Nguyễn Bảo Ngọc
Miền Tây đang phát triển: mở rộng cảng biển, vùng sinh thái công nghiệp, đường cao tốc, đổi mới đào tạo nghề cho lao động nông thôn…
Bức tranh Phát triển Đồng Bằng sông Cửu Long anh Hoành vẽ mấy năm trước đang dần thành hiện thực.
Mong cho bà con miền Tây có cuộc sống ấm êm.
- Mở “cửa ngõ biển” cho hàng hóa miền Tây
- Mở rộng vùng sinh thái công nghiệp, động lực mới cho phát triển bền vững
- Toàn cảnh dự án mở rộng cao tốc nối TP.HCM với miền Tây hơn 36.000 tỉ trước ngày khởi công
- Cần Thơ đổi mới đào tạo nghề cho lao động nông thôn
- Phát triển Đồng Bằng Sông Cửu Long (anh Hoành)
***
Mở “cửa ngõ biển” cho hàng hóa miền Tây

Cầu cảng biển
Là vùng kinh tế có khối lượng hàng hóa vận chuyển xuất nhập khẩu lớn, Đồng bằng sông Cửu Long rất cần có hệ thống cảng phát triển để đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hóa. Thời gian qua, có đến 70% khối lượng hàng hóa xuất nhập vào vùng phải chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh qua hệ thống đường bộ, gây quá tải cho đường bộ và hệ thống cảng ở vùng Đông Nam Bộ.
Theo các doanh nghiệp, vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ về Thành phố Hồ Chí Minh và qua các cảng Đông Nam Bộ đã nâng phí bình quân khoảng 7-10 USD/tấn hàng hóa, hay 170 USD/1 container. Hệ quả là làm tăng giá thành, giảm sức cạnh tranh cho hàng hóa ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Thực phẩm Sao Ta Hồ Quốc Lực cho biết, hơn 27 năm qua công ty phải vận chuyển hàng hóa xuất khẩu qua các cảng thuộc Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Cung đường vận chuyển khá xa, phí vận chuyển hai chiều lên hơn 700 USD mỗi chuyến, bên cạnh đó còn tiềm ẩn nhiều rủi ro như kẹt xe, sự cố giao thông cho nên có thể hàng không tới cảng kịp thời gian theo hợp đồng, gây thiệt hại cho kinh doanh.
Thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã có những chủ trương lớn trong việc phát triển kinh tế – xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 2/4/2022 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 78/NQ-CP ngày 18/6/2022 của Chính phủ về thực hiện phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó có đề ra các giải pháp cụ thể như nâng cấp, cải tạo, mở rộng hệ thống đường bộ, đường sông, cảng biển…
Phó Tổng giám đốc Công ty Hàng hải Việt Nam Lê Quang Trung khẳng định, thực tế cho thấy, việc hàng hóa từ Đồng bằng sông Cửu Long về Thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại chưa phát huy được thế mạnh của hệ thống đường thủy nội địa trong vùng. Để tháo gỡ nút thắt, giảm chi phí logistics của vùng tiệm cận với các vùng kinh tế trọng điểm trong nước và khu vực, cần thiết phải hình thành một cửa ngõ cho toàn vùng. Một trong những nghiên cứu khả thi là xây dựng cảng biển Trần Đề của tỉnh Sóc Trăng. Đây là dự án có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế, thực hiện an sinh xã hội, bảo đảm an ninh-quốc phòng của tỉnh Sóc Trăng nói riêng, toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.
Theo Quy hoạch tỉnh Sóc Trăng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Sóc Trăng được xác định là trung tâm đầu mối của vùng về nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, logistics với trọng tâm là cảng biển nước sâu Trần Đề.
Phát triển công nghệ cảng biển thông minh
Theo Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Xuân Sang, cảng biển Sóc Trăng gồm các khu bến: Kế Sách, Đại Ngãi, Trần Đề và các bến phao, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh, trú bão; với lưu lượng hàng hóa và hành khách trung chuyển hằng năm rất lớn.
Theo quy hoạch, cảng biển Trần Đề là cảng cửa ngõ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, có tổng số 6 bến cảng gồm từ 16 cầu cảng đến 18 cầu cảng với tổng chiều dài từ 2.693m đến 3.493m. Phạm vi vùng đất, vùng nước phù hợp quy mô bến cảng và đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa. Tổng nhu cầu sử dụng đất cho dự án đến năm 2030 khoảng 1.331ha; tổng nhu cầu sử dụng mặt nước khoảng 148.486ha. Nhu cầu vốn đầu tư hệ thống cảng biển Sóc Trăng đến năm 2030 khoảng 61.513 tỷ đồng, gồm vốn đầu tư cho hạ tầng hàng hải công cộng khoảng 19.607 tỷ đồng và nhu cầu vốn đầu tư cho bến cảng gần 42.000 tỷ đồng.
Bộ Xây dựng ưu tiên kêu gọi đầu tư xây dựng hạ tầng công cộng bến cảng ngoài khơi cửa Trần Đề; đầu tư các kết cấu hạ tầng phục vụ công tác bảo đảm an toàn hàng hải; xây dựng bến cảng phục vụ Nhà máy nhiệt điện Long Phú 1 và các bến cảng tại khu bến ngoài khơi cửa Trần Đề. Theo đó, dự án khuyến khích nhà đầu tư khai thác cảng ứng dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật hiện đại, công nghệ số và chuyển đổi số trong xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống cảng biển Sóc Trăng, nhằm thúc đẩy chuyển đổi phương tiện, trang thiết bị sử dụng điện, năng lượng xanh đáp ứng các tiêu chí cảng xanh, cảng biển thông minh.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng, Trần Văn Lâu cho biết, thời gian gần đây, Trung ương đã có nhiều chủ trương, chính sách tập trung nguồn lực đầu tư khu vực, nhất là phát triển hạ tầng giao thông. Tỉnh Sóc Trăng đã và đang khẩn trương phối hợp với các bộ, ngành liên quan hoàn thành các quy hoạch cụ thể để kêu gọi đầu tư cảng Trần Đề, đồng thời tổ chức định hướng quy hoạch phát triển các công trình giao thông, các khu chức năng kết nối và phát huy hiệu quả, đồng bộ với các dự án giao thông trọng điểm, đặc biệt là dự án đường bộ cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng và Cảng biển Trần Đề.
***
Toàn cảnh dự án mở rộng cao tốc nối TP.HCM với miền Tây hơn 36.000 tỉ trước ngày khởi công
***
Cần Thơ đổi mới đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Theo đó, việc triển khai kế hoạch nhằm quán triệt đầy đủ các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của Kế hoạch số 350-KH/TU nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, tổ chức, đơn vị và toàn xã hội về tầm quan trọng của công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
![]() |
| TP. Cần Thơ đặt mục tiêu đào tạo nghề cho 5.000 lao đông nông thôn. Ảnh minh họa |
Các sở, ban ngành của thành phố cùng UBND các quận, huyện cần tổ chức triển khai để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của cán bộ, công chức, người lao động và cộng đồng xã hội về vai trò của đào tạo nghề trong phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Công tác đào tạo nghề cần được đổi mới, nâng cao chất lượng để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, gắn với sự phát triển bền vững của thành phố. Đồng thời, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị liên quan để thực hiện hiệu quả kế hoạch này.
Mục tiêu chung của kế hoạch là đổi mới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đặc biệt là đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề, kỹ năng đáp ứng cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng cho thị trường lao động, gắn với sự chuyển dịch cơ cấu lao động và nâng cao năng suất. Việc đào tạo phải chú trọng đến đào tạo lại, đào tạo thường xuyên để phù hợp với nhu cầu đa dạng của thị trường, đồng thời tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong giảng dạy và đào tạo nghề. Công tác đào tạo cần gắn với phương thức sản xuất hiện đại, phù hợp với xu hướng phát triển của nền nông nghiệp xanh, nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp công nghệ cao.
Theo kế hoạch, đến năm 2025, thành phố sẽ đào tạo nghề cho khoảng 950 lao động nông thôn, trong đó ít nhất 50% được hỗ trợ học nghề trình độ sơ cấp trở lên và tỷ lệ có việc làm sau đào tạo đạt tối thiểu 80%. Thành phố cũng đặt mục tiêu ít nhất 40% học sinh khu vực nông thôn tốt nghiệp trung học cơ sở tiếp tục học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ở trình độ sơ cấp hoặc trung cấp. Đối với học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông, phấn đấu có ít nhất 45% tiếp tục học nghề ở bậc trung cấp hoặc cao đẳng.
Đến năm 2030, số lao động nông thôn được đào tạo nghề dự kiến đạt khoảng 5.000 người, trong đó ít nhất 60% được hỗ trợ học nghề trình độ sơ cấp trở lên, với tỷ lệ có việc làm đạt tối thiểu 85%. Thành phố cũng duy trì mục tiêu ít nhất 40% học sinh nông thôn tốt nghiệp trung học cơ sở tiếp tục học nghề và ít nhất 45% học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Đổi mới toàn diện đào tạo nghề
Để đạt được các mục tiêu, thành phố sẽ đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các sở, ban ngành, tổ chức đoàn thể và cộng đồng về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Việc tuyên truyền cần đổi mới theo hướng đa dạng, phong phú, phù hợp với từng đối tượng, đảm bảo tính thiết thực và hiệu quả. Đồng thời, công tác kiểm tra, giám sát cần được thực hiện thường xuyên để kịp thời phát hiện, xử lý các sai phạm, đảm bảo việc thực hiện kế hoạch đúng tiến độ và hiệu quả.
Công tác đào tạo nghề cũng cần được đổi mới toàn diện để nâng cao chất lượng và hiệu quả. Thành phố sẽ cập nhật chương trình đào tạo, kiểm định chất lượng đào tạo, tăng cường giáo dục đạo đức nghề nghiệp, an toàn lao động và kỹ năng mềm cho lao động nông thôn. Nội dung đào tạo sẽ linh hoạt, phù hợp với thực tiễn kinh tế – xã hội của địa phương và nhu cầu thị trường lao động.
Thành phố cũng chú trọng phát triển mô hình đào tạo gắn với học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập ở khu vực nông thôn để giúp người lao động có thể thích nghi với những thay đổi trong nền kinh tế và công nghệ. Công tác hướng nghiệp, phân luồng học sinh phổ thông cũng sẽ được chú trọng để tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh nông thôn tiếp cận với giáo dục nghề nghiệp phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của thành phố.
Bên cạnh đó, thành phố cũng sẽ tập trung đào tạo lại nguồn nhân lực nông thôn để thích ứng với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động và kinh tế, gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống và phát triển không gian kinh tế nông thôn hiện đại.
Việc ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong đào tạo nghề cũng là một nội dung quan trọng. Thành phố sẽ tổ chức các chương trình đào tạo kỹ năng số cho lao động nông thôn, góp phần phát triển kinh tế số và xã hội số tại khu vực này.
| Với những giải pháp đồng bộ, TP. Cần Thơ kỳ vọng sẽ tạo được bước chuyển biến rõ rệt trong công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của địa phương trong giai đoạn tới. |
Ngân Nga
Phát triển Đồng Bằng Sông Cửu Long
Chào các bạn,
Mình viết bài này về phát triển Đồng Bằng Sông Cửu Long vì (1) mình yêu người dân miền Tây rất hiền lành chân thật, (2) mình phục dân miền Tây với tinh thần chiến đấu và sáng tạo đã được minh chứng hơn 300 năm, (3) ĐBCCL là một trong những vùng bị ảnh hưởng nhất thế giới bởi biến đổi khí hậu, (4) phát triển ĐBSCL cũng là một phần lớn của phát triển đất nước, và (5) quan trọng nhất là chính sách của VN cho đến lúc này là không công bình với người dân ở ĐBSCL.
Cho phép mình nói về điểm quan trọng nhất, điểm số 5 bên trên: Chính sách của VN cho đến lúc này là không công bình với người dân ở ĐBSCL.
Vậy nghĩa là sao?
Nghĩa là, mọi tư duy và chính sách lúc này đều nói về một điều duy nhất: ĐBSCL là vùng nông nghiệp và vựa lúa của VN.
Các bạn đã biết rồi, nông nghiệp nói chung là nghèo đói so với những lãnh vực khác. Ví dụ, một kỹ sư tin học có thể có lợi tức mỗi năm bằng vài chục hay hàng trăm nông dân. Nếu chúng ta không thấy sự thật này, chúng ta chẳng biết công bình hay bất công là gì.
Khi chúng ta cứ nghĩ về ĐBSCL như là một vùng nông nghiệp, chúng ta đang phán án ĐBSCL vào bản án nghèo đói muôn năm.
Điều thứ nhất chúng ta cần suy tư về ĐBSCL là: Tại sao ĐBSCL không thể là trung tâm của những kỹ nghệ hàng đầu thế giới, như
– tin học và viễn thông: đây là những kỹ nghệ chẳng ăn nhập gì đến địa lý. Bạn ngồi đâu trên thế giới, từ New York đến rừng rậm Amazon, bạn cũng đều có thể làm việc như kỹ sư tin học và viễn thông.
– năng lượng sạch: ĐBSCL, với bờ biển mênh mông, có đủ điều kiện để phát triển năng lượng mặt trời và năng lượng gió, có lẽ là số 1 ở VN, nếu không là số một ở Đông Nam Á.
– du lịch: Đúng là ĐBSCL đang phát triển nhiều về du lịch, nhất là du lịch sinh thái và văn hóa. Nhưng chẳng lý do gì mà ĐBSCL không thể có thêm du lịch hitech với những kỹ thuật hitech số một thế giới.
Lịch sử hơn 300 năm hình thành cho thấy người ĐBSCL có lẽ là người sáng tạo nhất nước, với bao nhiêu phát minh cả 300 năm cho đến ngày nay (2019) và vẫn tiếp tục phát minh từng ngày để tìm cách sinh sống tốt nhất với con nước thay đổi, đất đai thay đổi, và bây giờ khí hậu biến đổi. Óc sáng tạo của người ĐBSCL là vốn liếng rất lớn để thích nghi với những kỹ nghệ tân tiến nhất thế giới ngày nay – tin học, viễn thông, năng lượng sạch.
Về nông nghiệp, ĐBSCL sẽ luôn luôn là vựa thực phẩm lớn nhất VN. Nhưng chúng ta không thể chỉ nói về nông nghiệp mà cố tình gạt bỏ mọi yếu tố khác và do đó thành cực kì bất công bình đối với người dân ĐBSCL. Khi ĐBSCL tiến bộ về kỹ thuật mới về tin học, viễn thông và năng lượng, thì tự nhiên kỹ thuật về nông nghiệp sẽ tiến bộ theo. Một nhà kính 1000 m2 có thể tạo năng suất bằng một hecta đất, cho nên ta không cần phải lo lắng về năng suất nông nghiệp.
Điểm chính là tiến bộ và công bình. Tiến bộ có nghĩa là dùng những sức mạnh của ĐBSCL để tiến – tính sáng tạo của người dân, vốn liếng về người và thiên nhiên để đẩy mạnh tin học, viễn thông và năng lượng sạch, bên cạnh nông nghiệp và du lịch. Công bình có nghĩa là giúp ĐBSCL phát triển về mọi mặt, không phán án ĐBSCL vào nông nghiệp vĩnh viễn.
Chúng ta cần yêu nước yêu dân đủ để suy tư công bình và sáng tạo. Các bạn, ĐBSCL cần được có chính sách tập trung vào sáng tạo, những kỹ nghệ tiên tiến nhất thế giới, và cơ sở hạ tầng về giao thông, thương mại và giáo dục để hỗ trợ sáng tạo và những kỹ nghệ tiên tiến nhất thế giới.
Và quan trọng nhất, please, hãy ngừng xem ĐBSCL chỉ là một vùng nông thôn chỉ biết trồng cây và nuôi cá.
Hãy công bình với người ĐBSCL.
Mến,
Trần Đình Hoành, Ls, Ts Luật
Washington DC















