Ngành Nông nghiệp Việt Nam: cần có ý chí của chính phủ và giáo dục

English: Vietnam agriculture: government will & education needed

Sau những tiến bộ sâu sắc trong sản xuất và dịch vụ, hầu hết các nhà quan sát hiện nay tin rằng Việt Nam có vị trí tốt để đáp ứng mục tiêu chính của Tầm nhìn 2035 là đạt được mức thu nhập trung bình cao. Nhưng không có nghĩa là lợi ích nông nghiệp bền vững được đảm bảo và các quan chức nông nghiệp chủ chốt nhận ra điều này.

Vietnam agriculture: government will & education needed

Năm 2013, chính phủ đưa ra chương trình tái cơ cấu nông nghiệp và sửa đổi Luật đất đai.

Các cơ quan quốc tế lớn, bao gồm Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Ngân hàng Thế giới (WB) đã thúc giục cải cách trên diện rộng. Hành động cho đến nay đã bị hạn chế chủ yếu vì trồng trọt, chăn nuôi và sản xuất nuôi trồng thủy sản tiếp tục tăng.

Các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam – nổi tiếng với chủ nghĩa bảo thủ của họ – coi cải cách triệt để là quá non nớt. Đây là một sai lầm nghiêm trọng.

Vào cuối thời chiến tranh Mỹ-Việt, nền nông nghiệp tại Việt Nam  sử dụng khoảng 75% tổng lực lượng lao động và sản xuất khoảng 10 triệu tấn gạo, nguyên liệu chủ lực của đất nước. Phần lớn dân số Việt Nam với 50 triệu người bị suy dinh dưỡng đáng kể.

Phục hồi nông nghiệp chậm, bị chặn bởi các chính sách tập trung của chính phủ. Những nỗ lực cải cách chính thức thông qua Chỉ thị 100 năm 1981 đã giải phóng một phần thị trường nông sản. Chính phủ đã tăng tốc với đổi mới (renovation) vào năm 1986 và Luật đất đai năm 1988. Sau đó, chính phủ đã cấp quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình và kích thích phản ứng mạnh mẽ từ nông dân.

Đến đầu những năm 1990, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản lớn. Sản lượng nông nghiệp được thúc đẩy bởi sự gia tăng lao động, mở rộng diện tích canh tác, cải thiện giống cây trồng và các loài vật nuôi / nuôi trồng thủy sản, nguồn cung cấp nước mùa khô dồi dào, và các ứng dụng lớn của hóa chất nông nghiệp.

Thiết lập kinh tế vĩ mô ổn định

Vietnam's workforce is ageing

Lực lượng lao động Việt Nam đang già đi theo Ngân hàng Phát triển Châu Á

Những thay đổi này làm giảm nghèo ở nông thôn, an ninh lương thực được cải thiện, tăng doanh thu xuất khẩu và tăng cường chuỗi tiếp thị và phân phối trên toàn nền kinh tế. Các nhà đầu tư cá nhân nhấn mạnh đến cơ giới hóa, sản phẩm mới và nuôi trồng thủy sản. Quản lý tài chính và tỷ giá hối đoái phù hợp đã giúp bằng cách cung cấp một thiết lập kinh tế vĩ mô ổn định, hỗ trợ. Đầu tư công cộng và tư nhân cũng tăng theo. Khu vực công mở rộng hệ thống thủy lợi, cải thiện kiểm soát lũ lụt, thúc đẩy điện khí hóa nông thôn và nâng cấp cơ sở hạ tầng.

Nhưng các yếu tố chính chịu trách nhiệm cho sự tăng trưởng nông nghiệp gần đây đã chạy đến cuối kỳ. Lực lượng lao động nông nghiệp đang giảm và tuổi trung bình của nông dân đang tăng lên rõ rệt.

Lấn chiếm đô thị, tái trồng rừng và mở rộng các vườn quốc gia và khu bảo tồn – kết quả của nhu cầu đô thị về tiện nghi cảnh quan và du lịch đang bùng nổ – hạn chế nguồn cung cấp đất nông nghiệp.

Hơn nữa, đất sản xuất đang bị mất do xâm nhập mặn và xói mòn bờ biển. Nước mặt mùa khô khan hiếm.

Tăng sản lượng từ cải tiến cây trồng và vật nuôi / nuôi trồng thủy sản rất khó duy trì do một phần do áp lực dịch hại và dịch bệnh gây ra bởi biến đổi khí hậu. Môi trường nông nghiệp đã xuống cấp nghiêm trọng và ô nhiễm. Độc canh lúa đã làm suy giảm độ phì nhiêu của đất, trong khi khai thác quá mức nước ngầm để bổ sung cho dòng chảy bề mặt mùa khô đang làm cạn kiệt các tầng chứa nước, dẫn đến sụt lún và ô nhiễm đất.

Việc sử dụng quá mức hóa chất nông nghiệp đã làm ô nhiễm sông, hồ, nước ngầm và đất ngập nước. Chất thải đô thị và công nghiệp của các chất thải hợp chất những vấn đề này.

Có nhiều từ ít, và nhiều hơn nữa

Mở rộng nông nghiệp trong tương lai ở Việt Nam chỉ liên quan đến một lựa chọn: tăng năng suất. Sản lượng trên một đơn vị lao động, đất đai và nước sẽ phải tăng mạnh khi nông dân già hóa cắt giảm việc sử dụng hóa chất nông nghiệp của họ và xác định các giống cây trồng và các loài động vật phát triển mạnh dưới những ràng buộc xã hội và sinh địa lý.

Một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới năm 2016 đã mô tả thách thức này là “có nhiều từ ít”. Báo cáo đánh giá này chỉ đúng một phần.

Future agricultural expansion in Vietnam involves only one option: increased productivity.

Mở rộng nông nghiệp trong tương lai tại Việt Nam chỉ liên quan đến một lựa chọn: tăng năng suất. 

Thách thức của Việt Nam là tạo ra một môi trường thể chế gồm nông dân, dù ở độ tuổi nào, bổ sung cho quỹ đất và nước có sẵn với một loạt các đầu vào (thông tin, cơ giới hóa và công nghệ mới) theo cách tạo ra sự gia tăng bền vững về sản lượng và thu nhập nông nghiệp.

May mắn thay, có phạm vi cho những điều chỉnh này. Hạn chế về đất đai của chính phủ, hiện đang ảnh hưởng đến hơn ba triệu ha (khoảng 7,4 triệu mẫu), giữ quá nhiều tài nguyên trong sản xuất lúa có giá trị gia tăng thấp. Thay đổi chính sách sẽ nâng cao sản xuất các loại cây trồng có giá trị gia tăng cao như trồng hoa, làm vườn và thức ăn chăn nuôi, và tăng thu nhập cho nông dân.

Phí và các khoản phí khác cho việc sử dụng nước (hiện không tồn tại) sẽ làm tăng năng suất nước ở Việt Nam, nơi có năng suốt ở hàng thấp nhất châu Á, giảm áp lực đối với các tầng ngậm nước khai thác quá mức.

Chi tiêu cao hơn của chính phủ cho nông nghiệp và phát triển nông thôn sẽ hỗ trợ R & D mở rộng cho các công nghệ tiết kiệm tài nguyên phù hợp với nhu cầu của nông dân già và nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng nông thôn. Cả hai hành động sẽ làm tăng lợi nhuận ròng trang trại.

Tăng kiến ​​thức và ý chí của chính phủ

Sự hồi sinh của các cánh đồng trường học nông dân, một khi trở nên phổ biến và thành công, sẽ cung cấp cho nông dân và các nhà phân phối nông thôn thông tin về những sáng tạo nâng cao năng suất.

Policy change would raise the production of high value-added crops such as horticulture

Thay đổi chính sách sẽ nâng cao sản lượng của các loại cây trồng có giá trị gia tăng cao như làm vườn

Trợ cấp của chính phủ sẽ mở rộng việc áp dụng các công nghệ xanh như điện gió, mặt trời và tích hợp quản lý dịch hại. Trợ cấp cũng sẽ thưởng cho nông dân về các hoạt động bảo tồn, bao gồm luân canh, cải tạo đất, trồng trọt và đa dạng hóa doanh nghiệp.

Sự hỗ trợ này sẽ làm giảm ô nhiễm môi trường nông thôn và giảm lượng khí thải carbon nông nghiệp. Cuối cùng, bằng thực thi các quy định môi trường hiện có, chính phủ có thể giảm đột ngột phần lớn ô nhiễm đất và nước hiện đang làm suy yếu năng suất của trang trại.

Không có giải pháp nào trong số này là khoa học tên lửa, tức là không có gì là quá khó để hiểu. Một phản ứng thích hợp chỉ yêu cầu nông dân và doanh nhân nông thôn có quyền truy cập kiến ​​thức và được khuyến khích để thích nghi, và chính phủ hiểu được nhu cầu cải cách nông nghiệp và hành động phù hợp.

Bài viết của bởi Malcolm McPherson, Nghiên cứu viên cao cấp của Chương trình Việt Nam tại Trung tâm Ash về Quản trị và Đổi mới Dân chủ, Trường Chính phủ Kennedy, Đại học Harvard.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s