Gây dựng lại niềm tin từ mỗi gia đình

Chungta.com
Trong giới doanh nhân và luật sư, người ta nhắc đến ông với niềm ngưỡng mộ. Cùng nhóm nhân sĩ trí thức Thứ Sáu đóng góp đáng kể vào công cuộc đổi mới kinh tế, những cuốn sách và bài báo sắc bén của ông về kinh doanh, giáo dục, triết học… đã trở thành cẩm nang của nhiều độc giả. Ít ai biết ông đã nếm trải đủ mùi cay đắng của tù tội, mặc cảm khuyết tật, nỗi mất mát trong mối tình đầu… trước khi trở thành điểm tựa tinh thần của bao người.

Xã hội muốn phát triển bền vững, cần có những giá trị cộng đồng được thừa nhận như những giá trị tiêu biểu cho sức mạnh quốc gia. Nhưng dường như những giá trị ấy đang bị tổn thương?

Luật sư Nguyễn Ngọc Bích: Chúng ta từng có những giá trị tinh thần đáng quý được kết tinh qua cả một quá trình dài dựng nước và giữ nước, giá trị lớn nhất là niềm tin vào con người, vào sức mạnh dân tộc, sự tin cẩn lẫn nhau; sự hỗ tương, đùm bọc lẫn nhau, lá lành đùm lá rách; tinh thần đoàn kết; lòng vị tha, bao dung…

Luật sư Nguyễn Ngọc Bích.

Tiếp tục đọc “Gây dựng lại niềm tin từ mỗi gia đình”

Does Full-day Schooling Reduce Educational Inequality in Vietnam?

  • Date: 14 Sep 2015
  • Series: PERI ESP Working Paper Series 2015 No. 72
  • Author: Tran Ngo Thi Minh Tam and Laure Pasquier-Doumer
  • Download the file ( English, 1402 KB, PDF document )

Privatization of the education sector has recently emerged in many low- and middle- income countries. This paper contributes empirical evidence to the ongoing discourses by looking into full-day schooling and educational inequality in Vietnam. Full-day schooling was implemented initially to deal with deficiencies in primary instructional time in Vietnam. Using data from the Vietnam Young Lives School Survey (2011), this paper examines whether full-day schooling decreases educational inequality. Specifically we examine how the transition from private extra classes to full-day schooling and accompanied school resources affect the gap in learning achievement between children from different social backgrounds.

Analysis results show that full-day schooling improves student learning progress. However full-day schooling does not narrow the inequality in education, and appears to associate with the rising gap in learning progress. Among students that attend full-day schooling, those from more-advantaged backgrounds have more instruction, better resources and obtain higher learning progress in comparison with those from more disadvantaged backgrounds. Higher attendance in full-day schooling magnifies the effect of social background on learning progress.

 

Làm thế nào để kích thích việc đọc sách?

1.
Người Việt Nam, vốn là một dân tộc vừa thực dụng vừa ham vui, chẳng có lý do gì mà không mê đọc sách nếu việc đọc ấy đem lại lợi ích hay sự vui thích cho họ. Vì vậy, những lời than phiền gần đây về việc người Việt Nam không ham đọc sách (căn cứ vào số lượng sách được tiêu thụ trên thị trường, vào số lượng người sử dụng thư viện, vào thực tế rất ít người đọc sách trên tàu xe hoặc những nơi công cộng), chỉ có thể được giải thích rằng: họ thấy việc đọc sách ấy không đem lại ích lợi gì hoặc chẳng gây cho họ sự thích thú nào hết.

Nhưng không đọc sách thì có sao không? Thực ra, chẳng sao cả. Một khi không đọc sách vẫn có thể thi đỗ, vẫn có thể làm giàu, vẫn có thể thăng quan tiến chức thì việc đọc sách là thừa. Nghĩa là, một khi xã hội chỉ hướng người ta tới những tham vọng “ngắn hạn và thực dụng” như thế (bằng cấp, tiền bạc, quyền chức), thì người ta chỉ tập trung vào làm những gì để đạt tới những tham vọng ấy một cách nhanh nhất. Mà ở Việt Nam hiện nay, để đạt được những tham vọng ấy thì đọc sách không phải là việc được ưu tiên hàng đầu. (Hiển nhiên là có những con đường khác để đi đến thành công nhanh hơn, chắc chắn hơn, ít phiêu lưu mạo hiểm hơn.)
Tiếp tục đọc “Làm thế nào để kích thích việc đọc sách?”

NGÀY HỘI ĐỌC SÁCH MINH KHAI 8/2015

Chào các bạn,

Ngày thứ bảy, 29/8 vừa qua tại trường tiểu học xã Minh Khai, huyện Hoài Đức, Hà Nội đã diễn ra ngày hội đọc sách với chủ đề “Lan tỏa văn hóa đọc”. Chương trình do thư viện cộng đồng BFree, thư viện xã Dương Liễu, sách cũ Hà Nội, trường tiểu học Minh Khai và hội thanh niên tích cực Minh Khai PYA phối hợp tổ chức.

Ngày hội đã diễn ra thành công với sự góp sức tích cực của các đơn vị tổ chức, của khách mời, và sự đón nhận vui thích của các bạn nhỏ. Đặc biệt là thời tiết rất ủng hộ.

Không gian đọc sách được chia thành các khu Truyện cổ tích, Văn học, Lịch sử, Khoa học thường thức và Kỹ năng sống. Các hoạt động như văn nghệ, thi kể chuyện theo tranh, vẽ, thi ghép hình và giao lưu chia sẻ về đọc sách được đan xen tổ chức. Tiếp tục đọc “NGÀY HỘI ĐỌC SÁCH MINH KHAI 8/2015”

TỰ TRỌNG CÁ NHÂN VÀ TỰ TÔN TỰ HÀO DÂN TỘC

Hình ảnh cử nhân Phùng Đức Ninh, sinh năm 1990, mới tốt nghiệp Đại học Điện lực, cầm tấm biển xin việc để có tiền mua sữa cho con ở một đường phố Hà Nội, suốt những ngày qua làm nóng bỏng các trang mạng. Ninh cũng trạc tuổi các sinh viên của tôi mới tốt nghiệp đầu hè vừa rồi, và giờ chắc cũng đang đôn đáo nháo nhác chạy xin việc ở Thủ đô hay các tỉnh thành cả nước. Một vài ý kiến trên báo- như một lời phán xét chính thống cho rằng đó là một hành động “nhục nhã”!

Tiếp tục đọc “TỰ TRỌNG CÁ NHÂN VÀ TỰ TÔN TỰ HÀO DÂN TỘC”

Vietnam changes university admission process; schools, students, parents in trouble

TTN – UPDATED : 08/20/2015 13:26 GMT + 7

Students wait to withdraw their papers at the Industrial University of Ho Chi Minh City. Tuoi Tre

If you have walked by colleges around Ho Chi Minh City recently, it is not hard to see long lines of students and parents tiredly waiting to withdraw their profiles.

Today is the last day for students in Vietnam to apply for their universities and colleges, and this year, entering universities is more troublesome for them because the Ministry of Education and Training has applied a number of changes to the university entrance exam and admission. Tiếp tục đọc “Vietnam changes university admission process; schools, students, parents in trouble”

Ở “vùng trũng” giáo dục quốc gia

() – Ngược với những cụm từ như vựa lúa, vựa trái cây, trung tâm thủy sản… của cả nước, ĐBSCL đã và đang là “vùng trũng” về giáo dục. Thực trạng học sinh bỏ trường, bỏ lớp năm sau cao hơn năm trước đang là nỗi lo canh cánh của ngành giáo dục cũng như chính quyền địa phương.

Ở “vùng trũng” giáo dục quốc gia
Học sinh Việt Kiều đi đò qua biên giới để học.

Kỳ 1: Gian nan “con chữ” vùng biên

Nằm giáp ranh với tỉnh Kandal (Campuchia), mỗi năm, huyện An Phú (tỉnh An Giang) có khoảng 1.000 học sinh là con em kiều bào làm ăn trên đất bạn sang học. Tuy nhiên mấy năm gần đây, số học sinh kiều bào bỏ học tăng chóng mặt. “Giáo viên chúng tôi chỉ biết lắc đầu, chính quyền địa phương cũng chào thua. Tôi làm hiệu trưởng 7 năm, chưa bị kỷ luật vì tình trạng bỏ học là mừng, chứ dám mong gì đến khen thưởng” – thầy La Văn Bé – Hiệu trưởng Trường THCS Khánh An (huyện An Phú) – than như vậy. Tiếp tục đọc “Ở “vùng trũng” giáo dục quốc gia”

Nâng cao năng lực cho cán bộ, GV dạy học mô hình VNEN hè 2015

Bộ GD&ĐT

Nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ GV dạy học mô hình VNEN ở các địa phương, trong tháng 7/2015, đã diễn ra 5 đợt tập huấn dạy học mô hình VNEN cấp cụm tỉnh, thu hút hơn 11.000 học viên tham dự. Đây cũng là năm đầu tiên, nhiều cán bộ giáo viên ở các trường nhân rộng (không nằm trong dự án) được tham gia tập huấn do Ban quản lý dự án VNEN tổ chức.

Năm nay, nội dung tập huấn được Ban tổ chức chuẩn bị khá kỹ lưỡng, tập trung vào 5 vấn đề chính: Tiếp tục đọc “Nâng cao năng lực cho cán bộ, GV dạy học mô hình VNEN hè 2015”

Làm sao để không ai bị bỏ lại phía sau trong giáo dục và học tập

Bài viết được thực hiện bởi Jordan Naidoo, Giám đốc chương trình Giáo dục cho Tất cả Mọi Người thuộc UNESCO [Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc], và Manos Antoninis, chuyên gia phân tích chính sách cao cấp, thuộc Global Monitoring Report (Báo cáo Giám sát Toàn cầu). Đây là bài viết thứ 12 trong loạt blog của chúng tôi, nhằm mục đích tìm hiểu phương thức phác thảo các Mục tiêu Phát triển Bền vững bao gồm đầy đủ các nhóm kinh tế, xã hội, bằng cách mời một loạt chuyên gia viết về các lĩnh vực then chốt của các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG).

Post2015 – Cuối cùng thì chương trình nghị sự quốc tế cũng đã xem xét một cách nghiêm túc những tác động tiêu cực của bất bình đẳng đối với việc đạt được phát triển bền vững. Trong giáo dục, sự phân bố không đồng đều cơ hội được hưởng giáo dục trong nhà trường đã được chỉ ra là nguyên nhân làm chậm quá trình tăng trưởng kinh tế và gia tăng nguy cơ bùng nổ xung đột, cùng với các tác động tiêu cực khác. Quan trọng không kém là sự công nhận rằng bất bình đẳng trong giáo dục là yếu tố chính gây ra bất bình đẳng trong thu nhập và cơ hội. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi việc tập trung xử lý bất bình đẳng trở thành mối quan tâm chính yếu trong chương trình nghị sự về giáo dục. Điều này được nhấn mạnh trong Diễn đàn Giáo dục Thế giới tổ chức tháng Năm năm nay, khi bản Tuyên ngôn Incheon phát biểu rõ ràng “Không có mục tiêu nào được coi là hoàn tất nếu nó bỏ sót bất kỳ cá nhân nào”. Tiếp tục đọc “Làm sao để không ai bị bỏ lại phía sau trong giáo dục và học tập”

Mức độ sẵn sàng cho giáo dục với trẻ em khuyết tật tại 8 tỉnh của Việt Nam.

Năm 2014, Quỹ Nhi đồng Liên hợp Quốc (UNICEF) đã hỗ trợ Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam tiến hành nghiên cứu về mức độ sẵn sàng cho giáo dục với trẻ em khuyết tật tại 8 tỉnh được UNICEF hỗ trợ của Việt Nam với các chuyến đi thực địa đến 3 tỉnh gồm Điện Biên, Ninh Thuận và Kon Tum. Báo cáo này nhằm mục đích nghiên cứu mức độ sẵn sàng của các trường học và của cộng đồng trong việc cung cấp nền giáo dục đầy đủ cho trẻ em khuyết tật và sự sẵn sàng đến trường của những trẻ em này. Để tiến hành nghiên cứu này, một nhóm tư vấn từ Trung tâm quốc tế về người khuyết tật và phục hồi chức năng (ICDR) thuộc Đại học Toronto, Canada đã ký hợp tác với UNICEF trong giai đoạn từ 01/11/2013 đến 30/08/2014.

Các phát hiện từ nghiên cứu nãy làm nổi bật lên những chính sách và thực tiễn quan trọng để tạo ra nền tảng thuận lợi cho việc xây dựng và củng cố nền giáo dục nhằm hỗ trợ cho các bé trai và bé gái khuyết tật trong việc hòa nhập và tiếp cận với giáo dục. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng Chính phủ Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong ngành giáo dục trong suốt hơn 25 năm qua và dự đoán rằng Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về giáo dục vào năm 2015. Tuy nhiên, cần phải nỗ lực hơn nữa để những lợi ích của việc đạt được mục tiêu thiên niên kỷ này đến được với những trẻ em hiện vẫn bị loại trừ khỏi hệ thống giáo dục và những trẻ em mà quyền được giáo dục của chúng vẫn chưa được nhận thức rõ ràng, chẳng hạn như những trẻ em khuyết tật và trẻ em đến từ nhóm các dân tộc thiểu số. Những rào cản chính trong việc tiếp cận giáo dục đối với những trẻ em này bao gồm cả việc thiếu cơ sở vật chất cho giáo dục cũng như chất lượng giáo dục còn hạn chế. Tiếp tục đọc “Mức độ sẵn sàng cho giáo dục với trẻ em khuyết tật tại 8 tỉnh của Việt Nam.”

Chi tiết báo cáo: Trẻ em không được đi học ở Việt Nam

Báo cáo về trẻ em không đi học ở Việt Nam: Một nghiên cứu nhằm phục vụ cho việc quản lý giáo dục, lập kế hoạch và chính sách để mang lại sự bình đẳng trong giáo dục, tập trung vào những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Báo cáo này cũng nhằm mục đích phục vụ việc nghiên cứu chính sách và lập kế hoạch của các bộ ngành liên quan, chính quyền các địa phương và các cơ quan nghiên cứu của Chính phủ Việt Nam, đồng thời để đáp ứng nhu cầu thông tin của các tổ chức quốc tế và các tổ chức khác trong nỗ lực giảm thiểu số lượng trẻ em không được đi học ở Việt Nam. Văn phòng khu vực Đông Á Thái Bình Dương của Quỹ Nhi đồng Liên hợp Quốc (UNICEF), viện thống kê của Tổ chức Liên hợp Quốc về giáo dục, khoa học và văn hóa (UNESCO) và các nhóm nghiên cứu toàn cầu đã đưa ra các hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật để chuẩn bị bản thảo của nghiên cứu này.

Nội dung và bố cục của báo cáo được thực hiện theo hướng dẫn của Khung khái niệm và phương pháp luận, sáng kiến toàn cầu về trẻ em không đi học, được thiết kể bởi UNICEF và viện thống kê UNESCO. Những số liệu trong báo cáo được lấy từ cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009.

Nhóm nghiên cứ quốc tế nhận nhiệm vụ viết báo cáo này bao gồm Ông Muhammad Quamrul Hasan, một nhà tư vấn độc lập, là người đã phân tích các dữ liệu định lượng quan trọng và viết Chương 2; và bà Elaine Furniss, một nhà tư vấn độc lập người đã tổng hợp và hệ thống các thông tin cho báo cáo và cũng là tác giả của các chương còn lại.

Tải các báo cáo cho 6 tỉnh tại đây: http://www.un.org.vn/en/publications/publications-by-agency/doc_details/448-out-of-school-children-in-viet-nam.html

Vì sao năng lượng bền vững quan trọng với trẻ em – Why sustainable energy matters to Children

UNICEF report: The critical importance of sustainable energy for children and future generations

DOWNLOAD HERE – TẢI BÁO CÁO

Evidence shows that energy at household level, in the education, health and water sectors as well as for infrastructure services has a great influence on development results among children.

Đối thoại về kinh nghiệm cải cách giáo dục của Phần Lan

English: A Conversation On Lessons from Finland – Finnish education reform

Được thực hiện bởi John Graham – Xuất bản trên Professional Voice, 10(1), trang 46-53, mùa hè năm 2014.

John Graham (JG): Phần Lan được xem là một trong các quốc gia có hệ thống giáo dục hàng đầu thế giới. Theo ông đâu là các yếu tố giúp hệ thống giáo dục Phần Lan tạo nên sự khác biệt và giúp cho kết quả học tập của sinh viên Phần Lan cao hơn nhiều quốc gia khác?

Pasi Sahlberg (PS): Giới truyền thông nước ngoài có thể cho rằng Phần Lan có hệ thống giáo dục tốt nhất thế giới nhưng chắc chắn là nhiều người Phần Lan không nghĩ vậy. Khi tổ chức OECD(1) lần đầu tiên công bố kết quả xếp hạng PISA (2) của họ vào năm 2001, rất nhiều người đã ngạc nhiên với kết quả này, trong đó có người dân Phần Lan bởi họ chưa bao giờ đặt mục tiêu có thứ hạng cao trên bảng kết quả PISA. Quan điểm đối với giáo dục tại Phần Lan của các nhà giáo dục cũng như của dân chúng rất khác với tại nhiều khu vực khác, nơi mà các quốc gia cạnh tranh lẫn nhau để xem nền giáo dục nào là tốt nhất. Đối với người dân Phần Lan, trọng tâm của giáo dục là tất cả trẻ em có cơ hội để thành công và mỗi đứa trẻ cảm thấy vui vẻ và khoẻ mạnh ở trường học.

Mặc dù vậy, có một vài yếu tố hiện hữu của nền giáo dục Phần Lan giúp tạo nên sự khác biệt. Ở đây tôi chỉ đề cập đến ba yếu tố. Tiếp tục đọc “Đối thoại về kinh nghiệm cải cách giáo dục của Phần Lan”

Kids expecting aggression from others become aggressive themselves

Children taught to be vigilant for hostility from others are prone to aggressive behavior

Date: July 14, 2015
Source: Duke University
Summary:
Hypervigilance to hostility in others triggers aggressive behavior in children, says a new study. The four-year longitudinal study, the largest of its kind involving 1,299 children and their parents, finds the pattern holds true in 12 different cultural groups from nine different counties across the globe.
Young people fighting.
Credit: © Monkey Business / Fotolia
Sciencedaily – Hypervigilance to hostility in others triggers aggressive behavior in children, says a new Duke University-led study.

The four-year longitudinal study involving 1,299 children and their parents finds the pattern holds true in 12 different cultural groups from nine countries across the globe.

This pattern is more common in some cultures than others, which helps explain why some cultures have more aggressive behavior problems in children than other cultures, according to the study. Tiếp tục đọc “Kids expecting aggression from others become aggressive themselves”

Tổ quốc tôi, ông là ai?

Bài diễn văn của một nữ sinh 17 tuổi “Nếu tôi sống thêm hai nghìn năm nữa thì tổ quốc của tôi, ông sẽ là ai?”, có lẽ sẽ cho chúng ta một cái nhìn khác về “giấc mơ Trung Hoa”.

Trung Quốc, giấc mơ trung hoa,

Một trường trung học phổ thông tại Trung Quốc, tổ chức hội diễn văn với chủ đề “Tổ quốc thân yêu”, dưới đây là bản thảo bài diễn văn của nữ sinh thể hiện những nhận thức rất lí trí và sáng suốt, vượt xa phần đông thế hệ thanh niên Trung Quốc hiện tại. Liệu cô gái này có thể thay đổi Trung Quốc?

Dưới đây là toàn bộ bài nội dung bài diễn văn:

Kính thưa các thầy cô,bạn bè thân mến: Tôi tên Vương Khả Nhi, là học sinh lớp 10A6, tiêu đề bài diễn văn của tôi hôm nay là “Nếu tôi sống thêm hai nghìn năm nữa, thì tổ quốc của tôi, ông sẽ là ai ?”. Tôi không có những ngôn ngữ hùng hồn như mọi người, cũng không có nhiệt huyết dâng trào như những người khác; đối với hai từ “tổ quốc”, cái tôi có chính là suy nghĩ độc lập của riêng cá nhân tôi, tôi cảm thấy rằng xã hội chúng ta không thiếu những người đứng đầu về tri thức, mà cái thiếu chính là những người có tư duy vậy. Tiếp tục đọc “Tổ quốc tôi, ông là ai?”