Đôi điều về chữ Nôm và giọng Quảng Nam (phần 1)

Nguyễn Cung Thông* (Melbourne, Úc), Vân Hạc** (Hà Nội, Việt Nam)

Tiến trình Nam Tiến của dân tộc Việt.

Vừa nghe lại các bài ca Mưa Chiều Kỷ Niệm, Nỗi Buồn Hoa Phượng, Tình Bơ Vơ … bằng giọng Quảng (Nam), xem trang YouTube này [www.youtube.com] hay http://www.youtube.com/watch?v=IM6dzrmTx8w  … càng nghe càng thấy thấm thía, nhân đây cũng ghi lại vài nhận xét và các dữ kiện liên hệ.

1. Tại sao đọc là Nôm thay vì Nam

Nhắc đến giọng Quảng (Nam) chúng tôi lại nghĩ đến (cách đọc) chữ Nôm 字喃 – tại sao lại đọc là Nôm từ Nam ra Bắc, từ Thừa Thiên đến Rạch Giá …. Đây cũng là giọng Quảng khi phát âm làm thành lồm, Nam thành Nôm … Không những thế, thời vua Trần Nhân Tôn (khi chữ Nôm khởi sắc như qua Cư Trần Lạc Đạo phú …) được Chế Mân nhượng cho Châu Ô và Châu Rí thuộc địa bàn Quảng Nam: cũng là khi người Việt định cư ở các khu này (trong tiến trình Nam Tiến). Do đó, cách đọc chữ Nôm (thay vì chữ Nam) là một dấu ấn thời-không-gian (time-space impression) của ngôn ngữ: thời gian là khi chữ Nôm khởi sắc và cho ra các tác phẩm giá trị (cần thiết cho văn học độc lập cũng như truyền thông ở biên giới phía Nam) hay là vào khoảng thế kỷ XII, XIII ; không gian là địa bàn tỉnh Quảng Nam nơi mà phương ngữ vẫn còn đọc Nam là Nôm. Tiếp tục đọc “Đôi điều về chữ Nôm và giọng Quảng Nam (phần 1)”

Lãng đãng với cà phê và nhạc

Chào các bạn,

Anh Phạm Nga là một ký giả các báo lớn của Sài Gòn trước 1975, tốt nghiệp cử nhân Triết và học cao học Triết (chưa xong) tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, và cũng như đa số sinh viên Sài Gòn hồi đó, thích ngồi quán cà phê, nghe nhạc và chơi nhạc.

Tuyển tập này nói nhiều về các kỷ niệm về cà phê và nhạc của Phạm Nga. Nhưng hơn thế, chúng ta có thể dùng tuyển tập này để có một cái nhìn tổng quát về đời sống văn hóa của sinh viên và trí thức trẻ miền Nam trước 1975 và các hoài niệm của họ sau 1975. Các bạn có thể đọc tuyển tập này như là một tập anthropology về đại đa số sinh viên và trí thức miền Nam trước 1975.

Mời các bạn.

Mến,

Hoành

 Click vào đây để download

Trôi dạt dòng đời

Chào các bạn,

“Trôi dạt dòng đời” là tiều thuyết luận đề, bắt đầu câu truyện có lẽ từ những năm đầu thế kỷ 20 và kéo dài đến những năm đầu của thập niên 1960. nói về truyền thống văn hóa cổ của Việt Nam (Khổng, Phật, Lão), với văn hóa mới Công giáo, và tư tưởng Mác Lê cùng cuộc cách mạnh Cộng sản. Các nhân vật của các tiểu thuyết luận đề thường là nhân vật tổng hợp, và các sự kiện cũng thường là sự kiện tổng hợp, nhưng là tổng hợp của những nhân vật và sự kiện có thật.

Vì vậy, các tiểu thuyết luận đề có thể xem là những phân tích lịch sử dưới dạng một tiểu thuyết.

Tác giả là bạn của mình, có thạc sĩ Triết, là người đáng tin. Các thu gọn của bạn về các hiện tượng lịch sử, tôn giáo, chính trị ở đây, mình đồng ý là khá chính xác và công bình. Và mình cũng thán phục tác giả đã có cái nhìn rất trung thực và nghiêm khắc đối với Công giáo, bằng những biểu tượng nói đến sự mục nát của giáo hội Công giáo VN, dù chính bạn là người Công giáo. Tuy vậy, bạn cũng thấy được ánh sáng của Thánh linh Chúa trong giới tạm gọi là “dòng phụ” hay “đạo theo”, không phải là dòng chính. Mình cũng đồng ý về điểm này, vì chính mình thấy điều đó. Dù ma quỷ có làm gì, thì Thánh linh luôn tồn tại. Tiếp tục đọc “Trôi dạt dòng đời”

Duy trì tục chém lợn trong lễ hội Ném Thượng

15/10/2015 12:37

(TNO) Trong công văn Sở VH-TT-DL Bắc Ninh vừa gửi Cục Văn hóa cơ sở, sở này cho biết tiếp tục duy trì phong tục chém lợn ở làng Ném Thượng, nhưng có điều chỉnh.

Le-hoi-chem-lon
Vẫn duy trì tục chém lợn trong lễ hội Ném Thượng

Sở VH-TT-DL cho biết, nghi lễ chém lợn sẽ được đưa từ sân đình vào một khu vực riêng kín đáo. Nhà tổ chức cũng sẽ không để nhân dân nhúng tiền vào máu lợn.

Đây cũng là nội dung đã được kết luận trong hội nghị ngày 16.9 vừa qua về lễ hội Ném Thượng. Để tăng cường hiệu lực công tác quản lý và tổ chức lễ hội, hội nghị thống nhất bảo tồn các nghi thức truyền thống, tuy nhiên có điều chỉnh để tránh gây phản cảm. Tiếp tục đọc “Duy trì tục chém lợn trong lễ hội Ném Thượng”

Hà Nội Bốn Mùa – Thu

Tùy bút điện ảnh – Đạo diễn Nguyễn Anh Tuấn

Hà Nội ngàn năm tuổi lại bước vào Mùa Thu – mùa của những cảm hứng vô tận cho các tuyệt phẩm thơ ca, nhạc họa của những văn nghệ sĩ xưa nay sống trên đất Thăng Long- Hà Nội –  đó là sự thanh bình yên ả của cảnh vật, là nỗi chạnh lòng trước sự điêu tàn hoang phế của Kinh thành cũ, hay là sự biệt ly xa cách vời vợi… Nhưng mùa thu nơi đây cũng gợi nguồn cảm hứng lãng mạn cao cả về một cuộc đổi đời lớn lao trong thời hiện tại… Tiếp tục đọc “Hà Nội Bốn Mùa – Thu”

Câu chuyện cộng đồng tham gia quản trị lâm nghiệp

Flickr_CIFOR_REDDAssessmentsCover_914

“Qua thực hiện chính sách bảo vệ rừng, chúng tôi tin rằng 10 năm sau, đời sống của bà con toàn xã và toàn tỉnh sẽ từng bước được nâng lên, con cái được phát triển, đặc biệt là về học hành. Bên cạnh đó rừng sẽ phát triển tốt, bền vững.”

Ông Hồ Soa, một người dân xã Trường Xuân, tỉnh Quảng Bình.

TT – Được truyền cảm hứng từ những nỗ lực của người dân xã Trường Xuân, tỉnh Quảng Bình trong việc tham gia bảo vệ rừng, tổ chức Hướng tới Minh bạch (TT) và Minh bạch Quốc tế (TI) đã thực hiện một bộ phim tài liệu nhằm ghi lại những câu chuyện, kinh nghiệm và cảm nghĩ của họ khi tham gia vào lĩnh vực này. Tiếp tục đọc “Câu chuyện cộng đồng tham gia quản trị lâm nghiệp”

Những đợt sóng giao lưu ngôn ngữ Việt-Trung qua con đường Phật giáo – âm Hán Việt phạm hay phạn? (phần 1.1)

chunom.jpg (672×372)Nguyễn Cung Thông

nguyencungthong@yahoo.com

[Trích]

1. Âm phạn xuất hiện trong tiếng Việt

… Chữ phạn có gốc từ tiếng Sanskrit brahman 梵文 chỉ thần tối cao (tạo hoá) của Ấn Độ giáo, các âm dịch khác là 梵摩 phạm ma, 婆羅賀摩 bà la hạ mạ 梵覽摩 phạm lãm ma …v.v… Phạn có dạng cổ hơn là phạm, viết bằng bộ mộc 梵 (thanh mẫu tịnh 並 vận mẫu phàm 凡 hay đông 東 khứ/bình thanh, hợp/khai khẩu tam đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết…

… Phạn 梵 có các nghĩa như thanh tịnh (tốt lành), chữ/tiếng Bà La Môn (đọc nhanh thành *byam hay phàm) thuộc cổ Ấn Độ, Phật giáo từ cổ Ấn Độ (như phạn ngôn là kinh Phật, phạn cảnh là cảnh Phật, phạn học là Phật học …). VBL đã cho thấy cách dùng “làm phạn” tương ứng với cách dùng “hành phạn” (hay “phạn hành/phạm hành”) từng hiện diện trong kinh Pháp Hoa do pháp sư Cưu Ma-La-Thập (Kumarajiva 344-409) dịch sang tiếng Hán:… Tiếp tục đọc “Những đợt sóng giao lưu ngôn ngữ Việt-Trung qua con đường Phật giáo – âm Hán Việt phạm hay phạn? (phần 1.1)”

Chợt hiểu Tổ quốc đến xót xa… Về bài thơ “Gửi quần đảo Trường Sa” của Đỗ Nam Cao

GỬI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA

Trường Sa ư với ngày thường xa thật
Đảo ở đâu tôi có hỏi đâu mà
Điều khốn nạn là chỉ khi máu đổ
Đảo mới gần mới thật đảo của ta

Các anh cắm ngọn cờ Tổ quốc gió cuồn cuộn
Sóng lừng ngầu bọt bãi san hô
Kẻ muốn nhổ ngọn cờ khỏi ngực
Thì nhận đây dòng máu nóng hực ra

Chính lúc bấy giờ tôi mới hiểu Trường Sa
Hiểu đến xót xa
Tổ quốc là vỏ con ốc biển
Anh nâng niu cất gửi tặng quà Tiếp tục đọc “Chợt hiểu Tổ quốc đến xót xa… Về bài thơ “Gửi quần đảo Trường Sa” của Đỗ Nam Cao”

Những đợt sóng giao lưu ngôn ngữ Việt-Trung – vài vết tích sau thời nhà Minh trong từ điển Việt Bồ La (phần 1.4)

chunom.jpg (672×372)Nguyễn Cung Thông

nguyencungthong@yahoo.com

[Trích]

  1. “Lịch sự” nghĩa tiếng Việt và tiếng Hán

Lịch sự 歷事 là một cụm từ HV ghi nhận vào thời nhà Minh (1368-1661) chỉ chế độ thực tập để thi ra làm quan, nhà Thanh sau đó cũng áp dụng theo chương trình “Lịch Sự” như vậy trong hệ thống tuyển sinh (Quốc Tử Giám). Hoạt động này tương tự như khi các học sinh trung học đi làm lấy kinh nghiệm (bên Úc gọi là work experience, nhưng không có thi khảo hạch như chương trình “Lịch Sự”). Như vậy, nghĩa của lịch sự1 đã thay đổi vào thời VBL (1651) ở VN, dùng để chỉ biết lễ phép (cũng như đã học qua một khóa “Lịch Sự” trong “trường đời”) và mở rộng nghĩa thêm để chỉ con người biết điều, sành điệu, đẹp đẽ …v.v… Tiếp tục đọc “Những đợt sóng giao lưu ngôn ngữ Việt-Trung – vài vết tích sau thời nhà Minh trong từ điển Việt Bồ La (phần 1.4)”

TỘI ÁC HỒN NHIÊN

toul SlengMai An Nguyễn Anh Tuấn

Những đàn bồ câu hồn nhiên bay lượn và đậu yên bình cũng hồn nhiên như thế trước Hoàng cung dát vàng

Những con rắn thần Naga hồn nhiên rời bỏ chốn linh thiêng kiêng kỵ để hòa nhập với cộng đồng người nơi mỗi góc phố, công viên

Những anh xe lôi hồn nhiên nằm ngủ trong khoang xe đợi khách
Tiếp tục đọc “TỘI ÁC HỒN NHIÊN”

Mai Hồng Niên “Bâng khuâng thức giữa câu Kiều”

natuan-mhnien

Vào dịp Hội Kiều học VN gặp gỡ hội viên cuối năm (2013), lần đầu tiên tôi mới được gặp nhà thơ Mai Hồng Niên. Biết tôi đang thực hiện loạt phim tài liệu “Truyện Kiều – Xưa và Nay”, và cũng từng đọc thơ ông, lão thi sĩ trân trọng tặng tôi cuốn “Quê mình xứ Nghệ” mới tái bản (Nxb Hội nhà văn, 2014). Tôi liền giở hú họa ra đọc một trang, thì gặp ngay hai câu:

Đi dọc phố Nguyễn Du một chiều Hà Nội
Lại bâng khuâng thức giữa câu Kiều

Tôi lại giở thêm một trang khác, thì đọc được:

Anh cậy nhờ thơ để nói điều nhân thế
Và tựa vào em qua chớp bể mưa nguồn
Tựa vào bạn bè sống ít thiệt-hơn
Giữa thời thế chông chênh bão gió
…Đồng vọng với trang Kiều
Cụ Nguyễn gửi vào thơ

Tiếp tục đọc “Mai Hồng Niên “Bâng khuâng thức giữa câu Kiều””

Rừng pơmu hùng vĩ, độc nhất vô nhị còn sót lại ở Việt Nam

() – Số 228 THANH HẢI – 8:0 AM, 03/10/2015

Cây gỗ pơmu hiện nay đã xếp vào hạng nguy cấp trong “sách Đỏ Việt Nam”. Trong khi gỗ pơmu ở một số tỉnh phía bắc bị khai thác tới mức kiệt quệ, khan hiếm ngay cả trong các khu rừng nguyên sinh, thì tại huyện Tây Giang, Quảng Nam còn cả một khu rừng hỗn giao cây lá kim – lá rộng trong đó cây pơmu chiếm ưu thế với hàng ngàn cây cổ thụ, từ hàng trăm đến cả ngàn năm tuổi, phân bổ rộng khắp trên diện tích chừng 240ha.

Mới đây, chính quyền huyện Tây Giang, BQL rừng phòng hộ Bắc Sông Bung thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam có chuyến khảo sát, thống kê trên địa bàn 2 xã Tr’hy và Axan có quần thể pơmu cổ thụ, với tổng số cây pơmu đo đếm được là 1.366 cây. Trong đó số cây có đường kính đo ở vị trí 1,3m từ 10cm trở lên là 1.243 cây, số cây có đường kính dưới 10cm (cây tái sinh) là 123 cây. Cây lớn nhất có chu vi 7,52m. Tiếp tục đọc “Rừng pơmu hùng vĩ, độc nhất vô nhị còn sót lại ở Việt Nam”

Truyện Kiều: Từ văn học tới Điện ảnh – Một phương thức diễn dịch nghệ thuật đầy thử thách

                                    ( Truyện Kiều qua góc nhìn Điện ảnh )

chi-em-thuy-kieu

  1. Đối với một tác phẩm kinh điển lớn của văn học dân tộc như Truyện Kiều, các phương thức diễn dịch nghệ thuật tất yếu sẽ phải nảy sinh (Âm nhạc, Hội họa, Điêu khắc, Sân khấu, Điện ảnh, v.v). Đó cũng là điều đã xảy ra đối với nhiều tác phẩm văn học lớn của thế giới (Các vở kịch của Shakespeare, các tiểu thuyết của Stendhal, Dostoievski, Liev Tolstoi, v.v.). Riêng việc “diễn dịch” bằng điện ảnh là gây nhiều tranh cãi và thu hút sự quan tâm lớn nhất, bởi quy mô thực hiện và sức ảnh hưởng sâu rộng trực tiếp đến xã hội, như nhà điện ảnh học nổi tiếng người Pháp G. Sadoul đã khẳng định: Tiếp tục đọc “Truyện Kiều: Từ văn học tới Điện ảnh – Một phương thức diễn dịch nghệ thuật đầy thử thách”

Nhân dân Trung Quốc và Chủ nghĩa bá quyền Đại Hán

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Giữa lúc những người lãnh đạo ở Trung Nam Hải đang “vừa ăn cướp vừa la làng”, vu cáo trắng trợn Việt Nam, xuyên tạc việc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam thì trên không ít báo chí, diễn đàn mạng như Sohu, Sina, weibo, Bưu điện Hoa Nam buổi sáng, Tân Hoa xã, v.v. của Trung Quốc, nhiều người dân bình thường và trí thức của đất nước này đã lên tiếng vạch rõ: “Đường lưỡi bò” là không thể chấp nhận, đã nghiêm khắc chỉ trích hành vi đối đầu ngạo mạn với các nước láng giềng ở Biển Đông của Trung Quốc, đồng thời đề nghị những người lãnh đạo TQ cần tôn trọng sự thật lịch sử cùng luật pháp quốc tế. ( như: GS Lý Lệnh Hoa- Trung tâm Thông tin Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc, biên tập viên Chu Phương- Tân Hoa Xã,  GS Hà Quang Hộ- Đại học Nhân dân Trung Quốc, GS Thượng Hội Bằng- Học viện Quan hệ Quốc tế Bắc Kinh, GS Trương Kỳ Phàm- Học viện Pháp luật Đại học Bắc Kinh, nhà báo Lý Tiểu Tinh…)

baby_cheongsam_becomes_fashionable_children_chothing_4.jpg (672×372)

Tiếp tục đọc “Nhân dân Trung Quốc và Chủ nghĩa bá quyền Đại Hán”

Hai “Quốc lễ” dân gian tiêu biểu của Việt Nam : Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ

Đã từ lâu, các hội phủ Giầy Nam Định, hội đền Đồng Bằng (Thái Bình), hội đền Bảo Lộc (Nam Định) và hội Kiếp Bạc (Hải Dương) được tổ chức vào mùa xuân và mùa thu đã trở thành những “Quốc lễ”- tiêu biểu nhất của lễ hội Việt Nam cổ truyền. Nhiều dòng khách hành hương đã tìm về những địa chỉ văn hoá này để cầu nguyện, bày tỏ lòng sùng kính…Nhưng, số người hiểu được nội dung tâm linh-lịch sử thật sự của chúng thì không phải là nhiều.

 Lễ hội Đền Đồng Bằng thờ vua Cha Bát Hải Đại Vương
Lễ hội Đền Đồng Bằng thờ vua Cha Bát Hải Đại Vương

Tiếp tục đọc “Hai “Quốc lễ” dân gian tiêu biểu của Việt Nam : Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ”