The Historiography of the Jesuits in Vietnam: 1615–1773 and 1957–2007

Jesuit Historiography Online

Article Table of Contents

  1. The Cochinchina Mission under Jesuit Padroado (1615–65)
  2. The Tonkin Mission under Jesuit Padroado (1627–63)
  3. The Jesuit Missions to Vietnam under the French and Spanish Bishops (1664–1773)
  4. The Jesuit Missions as Seen by French Historians during the Colonial Era
  5. Back to the Archives: Jesuit and Non-Jesuit Scholarship in the Twentieth and Twenty-First Centuries
  6. The Story Continues

Anh Q. Tran, S.J.
aqtran@scu.edu

Last modified: October 2018

In contrast to the wealth of information about the Jesuits in China and Japan, the parallel story of the Jesuit presence in Vietnam has received modest scholarly attention until recent decades. Even though the Portuguese and Italian Jesuits were instrumental in establishing Christian communities in both the ancient states of Cochinchina and Tonkin that make up the present-day Vietnam, their contribution were not properly acknowledged. Part of the problem is due to the fact that prior to 1945, Vietnam was known to the Western world largely as part of French Indochina, and thus Vietnamese Catholicism was seen in the same light—as an extension of French Catholicism. For three hundred years, from the 1660s to the 1960s, the Catholic Church in Vietnam was largely under the care of the Paris Foreign Mission Society (Missions Étrangères de Paris or MEP). Tiếp tục đọc “The Historiography of the Jesuits in Vietnam: 1615–1773 and 1957–2007”

Sử Việt nhìn từ phận đàn bà: Những tiếng nói vô thanh (Trường hợp thái hậu Dương Vân Nga)

Tia sáng – 19/10/2018 08:01 – Trần Trọng Dương

Lịch sử Việt Nam nếu nhìn từ thân phận đàn bà thì đó là những tiếng nói vô thanh, tức là không có (hoặc rất ít) giọng nói cất lên từ phía phụ nữ, mà chỉ là những tiếng lồng đa thanh của những kẻ đàn ông cho những khuôn mặt đàn bà đã phôi pha theo dòng chảy thời gian. Hình tượng Thái hậu Dương Vân Nga trong lịch sử là một trong những điển hình cho điều đó. Trong khi Đinh Tiên Hoàng hiện lên như là một biểu tượng đa năng, như là câu chuyện của những đại tự sự với những xu hướng chính trị cùng chiều; thì Dương hậu được kiến tạo như là một hình ảnh phụ bị cuốn theo và phụ họa cho những giọng nói của đàn ông. Trong khi, các sử gia Nho giáo chỉ coi Dương hậu như là một bài học cho sự vi phạm đạo vợ chồng, phê phán để làm gương cho các bậc hoàng đế và vương hậu đời sau; thì các nghiên cứu trong thế kỷ 20 lại lấy bà như là một biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam biết hy sinh hạnh phúc cá nhân để giữ gìn sự thống nhất và bảo vệ nền độc lập dân tộc.


Nghệ sĩ Bạch Tuyết trong vai diễn Thái hậu Dương Vân Nga trong vở kịch cùng tên.  Tiếp tục đọc “Sử Việt nhìn từ phận đàn bà: Những tiếng nói vô thanh (Trường hợp thái hậu Dương Vân Nga)”

4- Giáo hội trong cơn bão bùng (Chương 3 – Thập giá và lưỡi gươm), Trần Tam Tỉnh

thuvienhoasen – 23/12/201212:00 SA

 
NĂM MƯƠI NĂM NHÌN LẠI 1963 – 2013 TẬP 1

1963 – 2013 
NĂM MƯƠI NĂM NHÌN LẠI 
TẬP MỘT (1/3) 
Tuyển tập của 99 tác giả 
và những lời Phê phán của 100 Chứng nhân 
về chế độ Ngô Đình Diệm
Nhà xuất bản Thiện Tri Thức Publications 2013
TẬP MỘT ● TẬP HAI ● TẬP BA 
 
Chương Một – TỘI TỔ TÔNG 
Hể đã Phi dân tộc thì thế nào cũng Phản dân tộc
 
04
GIÁO HỘI TRONG CƠN BÃO BÙNG 
Linh mục Trần Tam Tĩnh 
(Trích từ tác phẩm “Thập giá và Lưỡi gươm”, Chương III – Việt dịch từ “Dieu et César”)
50namnhinlai-17

1 ─ GIÁO HỘI CHIẾN THẮNG

«Tại các vùng tôi đã đi thăm, người Cộng sản đã giành được một loạt thắng lợi về chính trị, hành chính, quân sự và – cũng phải nói thôi – tinh thần… Điều đã gây ấn tượng mạnh nhất trong tôi, hỡi ôi, lại là tinh thần hăng hái họ đã tạo được nơi các cán bộ không Cộng sản và sự ủng hộ mạnh mẽ họ giành được từ phía nông dân». (Joseph Alsop, phóng viên chống cộng, viết ngày 31-8-1954). Tiếp tục đọc “4- Giáo hội trong cơn bão bùng (Chương 3 – Thập giá và lưỡi gươm), Trần Tam Tỉnh”

Toàn trị và ngoại thuộc phần

thuvienhoasen – Cao Huy Thuần

Kỷ niệm 40 năm 1963 

Hình ảnh có liên quan
Tổng thống Ngô Đình Diệm

Sách vở, báo chí, dân chúng ở miền Nam trước đây gọi chế độ ông Diệm là độc tài, hoặc độc tài gia đình trị. Dictature, despotisme, tyrannie, autocratie, despotisme oriental … tất cả những khái niệm chính trị đó của phương Tây đều có thể áp dụng được – và đã áp dụng – cho chế độ Ngô Đình Diệm. Tôi dùng chữ “toàn trị” ở đây trước hết là để nhấn mạnh một trong hai tiêu chuẩn chính mà Hannah Arendt đã dùng để định nghĩa khái niệm totalitarisme : ý thức hệ. Chế độ ông Diệm đã khẩn trương dựng lên từ đầu và càng ngày càng bắt dân chúng nuốt một thứ chủ nghĩa mà chẳng ai hiểu là gì : chủ nghĩa nhân vị. Dân không hiểu đã đành, đại trí thức dùi mài kinh sử trên chủ nghĩa đó cũng chẳng thông gì hơn, chỉ loáng thoáng biết rằng đây là thứ chủ nghĩa lấy hứng từ thuyết personnalisme chrétien của một ông tác giả Pháp nào đó tên là Mounier. Cái chết của ông Diệm bắt đầu từ đó : từ chỗ ông nghĩ rằng có thể dùng tôn giáo để cai trị, từ chỗ ông bắt tất cả dân chúng, bất kỳ theo tín ngưỡng nào, đều phải nhất nhất “xin Thượng Đế ban phước lành cho Người”.

Tiếp tục đọc “Toàn trị và ngoại thuộc phần”

Phù Nam: Huyền thoại và những vấn đề lịch sử – 2 kỳ

***

Phù Nam: Huyền thoại và những vấn đề lịch sử (Kỳ 1)

07/10/2017 08:35 – Vũ Đức Liêm

Bất cứ quốc gia dân tộc hiện đại nào cũng tìm kiếm cho mình một nền văn hóa, văn minh, hay một vương quốc khởi đầu qua việc kết nối với một thực thể mờ ảo trong quá khứ. Đó là nơi huyền thoại dựng nước bắt đầu, và cũng là nơi chứng kiến sự va chạm giữa các diễn ngôn lịch sử. Phù Nam là một câu chuyện như thế ở Đông Nam Á.


Bản đồ không gian Phù Nam (Miriam Stark, 2006).

Trong số các nền văn hóa kim khí quan trọng trên lãnh thổ Việt Nam, từ đó phát triển các xã hội phức tạp và hình thành nhà nước: Đông Sơn/ Cổ Loa, Sa Huỳnh/Champa, Óc Eo/ Phù Nam, thì Phù Nam ít được chú ý hơn cả. Bao trùm lên nó là huyền thoại về vương quốc được hình thành đầu tiên ở Đông Nam Á, với cảng thị sầm uất như Óc Eo, trung tâm tôn giáo, chính trị như Angkor Borei.

Dù chỉ tồn tại khoảng từ thế kỷ I đến thế kỷ VII CN, vương quốc này không chỉ là trung tâm của kết nối giao thương giữa các cộng đồng khu vực với Ấn Độ, Trung Hoa mà còn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong diễn ngôn chính trị-lịch sử ở thời kỳ hiện đại bởi vì dựa vào những cứ liệu lịch sử không rõ ràng của giai đoạn này mà chủ nghĩa dân tộc Campuchia tìm cách khẳng định sự hiện diện của dân tộc Khmer hàng nghìn năm trước ở vùng hạ lưu Mekong.

Bài viết này lập luận rằng Phù Nam không thể là sản phẩm chiếm hữu, độc quyền của một quốc gia dân tộc nào cả. Thực tế, nó là một thực thể lịch sử đứng giữa các đường biên hiện đại ở hạ lưu Mekong mà một phần di sản của nó đã trở thành bộ phận không tách rời của nước Việt Nam. Thực tế lịch sử đó cần phải được tôn trọng. Lịch sử của Phù Nam cũng chính là một phần của lịch sử Việt Nam. Tiếp tục đọc “Phù Nam: Huyền thoại và những vấn đề lịch sử – 2 kỳ”

Hà Tiên và sự hình thành nước Việt Nam hiện đại

tiasang – 29/09/2017 08:00 – Vũ Đức Liêm

Hà Tiên ngày nay là thị xã vùng biên nhỏ nhắn, bình yên, thơ mộng nép mình bên bờ vịnh Thailand. Hà Tiên của hai trăm năm trước là một trong những trung tâm kinh tế sôi động nhất ở Đông Nam Á, nơi diễn ra các tranh chấp chính trị và quân sự không ngừng giữa người Việt, người Thái, người Khmer và các cộng đồng người Hoa. Lịch sử của vùng đất này là minh chứng sống động cho sự đa dạng trong thống nhất của quá trình hình thành nên lãnh thổ và dân tộc Việt Nam.


Một phần biển Mũi Nai, Hà Tiên, Kiên Giang ngày nay. 

Vùng đất này nằm giữa các diễn ngôn lịch sử rất khác biệt, nhiều khi bị trùm phủ dưới các huyền thoại tạo ra bởi chủ nghĩa dân tộc. Bài viết này chỉ ra những nhân tố cốt lõi làm nên sự thịnh vượng của Hà Tiên và tìm kiếm sự gắn kết của nó đối với lịch sử Việt Nam, như một phần của công cuộc định hình nên không gian của nước Việt Nam hiện đại. Tiếp tục đọc “Hà Tiên và sự hình thành nước Việt Nam hiện đại”

Việt Nam Phật giáo sử luận – Chương 26: Khái quát về công cuộc chấn hưng Phật Giáo từ 1930 đến 1945

langmai

BỐI CẢNH CHÍNH TRỊ VÀ VĂN HÓA

Từ giữa thế kỷ thứ mười sáu trở đi, bạo động và loạn lạc xảy ra liên tiếp khiến một mình Nho giáo không còn đủ sức làm chỗ nương tựa tín ngưỡng và nơi an tâm lập mệnh cho quần chúng nữa. Vì vậy ta thấy giới cầm quyền lại tìm về đạo Phật và giọng chống đối kỳ thị đạo Phật của nho gia cũng dịu dần đi. Dần dần, một số nho gia trở nên có cảm tình với đạo Phật. Nhưng phải đợi cho đến khi văn hóa Tây phương du nhập, Tây học chiếm chỗ của Nho học, ta mới thấy cảnh nho sĩ và tăng sĩ ngồi chung uống trà và đàm đạo nơi thiền viện trở thành một cảnh tượng phổ thông. Tiếp tục đọc “Việt Nam Phật giáo sử luận – Chương 26: Khái quát về công cuộc chấn hưng Phật Giáo từ 1930 đến 1945”

Việt Nam Phật giáo sử luận – Chương 18: Đạo Phật trong đời Nho học độc tôn

langmai

SỰ SUY YẾU CỦA ĐẠO PHẬT VỀ PHƯƠNG DIỆN LÃNH ĐẠO TRÍ THỨC

Cuối thế kỷ XIV, chúng ta đã đặt vấn đề tại sao Phật Giáo bắt đầu suy đồi vào giữa thế kỷ thứ mười bốn. Suy đồi ở đây không có nghĩa là sự giảm thiểu số lượng tự viện và tăng sĩ. Số lượng tự viện và tăng sĩ trong thời đại mà ta gọi là suy đồi vẫn tiếp tục lớn lên. Suy đồi đây cũng không có nghĩa là mất ảnh hưởng trong quần chúng. Cuối đời Trần và trong suốt đời Lê nữa, những chiếc rễ đạo Phật vẫn càng ngày càng ăn sâu thêm trong nếp sống tình cảm và tín ngưỡng của giới đại chúng bình dân. Suy đồi ở đây có nghĩa là đánh mất vai trò lãnh đạo trí thức, văn hóa và chính trị. Tiếp tục đọc “Việt Nam Phật giáo sử luận – Chương 18: Đạo Phật trong đời Nho học độc tôn”

Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Vài nhận xét về cách dùng “ăn chay, ăn kiêng, ăn tạp, khem, cữ” (phần 12)

Linh mục Alexandre de Rhodes và cuốn Phép Giảng Tám Ngày

Nguyễn Cung Thông[1]

> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách nói “xuống thuyền, trên trời, ra đời, Đàng Trong/Ngoài …” (phần 1)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách nói tôi, ta, tao, tớ, qua, min… (phần 2)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách dùng chớ (gì), kín … (phần 3)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách dùng đỗ trạng nguyên, trên/dưới… (phần 4)
>> Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes – Kinh Lạy Cha (phần 5A)
>> Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes – Kinh Lạy Cha (phần 5B)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Dạng bị (thụ) động (passive voice) (phần 8)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Vài suy nghĩ về ‘Phép Giảng Tám Ngày’ (phần 9)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách dùng mẫu/mẹ và An Nam Mít (phần 10)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Vài nhận xét về tên gọi và cách đọc (phần 11)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Vài nhận xét về cách dùng “ăn chay, ăn kiêng, ăn tạp, khem, cữ” (phần 12) Tiếp tục đọc “Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Vài nhận xét về cách dùng “ăn chay, ăn kiêng, ăn tạp, khem, cữ” (phần 12)”

Thăm nhà thờ công giáo đầu tiên tại Việt Nam

Chủ Nhật, 16/03/2014 – 10:18

(Dân trí) – Một trong những nhà thờ công giáo được cho là xây dựng đầu tiên tại Việt Nam là nhà thờ Hội An. Qua tìm hiểu, chúng tôi xin cung cấp một số tư liệu để độc giả hiểu thêm về nhà thờ này, và đây cũng là một địa điểm thu hút du khách.

Kỳ 1: Người đầu tiên sáng tạo ra chữ Quốc ngữ

Đầu thế kỷ 17, Chúa Nguyễn cho phép những người nước ngoài đến làm ăn, buôn bán chính thức tại Hội An; trong đó các nhà buôn người Nhật và Hoa Kiều chiếm đại đa số. Năm 1614, chính quyền Nhật Bản thực hiện lệnh cấm đạo nên các giáo sĩ truyền đạo bỏ đi. Họ lên đường đến thương cảng Hội An. Tiếp tục đọc “Thăm nhà thờ công giáo đầu tiên tại Việt Nam”

Did You Know – The First Cars Were Electric? Những chiếc ô tô đầu tiên là xe điện – Lịch sử xe điện

PBS.org

Timeline: History of the Electric Car

1832-1839
Scottish inventor Robert Anderson invents the first crude electric carriage powered by non-rechargeable primary cells.

1835
American Thomas Davenport is credited with building the first practical electric vehicle — a small locomotive.

1859
French physicist Gaston Planté invents the rechargeable lead-acid storage battery. In 1881, his countryman Camille Faure will improve the storage battery’s ability to supply current and invent the basic lead-acid battery used in automobiles. Tiếp tục đọc “Did You Know – The First Cars Were Electric? Những chiếc ô tô đầu tiên là xe điện – Lịch sử xe điện”

Sài Gòn thương cảng – Trăm năm nhìn lại

dothivietnam – Không có một nơi nào trên bán đảo Đông Dương lại có vị trí thuận lợi cho giao thương như Sài Gòn. Dẫu vậy, khao khát biến Sài Gòn thành thương cảng hàng đầu vùng Viễn Đông chưa bao giờ đi tới bến. Trong lịch sử hơn 150 năm sóng gió kể từ ngày đô đốc Page mở cảng Sài Gòn cho giao thương quốc tế, tiềm năng của thương cảng này đã luôn bị kìm hãm bởi sự thiếu quyết đoán của nhà cầm quyền, bởi chiến tranh và bởi thiếu vắng một cơ chế trao quyền để thành phố tự chủ.
hinh 1
Thương cảng Sài Gòn 150 năm trước (năm 1866) – hai năm sau khi được xây dựng. Ảnh: Emile Gsell

Tiếp tục đọc “Sài Gòn thương cảng – Trăm năm nhìn lại”

Lao Bảo – thành phố của một nửa dòng Sê Pôn – 3 kỳ

***

BÚT KÝ – PHÓNG SỰ DỰ THI VỀ 50 NĂM CHIẾN THẮNG KHE SANH:

Lao Bảo – thành phố của một nửa dòng Sê Pôn

Thị trấn Lao Bảo bây giờ nhìn từ trên cao. Ảnh: HT.
Thị trấn Lao Bảo bây giờ nhìn từ trên cao. Ảnh: HT.

Sự thật ‘đau lòng’ về ‘Đô thành Sài Gòn’ xưa – 2 kỳ

***

Sự thật ‘đau lòng’ về ‘Đô thành Sài Gòn’ xưa (kỳ 1)

datviet – Thứ Sáu, 01/04/2011

Sau khi loại Bảo Đại khỏi vũ đài chính trị Nam Việt Nam, Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh 143-NV ngày 22/10/1956 đổi “đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn” thành “Đô thành Sài Gòn”. Diệm tiếp tục ra sắc lệnh số 74-TTP ngày 23-3-1959 ấn định quy chế quản trị Sài Gòn: Tổng thống trực tiếp bổ nhiệm Đô trưởng và các quận trưởng trong đô thành. Bốn ngày sau, Diệm lại ra nghị định số 110-NV chia lại các quận. Từ sáu quận, Sài Gòn được chia thành tám quận: các quận 1, 2, 3 giữ như cũ, song quận 4 (cũ) chia đôi thành quận 5 và quận 8; quận 5 (cũ) chia thành quận 6 và quận 7; quận 6 (cũ) đổi tên thành quận 4. Toàn đô thành có 41 phường..

Kết quả hình ảnh cho Chợ Bến Thành xưa. Ảnh tư liệuChợ Bến Thành xưa. Ảnh tư liệu Tiếp tục đọc “Sự thật ‘đau lòng’ về ‘Đô thành Sài Gòn’ xưa – 2 kỳ”