Các ngày lễ hội Việt Nam và các Ngày Quốc Tế của Liên Hợp Quốc

Những ngày lễ ở Việt Nam được nghỉ

Nguồn: wikipedia

Các ngày lễ sau người lao động được nghỉ và hưởng nguyên lương:[1]

Tên gọi Ngày tháng Ý nghĩa Số ngày nghỉ
Tết Dương Lịch Ngày 1 /1 Ngày lễ Tết Quốc tế của hầu hết các quốc gia. 1
Tết Nguyên Đán ngày cuối tháng Chạp đến
mồng 4 tháng Giêng (Âm lịch)[2]
Tết cổ truyền của dân tộc. 5
Giỗ Tổ Hùng Vương 10 tháng 3 (Âm lịch) Tưởng nhớ đến công ơn dựng nước của các Vua Hùng. 1
Ngày Thống nhất đất nước 30 tháng 4 Kết thúc Chiến tranh Việt Nam. 1
Ngày Quốc tế Lao động 1 tháng 5 Kỷ niệm ngày của người lao động toàn thế giới. 1
Ngày Quốc khánh 2 tháng 9 Kỷ niệm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập. 1

Tiếp tục đọc “Các ngày lễ hội Việt Nam và các Ngày Quốc Tế của Liên Hợp Quốc”

Con đường lên nắm quyền của Ngô Đình Diệm, 1945-54 (3 Phần)

Con đường lên nắm quyền của Ngô Đình Diệm, 1945-54 (P1)

Posted on by NCQT

ngo-dinh-diem1

Nguồn: Edward Miller “Vision, Power and Agency: The Ascent of Ngô Ðình Diệm, 1945–54“, Journal of Southeast Asian Studies, 35 (3), October 2004, pp 433–458.

Biên dịch: Hoài Phi & Vy Huyền

Tóm lược: Bài viết này phản bác lại những diễn giải hiện có về Ngô Ðình Diệm bằng cách xem xét những hoạt động của ông trong vòng một thập kỷ trước khi ông trở thành lãnh đạo của miền Nam Việt Nam vào năm 1954. Ngô Ðình Diệm đã chủ động tìm cách nắm quyền trong những năm đó, và ông thành công chủ yếu nhờ nỗ lực của chính mình và của những đồng minh người Việt của ông. Cùng thời gian đó, ông và em trai là Ngô Ðình Nhu cũng phác thảo ra viễn kiến đặc biệt về quá trình hiện đại hoá, so rõ cho chúng ta thấy chiến lược xây dựng quốc gia ở miền Nam Việt Nam sau năm 1954. Tiếp tục đọc “Con đường lên nắm quyền của Ngô Đình Diệm, 1945-54 (3 Phần)”

Nữ tiến sĩ của buôn làng

Ký sự

Hoàng Thiên Nga- Thiên Linh

          Trò chuyện, hoặc cùng đi điền dã với Tuyết Nhung Buôn Krông là dịp may đầy thú vị đối với bất kỳ ai có niềm say mê về nghiên cứu văn hóa tộc người, muốn tìm hiểu sâu về vẻ đẹp tinh tế của xã hội mẫu hệ Tây Nguyên. Bởi, nữ tiến sĩ người Ê đê Bih này chính là người đã “ tắm mình trong hơi ấm mẫu hệ” ấy.

Ts Tuyết Nhung ( áo trắng) về buôn
Ts Tuyết Nhung ( áo trắng) về buôn

Tiếp tục đọc “Nữ tiến sĩ của buôn làng”

Hoà Thượng Thạch Liêm, chúa Nguyễn Phúc Chu và chùa Thiên Mụ

Nguyễn Hữu Vinh biên soạn

Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Dù trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung.  Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ”.

Tiếp tục đọc “Hoà Thượng Thạch Liêm, chúa Nguyễn Phúc Chu và chùa Thiên Mụ”

Gìn giữ tiếng Việt nơi xứ người – 7 kỳ

Tiếng nước tôi, xin giấu vào lòng

Gìn giữ tiếng Việt nơi xứ người – Kỳ 2: Sao Mai ở Berlin

Gìn giữ tiếng Việt nơi xứ người – Kỳ 3: Cho và nhận

“Sự tích chú Cuội” giữa lòng Warsaw

Nối lại nhịp cầu

Một đề án dở dang

Để “tiếng nước tôi” vang mãi nơi xa…


Tiếng nước tôi, xin giấu vào lòng

16/11/2013 09:05 GMT+7

TTNửa thế kỷ qua, hành trình gieo chữ Việt cho người Việt trên đất Thái Lan đã trải qua biết bao nhiêu thăng trầm. Nhớ lại những tháng ngày gian nan đi học, đi dạy phải giấu giấu giếm giếm, nhiều thầy cô không giấu được những giọt nước mắt hạnh phúc…

Cô giáo Đào Thanh Tẻo (phải) và một cô giáo dạy tiếng Việt ở Đài Loan - Ảnh: Nguyễn KhánhPhóng to
Cô giáo Đào Thanh Tẻo (phải) và một cô giáo dạy tiếng Việt ở Đài Loan – Ảnh: Nguyễn Khánh

Thương nhớ “tiếng nước tôi…”

Bà Đào Thanh Tẻo giờ đã ngoại ngũ tuần. Người phụ nữ thấp đậm, gương mặt tươi tắn, nói tiếng Thái sõi hơn tiếng Việt, khiến phần lớn người gặp bà lần đầu đều lầm tưởng bà là người Thái Lan. Ở lớp bồi dưỡng cho giáo viên dạy tiếng Việt ở nước ngoài tại Hà Nội những ngày tháng 10-2013, bà Tẻo tự nhận là “nói tiếng Việt kém trôi chảy nhất”. Nhưng ít ai biết đó là cô giáo đặc biệt trên đất Thái. Trong câu chuyện lan man với cô giáo Tẻo, chúng tôi mới vỡ lẽ người phụ nữ này đã phải nhiều năm trời giấu thân phận mình dưới vỏ bọc của một người Thái Lan…

Tiếp tục đọc “Gìn giữ tiếng Việt nơi xứ người – 7 kỳ”

Ancient tombs reflect cultural exchange


Cross-cultural gravesite: A local resident takes care of tomb of Banjiro, in 1665, in her garden in Hoi An.

VNN – The tombs of families of Japanese traders who died in Hoi An in the 17th century have been cared for by generations of local people. They have become a cross-cultural project for researchers from the two countries. Hoai Nam reports.

Vietnamese and Japanese cultural researchers from Hoi An’s Centre for Cultural Heritage Management Preservation and Japanese universities have been seeking the families of three Japanese traders who died and were buried in Hoi An in the 17th century.

Their tombs, which have been preserved by local people in Cam Chau Commune, attracts Japanese residents and tourists. Tiếp tục đọc “Ancient tombs reflect cultural exchange”

Chùa Hà Trung và sư Tạ Nguyên Thiều

Nguyễn Hữu Vinh

Huế không thiếu những ngôi chùa nổi tiếng, không phải vì chùa tọa lạc ở nơi  phong cảnh nên thơ, mà vì các chùa đã đóng vai trò quan trọng trong công việc hoằng pháp giáo lý Phật giáo trong suốt thời gian dài trong quá khứ. Quần thể chùa chiền ở Huế đa số đều tập trung vào các vùng lân cận thành phố, phân bố rãi rác về phía Tây Nam của kinh thành. Ðây là dải đất ven bờ sông Hương,  phong cảnh thiên nhiên hữu tình, sông núi hiền hòa nên sự có mặt của các ngôi chùa này là điều dễ hiểu. Nhưng có một ngôi chùa rất xưa, không nằm trong dải đất ven bờ sông Hương, núi Ngự hữu tình này và đã bị lãng quên trong suốt thời gian dài. Ðó là chùa Hà Trung.

Chùa Hà Trung

Từ chùa Thiên Mụ ven theo tả ngạn sông Hương lần đi về thành phố, tạt ngang chùa Báo Quốc, xong hướng về hướng Nam dọc theo quốc lộ 1,  đi khoảng 30 km, dần dần sẽ đến vùng gió cát vi vu thơm mùi nước mặn biển cả. Ðó là vùng kề cận đầm Hà Trung phá Tam Giang. Tiếp tục đọc “Chùa Hà Trung và sư Tạ Nguyên Thiều”

Bắc di cư: Dân Công giáo tị nạn từ miền Bắc và vai trò của họ tại Việt Nam CH, 1954-1959

Posted on by The Observer – NCQT

Nguồn: Peter Hansen (2009). “Bac Di Cu: Catholic Refugees from the North of Vietnam, and Their Role in the Southern Republic, 1954–1959”, Journal of Vietnamese Studies, Vol. 4, No. 3, pp. 173 -211.

Biên dịch và Hiệu đính: Đỗ Hải Yến

Gia Kiệm, một thị trấn khoảng tám mươi ngàn dân, nằm cách thành phố Hồ Chí Minh chừng năm mươi kilômét về phía Bắc, trên đường đến Đà Lạt. Thị trấn nổi bật bởi sự phồn thịnh và quy củ, nhưng điểm đặc biệt nhất là sự phong phú của các nhà thờ Công giáo vốn nằm rải rác trên trục đường chính, chỉ cách nhau vài trăm mét. Gia Kiệm không phải là một cộng đồng lâu đời. Trên thực tế, trước năm 1954, đó còn chưa phải là một ngôi làng. Nhưng vào năm đó, Giám mục Thaddeus Lê Hữu Từ đã chọn Gia Kiệm làm nơi tái định cư cho hàng ngàn dân Công giáo bỏ chạy vào Nam từ Giáo khu Phát Diệm của ông ở miền Bắc. Dân Công giáo từ các giáo khu khác ở miền Bắc như Bùi Chu và Thanh Hóa nhanh chóng gia nhập đoàn giáo dân của Lê Hữu Từ tại Gia Kiệm. Tên của các giáo xứ mới thành lập tại Gia Kiệm gợi nhắc gốc gác miền Bắc của họ: Phát Hải, Thanh Sơn, Phúc Nhạc, Ninh Phát, Kim Thượng, v.v…[1] Tiếp tục đọc “Bắc di cư: Dân Công giáo tị nạn từ miền Bắc và vai trò của họ tại Việt Nam CH, 1954-1959”

Người Jing (Kinh) trên đất Trung Hoa, 500 năm lưu lạc vẫn tự hào hai tiếng Việt Nam

NN – Trong vùng Tam Đảo thuộc tỉnh Quảng Tây, bên Tàu có ba làng người Việt, gọi là Jing (Kinh). Tài liệu tại địa phương cho biết họ đã rời Việt Nam và định cự tại đây khoảng 500 năm. Tuy nhiên, đồng bào Việt vẫn giữ gần như hầu hết các nét đặc thù của dân tộc Việt mặc dù áp lực đồng hóa thường trực của văn hóa Trung Hoa.

Bác sĩ Lê Văn Lân đã đi thăm tận nơi 3 làng Việt bên Tầu vẫn được sống như tự trị ở vùng duyên hải Quảng Tây. Tên ba làng đó là Ô Vĩ, Vu Đầu, Sơn Tâm, thuộc huyện Giang Bình, quen gọi là Kinh Tộc tam đảo. Dân trong ba làng vẫn giữ tiếng nói, kiểu ăn mặc, phong tục Việt, vẫn ăn tết, hát dân ca cổ truyền, dùng đàn bầu, đàn nhị, sáo, trống, cồng. Đồ ăn của họ thì cơm vẫn là chính, dùng nước mắm, lại có xôi chè, bánh tráng nướng, bún riêu, bún ốc. Họ vẫn dùng chữ nôm, và dĩ nhiên cũng nói tiếng Tầu địa phương.

Tiếp tục đọc “Người Jing (Kinh) trên đất Trung Hoa, 500 năm lưu lạc vẫn tự hào hai tiếng Việt Nam”

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – 6 kỳ

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay: Tại sao lại là Johnathan Hạnh Nguyễn ?

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – Kỳ 2: Vào dinh xin chữ ký tổng thống

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – Kỳ 3: Phần thưởng nóng

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – Kỳ 4: Vận động viện trợ nhân đạo, xúc tiến đầu tư…

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – Kỳ 5: Mở đường kiều hối

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – Kỳ 6: Giữ đường bay bằng mọi giá

***

06:21 AM – 18/05/2015 TN

Trong lịch sử hàng không dân dụng VN có một Việt kiều đã chấp nhận mạo hiểm, dám đánh đổi mạng sống của mình để mở đường bay quan trọng, tạo một lối mở ra thế giới cho đất nước từ 30 năm trước…

Lễ đón chuyến bay đầu tiên VN9033 từ TP.HCM đáp xuống Manila vào ngày 9.9.1985 - Ảnh: T.L
Lễ đón chuyến bay đầu tiên VN9033 từ TP.HCM đáp xuống Manila vào ngày 9.9.1985 – Ảnh: T.L

Bây giờ có thể nói việc mở đường bay không quá khó khi mà VN đã gia nhập nhiều tổ chức, bình thường hóa quan hệ với nhiều nước trên thế giới. Chỉ cần có lượng khách đi lại khá thường xuyên là có thể… bay!

Nhưng vào những năm đầu thống nhất đất nước, việc mở đường bay, đặc biệt là bay thẳng đến những nước được gọi là “phía bên kia” không hề dễ dàng chút nào. Phần vì chúng ta chưa thật sự chủ động mở cửa, phần vì lệnh cấm vận của Mỹ còn thắt chặt. Việc ký kết các hiệp định hàng không, mở đường bay thẳng vì thế luôn đối mặt với nhiều khó khăn. Tiếp tục đọc “Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – 6 kỳ”

Tản mạn về từ Hán Việt thời – thì (phần 6.2)

Nguyễn Cung Thông

nguyencungthong@yahoo.com

Image14

Trong tiến trình hội nhập với đà tiến hóa của văn minh hiện đại, chúng ta cần phải nhìn lại một cách khác quan vài đặc tính của tư duy người Việt Nam qua các tập tục từ ngàn xưa và phản ánh qua ngôn ngữ cận đại, trọng tâm của loạt bài này. Có hiểu quá trình cấu tạo các khái niệm về thời gian như chữ thời thì mới hy vọng phần nào hiểu được tại sao người Việt Nam thường đi đến các buổi họp mặt (như làm việc, giỗ, tiệc trà, đám cưới …)  không theo đúng thời hạn và sau đó là tìm ra các phương pháp cải cách lề lối suy nghĩ không hợp thời như vậy.

Các tính tốt hay tích cực như tinh thần cộng đồng, giúp đỡ lẫn nhau (Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn) thì ráng giữ lấy, còn một số tư duy không phù hợp với thời đại nữa thì cần phải xem lại như ‘chứng bệnh’ giờ cao-su (giờ dây thun). Tiếp tục đọc “Tản mạn về từ Hán Việt thời – thì (phần 6.2)”

Việt Nam-Trung Quốc chính thức ký kết Hiệp định về thác Bản Giốc

DT – Việt Nam và Trung Quốc vừa chính thức ký kết Hiệp định khai thác tài nguyên du lịch thác Bản Giốc và Hiệp định về tự do đi lại của tàu thuyền ở cửa sông Bắc Luân.

Với việc ký kết 2 văn kiện pháp lý quan trọng này, Việt Nam và Trung Quốc đã chính thức khép lại hoàn toàn những tranh chấp do lịch sử để lại, mở ra một thời kỳ hợp tác mới giữa hai nước.

Thác Bản Giốc (Ảnh: Trương Cộng Hòa)>
Thác Bản Giốc (Ảnh: Trương Cộng Hòa)

Khu vực thác Bản Giốc và cửa sông Bắc Luân là những khu vực rất nhạy cảm, có lịch sử tranh chấp lâu đời và dư luận hai nước Việt Nam, Trung Quốc đặc biệt quan tâm. Nhiều năm qua, các khu vực này đã được đưa ra bàn bạc trong nhiều vòng đàm phán của Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc Việt Nam-Trung Quốc nhưng chưa giải quyết được. Ngay sau khi hoàn thành phân giới cắm mốc trên đất liền năm 2008, Việt Nam và Trung Quốc nhất trí giải quyết tổng thể các khu vực tồn đọng trong đó có 2 khu vực này bằng giải pháp “cả gói”, dựa trên nguyên tắc công bằng hợp lý, tôn trọng các dấu tích lịch sử, ưu tiên ổn định đời sống cư dân biên giới, phù hợp các văn bản pháp lý do lịch sử để lại. Tiếp tục đọc “Việt Nam-Trung Quốc chính thức ký kết Hiệp định về thác Bản Giốc”

Vài ý nghĩ về Thơ Việt hôm nay và những cách ứng xử với Thơ

Thời gian dài vừa qua, đời sống văn hóa & tinh thần nói chung, đời sống văn chương nói riêng đã diễn ra tình trạng loạn chuẩn tới mức báo động, và nổi lên những hiện tượng kỳ dị- nổi bật nhất là tình trạng “lạm phát thơ” ( như tên một bài viết), mà đỉnh cao (hay thực chất là biến tướng quái đản của nó) là hiện tượng người làm thơ dám tự nhận “mượn bút tiền nhân”…

Là một người yêu thơ, và đang làm một công việc có thể nói là lấy thơ ca làm gốc, tôi xin mạnh dạn góp mấy lời lạm bàn về hiện trạng trên.

Đúng là có sự thật: “Nhan nhản những tập thơ vô thưởng vô phạt xuất hiện trong các giải thưởng, trên quầy sách, trên bàn thờ tổ tiên hay trên những trang mạng cá nhân. Đó là thứ thơ sáo mòn, nhạt thếch và cũ rích, tưởng như vừa khai quật trong bãi thải của quên lãng…Nhưng cũng không ít người say mê với nó và tưởng mình không thua gì Nguyễn Bính, Xuân Hương khi được một số độc giả khen vuốt ve trên mạng ảo…” (“Hiện tượng vè hóa, văn xuôi hóa và cũ hóa Thơ…cần báo động” – Nguyễn Trọng Tạo – trieuxuan.info ). Quả thực có chuyện: “Thơ thập- diện- mai- phục… thơ làm tắc nghẽn mọi ngóc ngách, ngõ hẻm, đường sá, giao lộ tinh thần khiến cho thơ sạch không có lối đi.” ( “Vấn nạn thơ đầy đường”- trannhuong.com). Bản thân tôi cũng đã bày tỏ thái độ trước sự lạm phát thơ này trong vài bộ phim truyện truyền hình phát trên Văn nghệ chủ nhật, như phim “Trời cho- trò chơi”: một ông được đền bù đất đai đã vung tiền cho mình và vợ con làm sang- vợ mở phủ, con gái mua sắm, còn bản thân thì cho in thơ “con cóc” của mình để khoe và để biếu (do một cò mồi kích thích dẫn dắt mà diễn viên Xuân Bắc thủ vai rất đạt)

Tiếp tục đọc “Vài ý nghĩ về Thơ Việt hôm nay và những cách ứng xử với Thơ”

Khi sông Cái mỉm cười

Nguyễn Anh Tuấn
Đọc trường ca “Sông Cái Mỉm Cười” của Nguyễn Nguyên Bảy

Một chiều mưa phùn gió bấc, tôi qua cầu Long Biên, dừng xe ngắm nhìn dòng sông Hồng trơ cạn… Đây là dòng sông đỏ lựng phù sa mà biết bao nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, hoạ sĩ, nhà điện ảnh… đã tìm thấy nguồn cảm hứng nghệ thuật vô tận và mãnh liệt của mình! Và tôi bỗng nghĩ đến cái Dự án “Thành phố Sông Hồng”- một công cuộc chỉnh trang lại đê điều sông Hồng lớn nhất trong lịch sử kể từ khi Hà Nội và châu thổ sông Hồng có đê ngăn lũ; và ít ai biết được rằng: Dự án đó lại xuất phát từ tình yêu sông Hồng và ý tưởng của một hoạ sĩ- hoạ sĩ Vũ Văn Thơ…

Nhưng Dự án này khi triển khai, với nhiều nhà khoa học có lương tâm thì lại nổi cộm khá nhiều vấn đề hệ trọng. Nhà sử học Lê Văn Lan đã lên tiếng cảnh báo: Dự án trên“không hiểu vô tình hay là hữu tình…về mặt lịch sử, văn hoá gắn liền với Thủ đô Hà Nội thì chẳng thấy ai đề cập đến!” Tệ hơn, như GS Lê Văn Lan đã vạch ra: Dự án còn định “cấy” một khu đô thị Hàn Quốc vào, “ như thế khác nào đánh mất mình và Hà Nội sẽ không còn nữa!” Và ông đã đặt câu hỏi hộ nhiều người: “ Hôm nay đây,chúng ta đều biết nước sông Hồng đang dần bị cạn kiệt, thì lịch sử sông Hồng,là cội nguồn của nhiều dòng đời liệu có bị cạn theo?  Trách nhiệm này thế hệ của chúng ta có phải trả lời trước lịch sử hay không? ”(Dòng chảy sông Hồng sẽ về đâu?- VN Trẻ )…Trong những ý nghĩ miên man như thế, tôi đã nhớ đến trường ca “Sông Cái mỉm cười” của nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy – một người Hà Nội đau đáu nhớ thương Hà Nội đang sống xa Hà Nội hàng ngàn cây số…

1. Không phải ngẫu nhiên mà NNB dùng trường ca “Sông Cái Mỉm Cười” để kết cho phần thơ “Kinh thành Cổ tích”*. Và trong thế giới của Kinh thành Cổ tích, Sông Cái đương nhiên cũng phải là con sông Cổ tích!

Tiếp tục đọc “Khi sông Cái mỉm cười”

Vụ Nhân Văn Giai Phẩm từ góc nhìn của Đại tá Công an

Được đăng bởi nguyentrongtao
và VANDANVIET.COM

NTT: Nhà văn Lê Hoài Nguyên tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo dõi văn nghệ sĩ và văn hóa) đã gửi tới NTT.ORG một chuyên luận dài về Nhân Văn Giai Phẩm, và chúng tôi đã đăng làm 5 kỳ từ đầu tháng 8/2010, được nhiều trang mạng đăng lại. Nay tác giả đã chỉnh sửa lại bài viết của mình và nhờ NTT.ORG đăng lại trọn vẹn bài viết này. Các bạn hãy đọc nó như đọc một “góc nhìn” về sự thật.

VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM MỘT TRÀO LƯU DÂN CHỦ, MỘT CUỘC CÁCH TÂN VĂN HỌC KHÔNG THÀNH

LÊ HOÀI NGUYÊN


I – Mấy vấn đề có tính phương pháp luận

Hiện nay còn tồn tại nhiều cách đánh giá về vụ Nhân Văn-Giai Phẩm. Có người cực đoan cho rằng cốt lõi đây là vụ án chính trị phản động không dính líu gì đến văn học, mà chỉ có một số anh em văn nghệ sĩ bị lôi kéo vào, Đảng và nhà nước đã không xử án văn nghệ sĩ (1). Người thì cho là một vụ án văn học, thuần túy oan sai về văn học, để đàn áp văn nghệ sĩ, nhà nước đã biến một vụ việc văn học thành một vụ án chính trị. (2).Tât nhiên là để bảo vệ các khuynh hướng, để đánh giá đúng thực chất của Nhân Văn Giai Phẩm không phải dễ dàng, mà phản bác hoàn toàn cũng cần hết sức thận trọng. Tiếp tục đọc “Vụ Nhân Văn Giai Phẩm từ góc nhìn của Đại tá Công an”