Phục hồi sau Covid-19: Thiết kế cho một Thế Giới an toàn và kiên cường hơn

English: Designing the COVID-19 Recovery for a Safer and More Resilient World

Bài báo bình luận thực hiện bởi Viện Tài Nguyên Thế Giới – World Resources Institute (WRI), là một đối tác quản lý của Ủy ban toàn cầu về thích ứng – Global Commission on Adaptation.

Khi chúng ta phản ứng với thách thức chưa từng có do đại dịch hiện nay, Bộ Tài Chính của các quốc gia có thể đưa ra những ưu tiên cấp bách về kinh tế và xã hội trong khi giải quyết một rủi ro lớn khác trên toàn cầu – biến đổi khí hậu.

Nền kinh tế toàn cầu sẽ không giống như trước sau cú sốc đại dịch Covid-19. Giữa lúc ca bệnh tật và tử vong lan rộng, cung và cầu hàng hóa giảm mạnh, thất nghiệp tăng vọt. Trong vài ngày hoặc vài tuần, các ngành công nghiệp như du lịch và lữ hành bị gián đoạn ở quy mô khó có thể nghĩ tới. Ngành bán lẻ bị biến đổi bởi dãn cách xã hội, và các công ty trên thế giới tăng cường đáng kể việc điều chỉnh làm việc từ xa. Sự mong manh và những lỗ hổng trong hệ thống y tế, hệ thống cảnh báo sớm, hệ thống thông tin và mạng lưới an toàn xã hội đã bị phơi bày.

Đợt chi cứu trợ đầu tiên mà các chính phủ trên toàn thế giới đang triển khai là tập trung duy trì thanh khoản giữa các doanh nghiệp và hộ gia đình; cải thiện tiếp cận của người dân cho dịch vụ y tế và mặt hàng thiết yếu; và cung cấp hỗ trợ nhân đạo đến trăm triệu người bị ảnh hưởng nặng nề. Tầm cỡ của các gói kích thích chính sách tài khóa khoảng từ vài phần trăm thấp đến hơn 20% GDP (xem Hình 1). Một số quốc gia đã lên kế hoạch cho các vòng chi tiêu kích thích tiếp theo, tập trung vào tạo việc làm và kích thích phục hồi kinh tế.

Bài báo dưới đây đưa ra những gợi ý thiết thực cho Các Bộ Tài chính về cách đưa ra các ưu tiên kinh tế và xã hội cấp bách đồng thời giải quyết một rủi ro lớn khác trên toàn cầu – biến đổi khí hậu – theo những cách có lợi về mặt kinh tế và xã hội mức độ cao. Với hơn 10 nghìn tỷ đô la sẽ được bơm vào các nền kinh tế trên toàn thế giới trong năm nay, điều quan trọng là nỗ lực này không chỉ phục hồi toàn bộ hoạt động nền kinh tế mà còn thúc đẩy nền kinh tế tốt hơn và lành mạnh hơn – một nền kinh tế hiệu quả hơn, bình đẳng hơn, khả năng phục hồi cao hơn và phát thải carbon thấp hơn. Ứng phó với biến đổi khí hậu song song với đại dịch có thể mang lại lợi ích tức thì cho sức khỏe bằng giảm ô nhiễm và tăng khả năng tiếp cận với nước sạch; cung cấp nhiều lợi ích việc làm nhanh chóng bằng huy động người lao động trong các hoạt động sử dụng nhiều lao động và kỹ năng thấp với lợi nhuận xã hội cao; và cải thiện sự sẵn sàng và khả năng phục hồi trước sự tấn công của cú sốc tiếp theo. 

Lợi ích của đầu tư vào các gói kích thích hành động cho khí hậu.

Các gói kích thích giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và ưu tiên hiệu quả, bình đẳngvà khả năng phục hồi có thể mang lại lợi nhuận cao hơn nhiều so với các mô hình đầu tư trước đây. Cách tiếp cận như vậy có thể giúp thúc đẩy sáng tạo, loại bỏ các biến dạng kinh tế, thúc đẩy sự gắn kết xã hội và giảm thiểu rủi ro hệ thống trong tương lai có thể mang lại tác hại sâu sắc và thường không thể đảo ngược. Cũng giống như dịch bệnh, hành động sớm ứng phó với biến đổi khí hậu có thể làm giảm đáng kể chi phí tài chính và con người. Trong cả hai trường hợp, phản ứng tốt nhất không phải cắt giảm và dựng rào cản giữa các quốc gia, mà là hợp tác để tạo ra sự chuẩn bị mạnh mẽ hơn và năng lực thể chế. Nhưng hiện trạng đầy khó khăn. Ngay cả trong hoàn cảnh bình thường, việc huy động tài chính công hoặc tư nhân để hỗ trợ các chuyển đổi kinh tế táo bạo là vô cùng khó khăn. Nhưng đây không phải là trường hợp bình thường. Tình hình hiện tại đã làm thay đổi sâu sắc tính toán tài chính và tín dụng. Các khoản chi chưa từng có đã được thực hiện để đưa các nền kinh tế trở lại có việc làm đầy đủ. Trong tình hình hiện tại, câu hỏi thay đổi từ việc các hành động có phù hợp với cách chi tiêu chính đã được lên kế hoạch có thể tối đa hóa lợi nhuận dài hạn cũng như lợi ích ngắn hạn hay không. Sử dụng các gói kích thích do đại dịch để giải quyết biến đổi khí hậu có thể tạo ra nhiều cơ hội cho các công việc và doanh nghiệp mới với chi phí thấp hoặc không hề tăng.

Ghi chú: Biểu đồ này minh họa các trường hợp sinh lợi cho việc đầu tư thích ứng với biến đổi khí hậu. Khoảng 7.1 nghìn tỷ USD lợi nhuận ròng toàn cầu vào năm 2030 có thể thu được từ các khoản đầu tư 1,8 nghìn tỷ USD với năm khu vực. Các khoản đầu tư này không bao gồm tất cả những gì có thể cần thiết trong khoảng năm ngành này (ví dụ, thích ứng ở ngành nông nghiệp sẽ gồm nhiều hơn nông nghiệp ngũ cốc khô), và cũng không bao gồm tất cả các ngành (như y tế, giáo dục và công nghiệp). Nguồn: WRI.

Chỉ số doanh thu trên chi phí/ Tỷ suất hoàn vốn (ROI) trong việc cải thiện khả năng phục hồi khí hậu là rất cao và vì lợi ích kinh tế mạnh mẽ của chúng ta. Ví dụ, Ủy ban Thích ứng Toàn Cầu – Global Commission on Adaptation – cho thấy tỷ lệ hoàn vốn chung (OAR) của các khoản đầu tư thích ứng khí hậu có tỷ lệ chi phí lợi ích từ 2:1 đến hơn 10:1 (xem Hình 2). Về cơ bản hơn, nếu khoản nợ cao từ các gói kích thích ngày nay thất bại trong việc làm giảm rủi ro trong tương lai và chuyển các nền kinh tế sang các hệ thống an toàn hơn và hiệu quả hơn, khoản nợ này sẽ đặt ra một gánh nặng gấp đôi: đầu tiên, vì chúng ta đã không giảm rủi ro khí hậu khi vẫn còn rẻ hơn để làm điều đó, và thứ hai, vì sẽ có ít không gian tài khóa hơn để tài trợ khẩn cấp cho các chi tiêu liên quan đến khí hậu.

Các hành động kích thích cho khí hậu có thể bao gồm từ các chương trình có kỹ năng đơn giản, lao động chuyên môn tập trung vào các giải pháp dựa vào thiên nhiên, đến các sáng kiến ​​cấp cao khai thác sức mạnh của công nghệ thông tin. Trong nhiều trường hợp, những hành động này có thể được thực hiện bởi từng quốc gia, nhưng các quốc gia cũng sẽ được hưởng lợi từ sự phối hợp toàn cầu, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của sự phục hồi kinh tế khi tái lập thương mại quốc tế và nhu cầu toàn cầu là rất quan trọng. Cuối cùng, trong khi cần chú ý nhiều hơn để có được các chính sách và ưu đãi dài hạn hoạt động, quản lý các yếu tố ngoại cảnh từ các ngành bị ảnh hưởng tiêu cực sẽ rất quan trọng để thành công. Quản lý này nên bao gồm cân nhắc đến các khía cạnh xã hội trong việc tạo việc làm, đào tạo và mạng lưới an toàn.

Các bước hướng tới một tương lai khỏe mạnh hơn, kiên cường hơn. Dưới đây là bảy lĩnh vực cụ thể trong đó Các  Bộ Tài chính có thể cung cấp tốt hơn các ưu tiên cấp bách xã hội và kinh tế đồng thời cũng giải quyết các rủi ro khí hậu.

1. Quản lý gói cứu trợ doanh nghiệp. Bảo toàn các công ty sẽ là điều cần thiết để còn việc làm và duy trì một nền tảng vững chắc cho sự phục hồi kinh tế. Để làm điều này, IMF đã kêu gọi các chính phủ cung cấp các khoản vay, bảo lãnh, rót vốn và các trợ cấp tiền lương. Trong các trường hợp này, một bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 là tránh hỗ trợ các ngành công nghiệp ô nhiễm nặng, lỗi thời và kém hiệu quả và thay vào đó khuyến khích ngành mới, đã được chứng minh, những ngành công nghiệp, đạt chuẩn, và các mô hình công nghệ và kinh doanh. Bài học từ các can thiệp chính sách năm 2009 chứng minh rằng việc đính kèm hiệu quả và đưa ra các mục tiêu vào hỗ trợ tài chính có thể giúp các doanh nghiệp được giải cứu nhờ ưu thế cạnh tranh trong một thị trường biến động. Ví dụ, Cứu trợ các công ty xe hơi trong Đạo luật Phục hồi và Tái đầu tư của Mỹ năm 2009 bao gồm các yêu cầu về hiệu quả nhiên liệu cao hơn, thúc đẩy thành công một thế hệ công nghệ và công việc mới. Lần này, cách tiếp cận tương tự có thể được áp dụng bao gồm mục tiêu phát thải thấp hơn trong gói cứu trợ của các hãng hàng không, khách sạn, nhà sản xuất ô tô và nhiều ngành công nghiệp khác. Trong ngành than, mua lại toàn bộ có thể cứu vãn các dịch vụ phá sản trong khi giảm lượng khí thải. Ví dụ, việc hỗ trợ cho công ty điện lực Eskom của Nam Phi có thể được cung cấp để đổi lấy việc rút về sớm của các nhà máy nhiệt điện than. Những quy định như vậy có thể khuyến khích các ngành công nghiệp và các công ty phục hồi bằng cách đầu tư vào sử dụng năng lượng hiệu quả và tin tưởng hơn vào năng lượng tái tạo.

 

Một cách riêng biệt, các biện pháp kích thích nên hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi những thay đổi chuyển tiếp, bao gồm cả trong các phân khúc biến động hơn của ngành năng lượng như ngành dầu khí. Thay vì cố gắng duy trì các lĩnh vực không bền vững theo cách tiếp cận như cũ, gói bồi thường kích thích có thể sử dụng để tài trợ cho mạng lưới an toàn và đào tạo lại nhân viên cho các doanh nghiệp bị đóng cửa hoặc giảm quy mô do nhu cầu thay đổi liên tục, chẳng hạn như trong công nghiệp du lịch và ngành bán lẻ. Các chính sách tài khóa táo bạo tại thời điểm này có thể giúp bù đắp chi phí kinh tế xã hội và ngắn hạn trong việc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ than đá sang các lựa chọn thay thế sạch hơn ở các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Đức.

2. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng thông minh về Biến đổi khí hậu. Đầu tư công sẽ là một phần quan trọng của kích thích tài khóa sau khi đáp ứng nhu cầu thanh khoản ngay lập tức. Cơ sở hạ tầng thân thiện với khí hậu có thể huy động nhiều lao động và công nghệ hơn so với cơ sở hạ tầng truyền thống; điều này được minh họa bằng các công việc và kỹ năng cần thiết để xây dựng lưới điện thông minh để cung cấp điện tái tạo, hệ thống cảnh báo sớm chống lại thiên tai, hệ thống giao thông ứng phó với các mô hình di động linh hoạt hơn và các giải pháp thiên nhiên đối với lũ lụt, hạn hán và bão. Đầu tư riêng lẻ vào một danh mục cơ sở hạ tầng rộng rãi, thân thiện với khí hậu không nhất thiết là khó khăn hơn để chuẩn bị so với cơ sở hạ tầng thông thường. Ngoài ra, kích thích đầu tư có thể được thiết kế để nhắm mục tiêu tạo việc làm dựa trên sự gần gũi về thể chất với nơi xảy ra mất việc và nơi người lao động có thể được đào tạo lại (để đảm bảo công bằng cho các ngành đang được tạo ra). Dưới đây là các ví dụ đáp ứng cả mục tiêu kích thích ngắn hạn và khả năng phục hồi dài hạn:

Ước tính toàn cầu cho thấy tiềm năng tạo việc làm cao của năng lượng tái tạo và năng lượng hiệu quả. Một ước tính là ngành gió và mặt trời có thể tạo ra 52 triệu việc làm trên toàn thế giới trong thập kỷ tới, vượt xa ước tính 27 triệu việc làm bị mất trong quá trình chuyển đổi ngành công nghiệp nhiên liệu hóa thạch trong cùng thời kỳ. Cùng lúc, ngành công nghiệp hiệu quả năng lượng có thể đáp ứng nhanh chóng các ưu đãi mới, mở rộng quy mô công nghệ có sẵn và tạo ra các khoản tiết kiệm và thu nhập đáng kể cho các hộ gia đình và doanh nghiệp. Các ước tính của Hoa Kỳ cho thấy trong khi 1 triệu USD chi cho nhiên liệu hóa thạch sẽ tạo ra 2,7 việc làm tương đương toàn thời gian (FTE), thì số tiền đó sẽ tạo ra 7,5 việc làm FTE trong năng lượng tái tạo và 7,7 việc làm FTE về hiệu quả năng lượng. Do đó, mỗi 1 triệu USD chuyển từ năng lượng hoá thạch sang năng lượng xanh sẽ tạo ra mức tăng ròng 5 việc làm. Đạo luật phục hồi của Mỹ năm 2009 đã tận dụng khoảng 150 tỷ đô la vốn tư nhân và không liên bang khác để đầu tư năng lượng sạch và hỗ trợ 900.000 năm công việc trong các lĩnh vực năng lượng sạch từ năm 2009 đến 2015 (xem Hình 3).

Các giải pháp dựa trên thiên nhiên (NBS) sử dụng chính các lực của tự nhiên để chiến thắng ba lợi ích về khả năng phục hồi kinh tế (an ninh lương thực và nước), giảm rủi ro vật lý (kiểm soát lũ lụt, bảo vệ bờ biển và sức khỏe hệ sinh thái) và giảm lượng khí thải carbon (thông qua quá trình cô lập carbon và giảm khí thải). Các khoản đầu tư của NBS thường tạo ra các công việc có kỹ năng thấp và thực hiện nhanh – trung bình, ước tính 39,7 việc làm FTE trên 1 triệu USD được đầu tư, hoặc hơn mười lần so với tỷ lệ tạo việc làm của các khoản đầu tư vào nhiên liệu hóa thạch.

Nhìn chung, tỷ lệ lợi nhuận của cơ sở hạ tầng linh hoạt – dù là về giao thông, năng lượng, nước, nông nghiệp hay thiên nhiên – thường vượt quá tỷ lệ trên cơ sở hạ tầng truyền thống, đưa ra tỷ lệ chi phí lợi ích trên 4: 1, và làm cho toàn bộ nền kinh tế trở nên mạnh mẽ hơn. Một kích thích thành công tập trung vào các khoản đầu tư xanh đã được chứng minh bởi Hàn Quốc sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, với tác động tích cực đến chất lượng cuộc sống. Khoảng 80% tổng chi tiêu kích thích kinh tế là vào các khoản đầu tư xanh và đến quý 3 năm 2009, Hàn Quốc có một trong những mức tăng trưởng cao nhất trong OECD

3. Thúc đẩy cải cách các quy định. Các quy định có hiệu lực trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế và phục hồi, với ba cân nhắc. Đầu tiên là tầm quan trọng của việc không làm suy yếu các biện pháp hiện có để bảo vệ môi trường và bảo vệ người lao động để theo đuổi lợi ích ngắn hạn. Các ví dụ bao gồm những nỗ lực ở Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu nhằm làm suy yếu các tiêu chuẩn hiệu quả nhiên liệu ô tô, mặc dù phân tích kinh tế cho thấy tác động tiêu cực đến việc làm, đổi mới, ô nhiễm không khí, kết quả y tế và khí thải carbon. (tăng ô nhiễm không khí cũng làm tăng mức độ nghiêm trọng của đại dịch coronavirus, tạo ra yêu cầu thậm chí lớn hơn cho ngành y tế đã bị quá tải.) Một khi đã yếu đi, việc khôi phục các biện pháp bảo vệ hiện tại sẽ không dễ dàng. Những nỗ lực nới lỏng các quy định có thể phản tác dụng với các doanh nghiệp mà đáng nhẽ được hỗ trợ do tạo chi phí vốn trọn đời cao hơn, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp đầu tư vào tài sản dài hạn.

Việc thứ hai cần xem xét là làm thế nào các chính sách điều tiết và cạnh tranh có thể hạ thấp mức chi tiêu kích thích công cộng cần thiết để đưa một nền kinh tế trở lại hoạt động đầy đủ. Tất nhiên, các chính phủ sẽ phải sử dụng vốn chính trị của mình để đạt được những cải cách kết hợp lợi ích lâu dài, nhưng có thể dễ dàng thực hiện hơn khi ý nghĩa khẩn cấp đang chiếm ưu thế., thay vì suy thoái kinh tế kéo dài.Ví dụ về các quy định nhắm vào hiệu quả cũng làm giảm rủi ro khí hậu bao gồm cải thiện thị trường điện giữa các tiểu bang ở Hoa Kỳ; giới thiệu các tiêu chuẩn hiệu quả mới cho các tòa nhà, thiết bị và phương tiện để tạo ra các khoản tiết kiệm dài hạn và kích thích sự đổi mới; và thúc đẩy thay đổi trong phân vùng để tránh sự phát triển đô thị hoặc trong quyền sử dụng đất để tăng năng suất nông nghiệp mà không gây nguy hiểm cho việc làm ở nông thôn.

Một lĩnh vực thứ ba của quy định là tìm kiếm lợi ích sâu rộng thông qua mua bán công. Thực hiện các tiếp cận mua bán xanh trong chi tiêu công cộng – dù  đó là bóng đèn hiệu suất cao, năng lượng bền vững, vật liệu xây dựng hoặc lựa chọn thực phẩm tốt hơn trong căng tin được công cộng – có thể giúp thay đổi thị trường và giảm chi phí thay thế sạch thông qua quy mô kinh tế theo cách có thể trở thành vĩnh viễn sau khủng hoảng. Ví dụ, một cơ hội mới nổi tồn tại để giới thiệu các công thức bê tông và vật liệu xây dựng carbon thấp mới trong đầu tư công

4. Cải cách chính sách thuế và trợ cấp. Xem xét các khoản chi lớn cần thiết để quản lý khủng hoảng hiện tại, cải cách năng lượng và trợ cấp nông nghiệp có thể tiết kiệm tài nguyên để triển khai cho các hạng mục ưu tiên cao khác. Cải cách có thể tạo điều kiện cho các giải pháp và cấu trúc kinh tế bền vững và hiệu quả hơn. Thực tế là giá dầu đang ở mức thấp lịch sử và các thị trường tương lai hiện tại cho thấy giá dầu thấp có thể tiếp tục trong nhiều năm, tạo cơ hội cắt trợ cấp nhiên liệu hóa thạch với mức tăng thấp hoặc không tăng giá. Trên thực tế, hơn 30 quốc gia đã tiến hành cải cách trợ cấp nhiên liệu hóa thạch trong thời kỳ giá dầu yếu đi trong giai đoạn 2013-2015. Có một bằng chứng mạnh ràng sau khi tiến trình cải cách trợ giá người tiêu dùng được sử dụng để bù đắp cho hộ thu nhập thấp và dễ bị tổn thương, nguồn quỹ còn lại vẫn còn cho các ưu tiên khác. Ví dụ, ở Ấn Độ, tiết kiệm từ các khoản trợ cấp dầu khí giảm đã giúp triển khai một chương trình chuyển lợi ích lớn bằng cách sử dụng công nghệ thông tin mới.

Để bổ sung cho cải cách trợ cấp, cải cách thuế cũng có thể được xem xét. Ngay cả với hoạt động kinh tế dưới tiềm năng, việc áp dụng thuế carbon với lịch trình tăng có thể phù hợp không chỉ để tương thích hợp với các ưu đãi tài chính với tương lai carbon thấp hơn, mà còn tăng doanh thu rất cần thiết. Sự đơn giản của thuế carbon và tín hiệu dài hạn mà nó đưa ra, đặc biệt hữu ích cho các quốc gia chưa có bản đồ rõ ràng về nền kinh tế sạch hơn. Nó cũng có thể giúp các chính phủ tiếp tục tài trợ cho quá trình chuyển đổi sang một nền kinh tế sạch hơn khi việc kích thích tài khóa bị loại bỏ. Giảm khí thải cũng có thể được phối hợp với các biện pháp điều tiết khác để tạo điều kiện cho việc chuyển đổi có trật tự khỏi nhiên liệu hóa thạch và để tránh bị khóa trong các công nghệ không phù hợp trong giai đoạn kích thích.

Thuế và trợ cấp cũng có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc khai thác tăng năng suất từ ​​việc số hóa tăng lên, giúp phân phối những lợi ích này trên toàn xã hội với tác động tích cực đến tổng cầu, giáo dục, y tế và phúc lợi gia đình.

5. Hợp nhất các rủi ro khí hậu trong các quy định thận trọng và thị trường vốn. Thị trường tài chính toàn cầu đang chuẩn bị cho một cuộc khủng hoảng tín dụng. Hàng loạt hỗ trợ của khu vực công cho các ngân hàng và tập đoàn nên được đi cùng với các thử nghiệm bởi ngân hàng liên quan đến cẳng thẳng khí hậu và tăng phân tích và công bố của các tập đoàn về rủi ro liên quan đến khí hậu của họ. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các nhà đầu tư về giảm rủi ro khí hậu, cả hai cách tiếp cận này đều được chứng thực bằng cách tăng số lượng chính phủ và ngân hàng trung ương. Họ sẽ cung cấp cho các nhà quản lý tài sản và những người khác trách nhiệm ủy thác các công cụ họ cần để bảo vệ danh mục đầu tư của họ trước những rủi ro trong tương lai trong thị trường hỗn loạn sau khủng hoảng. Họ cũng sẽ giúp bảo vệ rủi ro chủ quyền trước các lỗ hổng khí hậu và cải thiện giá trái phiếu. Ngân hàng Thế giới và IMF đã tìm thấy bằng chứng cho thấy các quốc gia đầu tư vào tài chính dự phòng để quản lý rủi ro tốt hơn, ngay cả khi được tài trợ bằng nợ, có sự phục hồi ngắn hơn sau các sự kiện cực đoan và tốc độ tăng trưởng dài hạn cao hơn.

6. Nâng cao vai trò của các tổ chức tài chính phát triển. Kiến trúc ngân hàng phát triển đa phương (multilateral development bank – MDB) đã vượt qua nhiều cuộc khủng hoảng và tiếp tục phát triển. Cùng với các ngân hàng và cơ quan phát triển quốc gia và khu vực, MDB sẽ rất quan trọng đối với việc có bao nhiêu quốc gia đối phó với cú sốc làn sóng đại dịch toàn cầu. Các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển đã phải đối mặt với rủi ro tín dụng tăng cao, không gian tài chính hạn chế và áp lực lên cán cân thanh toán của họ và những áp lực này có thể sẽ tăng lên. Các hành động của quốc gia G20, ngoài việc xử lý nợ song phương trong ngắn hạn, nên mở rộng để hướng dẫn các ngân hàng phát triển quốc gia và đa phương, khu vực và quốc gia trong việc giúp các nước thiết kế, tài chính và thực hiện các hành động dựa trên khí hậu như một phần không thể thiếu trong chiến lược đối phó với đại dịch. Các tổ chức tài chính phát triển nên duy trì các nhiệm vụ hiện có của mình để hỗ trợ phục hồi và tăng trưởng kinh tế theo cách thích nghi với các rủi ro khí hậu và không làm tổn hại đến các đóng góp của thiên nhiên. Tài chính chính thức cho khí hậu, bao gồm các cam kết quốc tế thường trực, tiếp tục có liên quan cả vì lợi ích của chính nó và như một phương tiện để huy động các nguồn lực của khu vực tư nhân. Các bộ trưởng tài chính trên toàn thế giới nên thúc đẩy sự phối hợp tăng cường giữa các tổ chức phát triển trong các lĩnh vực xóa nợ, phong bì cho vay mở rộng và tài chính khí hậu. Họ cũng nên hỗ trợ vốn hóa của các ngân hàng phát triển ở quy mô cần thiết và đảm bảo rằng các ngân hàng tiếp cận thị trường vốn vẫn còn nguyên vẹn.

7. Tài trợ nghiên cứu và phát triển (R&D). Việc cất cánh của các công nghệ mới có thể được tạo điều kiện bởi các chương trình R&D táo bạo của chính phủ, như Trung Quốc và Đức đã chứng minh bằng năng lượng gió và mặt trời sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Những nỗ lực quốc tế để hỗ trợ các nguồn năng lượng mới, như hydro xanh và pin trữ năng lượng tốt hơn, cùng với một loạt các giải pháp dựa trên tự nhiên để đạt được cơ sở hạ tầng chi phí thấp hơn và linh hoạt hơn, có thể rất quan trọng trong việc tạo ra một chu kỳ tăng trưởng bền vững và công bằng mới. Cùng với những nỗ lực chống lại COVID-19, kết hợp phát triển và đổi mới công nghệ với hợp tác toàn cầu để quản lý rủi ro khí hậu và cải thiện cuộc sống là ý tưởng mà Bill Gates coi là hoàn toàn phổ biến giữa hai vấn đề này.

Bảy lĩnh vực hành động này minh họa các cách tiếp cận chính sách đáp ứng nhu cầu kinh tế và xã hội tức thời do đại dịch gây ra, đồng thời giảm thiểu rủi ro khí hậu trong tương lai. Một loạt các công cụ có sẵn cho công việc chăm lo tài chính, bắt đầu nhưng cũng là bổ sung cho các chi tiêu công được nhân rộng. Thiết kế chính xác của các kế hoạch kích thích tài khóa sẽ khác nhau giữa các quốc gia, nhưng cơ hội do chi tiêu công lớn để xây dựng nền kinh tế hiệu quả và bền vững hơn không thể là cường điều quá mức. Điều thuận lợi là các quốc gia sẽ sớm được yêu cầu đưa ra các đóng góp được xác định quốc gia (Nationally Determined Contributions – NDCs) nâng cao cho hành động khí hậu dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc. Các gói kích thích hiện tại có thể hỗ trợ mạnh mẽ cho cả khía cạnh giảm thiểu và thích ứng khí hậu của NDC. Nếu chúng ta không nắm bắt những cơ hội này, con cái chúng ta sẽ tự hỏi, tại sao chúng ta bỏ lỡ chúng.

Bình luận của WRI cung cấp cái nhìn chuyên sâu và hiểu biết sâu sắc của đội ngũ cấp cao của WRI về các vấn đề quan trọng trong mối quan hệ của môi trường, phát triển và phúc lợi của con người. Các bài báo dựa trên nghiên cứu của WRI và các ấn phẩm được đánh giá tuơng đương để tranh luận về những luận điểm cụ thể, hỗ trợ bởi các bằng chứng, để khuyến khích thảo luận và tranh luận dựa trên thông tin được cung cấp. Các quan điểm trong bài viết là của các tác giả.

Một phiên bản trực tuyến của Bài báo này với các tham chiếu liên kết đến dữ liệu và các tài liệu nguồn khác có sẵn tại wri.org/news/designingcovid-19-recovery-safer-andmore-resilient-world

Minh Hoàng chuyển ngữ từ bản tiếng Anh

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s