vì đại học là tài sản trí tuệ của toàn thể cộng đồng dân tộc, nên dù là đại học công lập hay dân lập, nó cần được Nhà nước dành cho quy chế tự trị để có thể hoàn thành tốt nghĩa vụ và trách nhiệm của nó trước cộng đồng. Tiếp tục đọc “Cần hiểu đúng tự trị đại học” →

Thả lỏng tiếng Anh mầm non

19/07/2015 21:50

NLD – Dạy và học tiếng Anh trong các trường mầm non tại TP HCM hiện mạnh ai nấy làm do các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo không rõ ràng, lúc cấm lúc không

Bà Chung Bích Phượng, Phó Phòng Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) phụ trách mầm non (MN) quận Tân Phú, cho rằng hơn 10 năm qua, toàn quận chỉ có 2 trường MN tổ chức được việc dạy tiếng Anh nhưng cũng chỉ dừng lại ở hoạt động vui chơi ngoại khóa. Trong khi đó, Bộ GD-ĐT lúc cấm, lúc cho phép khiến các trường không dám triển khai vì sợ rủi ro.

Học tiếng Anh tại một trường mầm non ở TP HCM Ảnh: Tấn Thạnh

Học tiếng Anh tại một trường mầm non ở TP HCM Ảnh: Tấn Thạnh

Tiếp tục đọc “Thả lỏng tiếng Anh mầm non” →

Những khoảng trống trách nhiệm…

(LĐ) – Số 99 LỤC TÙNG – 11:21 AM, 05/05/2015

Học sinh Chăm phải “kết thúc chương trình” sau khi học hết mức 2 chỉ vì không có đủ giáo viên. Ảnh: L.T

Có thể nói một cách vắn gọn như vậy về việc dạy tiếng Chăm ở Nam Bộ hiện nay.

Sau 20 năm thực hiện, thời gian đủ để đứa bé lọt lòng trở thành thanh niên “bẻ gãy sừng trâu”, nhưng việc dạy tiếng Chăm Nam Bộ (TCNB) vẫn cứ như đứa bé chập chững trong chiếc nôi tạm bợ và chưa biết đến bao giờ mới có thể xoải những bước đi vững chắc khi những nhân sĩ TCNB cuối cùng đã ở tuổi xế chiều, hoặc ra đi vĩnh viễn …

Gian nan sách hóa nông thôn

10/05/2015 23:14

NLD – Sách luôn mang lại nguồn kiến thức nền tảng nhưng chẳng mấy ai chú trọng việc tạo lập thư viện cho người dân. Trong khi thư viện công đang hoạt động èo uột, một cá nhân đã cố gắng tổ chức dự án mang sách đến với người dân

“Chúng tôi kết thúc ngày 80 tại Đập Đá, An Nhơn, Bình Định. Hôm trước, chúng tôi hoàn thành chặng Quảng Ngãi – Quy Nhơn dài 171 km. Đạt 1.087 km rồi, còn 632 km nữa là đến Sài Gòn, cảm ơn bà con đã cổ vũ trong 81 ngày qua…”. Đó là tâm sự trải dài theo anh Nguyễn Quang Thạch và những “gánh sách” chu du từ Bắc vào Nam.

Dự án sách hóa nông thôn còn gặp rất nhiều khó khăn Ảnh: NGUYỄN QUANG THẠCH
Dự án sách hóa nông thôn còn gặp rất nhiều khó khăn Ảnh: NGUYỄN QUANG THẠCH

Tiếp tục đọc “Gian nan sách hóa nông thôn” →

Kids expecting aggression from others become aggressive themselves

Children taught to be vigilant for hostility from others are prone to aggressive behavior

Date: July 14, 2015
Source: Duke University
Summary:
Hypervigilance to hostility in others triggers aggressive behavior in children, says a new study. The four-year longitudinal study, the largest of its kind involving 1,299 children and their parents, finds the pattern holds true in 12 different cultural groups from nine different counties across the globe.
Young people fighting.
Credit: © Monkey Business / Fotolia
Sciencedaily – Hypervigilance to hostility in others triggers aggressive behavior in children, says a new Duke University-led study.

The four-year longitudinal study involving 1,299 children and their parents finds the pattern holds true in 12 different cultural groups from nine countries across the globe.

This pattern is more common in some cultures than others, which helps explain why some cultures have more aggressive behavior problems in children than other cultures, according to the study. Tiếp tục đọc “Kids expecting aggression from others become aggressive themselves” →

Hoa trái đầu tiên – The First Fruit

Tác giả Trần Đình Hoành viết bài này bằng tiếng Anh trên VNBIZ ngày 18 tháng 9 năm 2006. Phạm Thu Hương dịch sang tiếng Việt dưới đây.

trac-nghiem-vui-hoa-qua

***

Các bạn thân mến,

Trong trường hợp các bạn không để ý, chúng ta là thế hệ đầu tiên trong lịch sử đất nước có cơ hội cực kỳ lớn để tạo nên lịch sử. Hãy nhìn chúng ta và thế giới chúng ta hôm nay:

Chúng ta là thế hệ đầu tiên trong lịch sử đất nước được hưởng hòa bình. Ông cha chúng ta đã luôn sống trong chiến tranh hoặc chuẩn bị cho chiến tranh.

Chúng ta là thế hệ đầu tiên được hưởng độc lập quốc gia.

Chúng ta là thế hệ đầu tiên có thể đứng cao trên thế giới và tuyên bố “Chúng tôi là người Việt Nam” với tự hào và vinh dự và nhận những gật đầu ủng hộ từ bạn bè khắp năm châu. Cuộc đấu tranh anh dũng vì nền độc lập của chúng ta và những chiến thắng của chúng ta đã mang đến chúng ta sự tôn trọng toàn cầu.

Chúng ta là thế hệ đầu tiên mà mỗi người đều có cơ hội bình đẳng quốc tế để học hỏi. “Cơ hội bình đẳng quốc tế”, ý mình là một cơ hội bình đẳng với người giàu nhất ở nước phát triển nhất trên thế giới. Bất kỳ ai trong chúng ta, ngồi gần như bất kỳ ngóc ngách nào trong đất nước ta, đều có thể sử dụng Internet để học bất kỳ điều gì cô ấy muốn từ bất kỳ nơi nào trên thế giới. Cách đây không lâu, khả năng học hành của ta bị giới hạn bởi chỗ ngồi trong ngôi trường của ta, vì thế ngay cả trẻ em của các gia đình giàu có đang học ở Hà Nội hay Sài Gòn cũng vẫn bất lợi rất lớn khi so sánh với trẻ em tại các nước phát triển hơn. Điều đó không còn đúng với ngày hôm nay nữa. Tiếp tục đọc “Hoa trái đầu tiên – The First Fruit” →

Tổ quốc tôi, ông là ai?

Bài diễn văn của một nữ sinh 17 tuổi “Nếu tôi sống thêm hai nghìn năm nữa thì tổ quốc của tôi, ông sẽ là ai?”, có lẽ sẽ cho chúng ta một cái nhìn khác về “giấc mơ Trung Hoa”.

Trung Quốc, giấc mơ trung hoa,

Một trường trung học phổ thông tại Trung Quốc, tổ chức hội diễn văn với chủ đề “Tổ quốc thân yêu”, dưới đây là bản thảo bài diễn văn của nữ sinh thể hiện những nhận thức rất lí trí và sáng suốt, vượt xa phần đông thế hệ thanh niên Trung Quốc hiện tại. Liệu cô gái này có thể thay đổi Trung Quốc?

Dưới đây là toàn bộ bài nội dung bài diễn văn:

“Kính thưa các thầy cô,bạn bè thân mến: Tôi tên Vương Khả Nhi, là học sinh lớp 10A6, tiêu đề bài diễn văn của tôi hôm nay là “Nếu tôi sống thêm hai nghìn năm nữa, thì tổ quốc của tôi, ông sẽ là ai ?”. Tôi không có những ngôn ngữ hùng hồn như mọi người, cũng không có nhiệt huyết dâng trào như những người khác; đối với hai từ “tổ quốc”, cái tôi có chính là suy nghĩ độc lập của riêng cá nhân tôi, tôi cảm thấy rằng xã hội chúng ta không thiếu những người đứng đầu về tri thức, mà cái thiếu chính là những người có tư duy vậy. Tiếp tục đọc “Tổ quốc tôi, ông là ai?” →

Để có những người bay: Thầy dạy bay và bầu trời bay

Thực tế của nền giáo dục hiện nay khiến tất cả phải tự hỏi, không có lẽ chúng ta cả năm này qua năm khác cho ra trường đời những “chú gà công nghiệp” mãi sao? Đâu rồi những chú chim ưng dũng cảm, kiêu hãnh, tung cánh vào bầu trời khoáng đạt, bao la? Làm thế nào để có những chú chim ưng biết bay và dám bay? Điều này lại phụ thuộc vào tất cả thầy và trò, ngành giáo dục, gia đình và cả xã hội…

Trước hết, học trò có muốn là chú chim ưng trên núi đá kia không, hay chỉ muốn suốt đời như chú gà công nghiệp yên ổn trong chuồng? Quả thật có những người thầy đã dạy theo cách khơi gợi, hướng dẫn, nhưng học sinh, sinh viên lại kêu là “dạy không đúng sách giáo khoa”. Nghĩa là những sinh viên này muốn kiến thức được “đóng hộp” và trao cái hộp đó cho họ, hay nói cách khác, họ muốn được mớm những thứ thức ăn tăng trọng có sẵn, mà không muốn tự mình tìm mồi.
Tiếp tục đọc “Để có những người bay: Thầy dạy bay và bầu trời bay” →

Học thêm từ… 4 tuổi – Cần liên thông giữa mầm non và tiểu học

09/07/2015 11:27 GMT+7

TT – Cả ngày ở trường mầm non, tối lại đến lớp học thêm để tập viết, tập đọc trước khi vào lớp 1. Đây là thời khóa biểu hiện tại của rất nhiều trẻ mới chỉ 4-5 tuổi ở TP.HCM!

Một điểm dạy chữ cho các bé chuẩn bị vào lớp 1 trên đường Hiền Vương, quận Tân Phú, TP.HCM - Ảnh: Như Hùng
Một điểm dạy chữ cho các bé chuẩn bị vào lớp 1 trên đường Hiền Vương, quận Tân Phú, TP.HCM – Ảnh: Như Hùng

Hơn 17g chiều 23-6, trong một con hẻm nhỏ đường Đồng Đen (Q.Tân Bình) tấp nập xe cộ ra vào. Dù thời gian này mới là tháng đầu tiên của kỳ nghỉ hè, nhưng người thân của những trẻ chỉ mới 4-5 tuổi đã chở các bé đến một lớp học “có tiếng” của vài ba cô giáo tiểu học (đã về hưu) mở dạy. Tiếp tục đọc “Học thêm từ… 4 tuổi – Cần liên thông giữa mầm non và tiểu học” →