‘Thước đo đô thị’ trong đề thi Ngữ văn tốt nghiệp THPT 2026

Trích đề thi tốt nghiệp Cấp 3 THPT, 2026: Câu 1 (2,0 điểm): Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk,… với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

tiasang.com.vn

Đề thi Ngữ văn tốt nghiệp THPT năm nay đưa ra hình ảnh quen thuộc với giới trẻ thành thị nhưng lại có thể xa lạ với những đứa trẻ nông thôn.

Tâm điểm gây tranh cãi của đề thi là câu hỏi: Làm thế nào để có thêm những “Steve Jobs Việt Nam”?

Mặc dù câu hỏi đã có phần dẫn nhắc tới “Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk,… với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới” giúp thí sinh hiểu được mục đích đặt câu hỏi dựa trên tên tuổi này, nhưng việc lựa chọn một nhân vật “Steve Jobs” như ngữ liệu cơ bản có thể không phù hợp với một kỳ thi phổ thông toàn dân.

Các thí sinh thi tốt nghiệp THPT ở một điểm trường thuộc phường Bến, Nghé TP HCM. Ảnh: Thanh Tùng
Các thí sinh thi tốt nghiệp THPT ở một điểm trường thuộc phường Bến, Nghé TP HCM. Ảnh: Thanh Tùng

Đề thi dựa trên một giả định rằng toàn bộ 1,2 triệu thí sinh có tương đối chung một cách hiểu về Steve Jobs trong mối quan hệ với phát minh công nghệ. Khác với hai nhân vật cùng được nhắc đến, mối quan hệ giữa Jobs và phát minh công nghệ đa dạng và phức tạp hơn nhiều việc trực tiếp tạo ra các phát minh – nhận ra tiềm năng của một công nghệ mới, định hướng phát triển sản phẩm, kết hợp nhiều công nghệ có sẵn thành một sản phẩm hoàn chỉnh, thay đổi cách xã hội sử dụng công nghệ…

Việc đưa một nhân vật có mối quan hệ rộng lớn và phức tạp với phát minh công nghệ như vậy sẽ rất khó cho học sinh triển khai bài viết trong 200 chữ, bởi việc minh định khái niệm ban đầu mà đề cho đã tốn không nhỏ dung lượng bài viết, số chữ còn lại có thể không đủ để triển khai sâu sắc nội dung cần thiết.

Tính công bằng xã hội của đề thi

Nhưng vấn đề thực sự nằm ở tính công bằng xã hội của đề thi. Dư luận lo ngại rằng một số học sinh ở các vùng khó khăn, hẻo lánh, ít nhiều tiếp xúc với Internet sẽ không thực sự biết Steve Jobs là ai. Lo ngại trên là có cơ sở.

Có vẻ như Steve Jobs không hề đủ tính gần gũi với đa số giới trẻ như người ra đề thi tốt nghiệp THPT 2026 môn Ngữ văn đã giả định. Trong ảnh: Steve Jobs 11/6/2007. Nguồn: Wikimedia
Có vẻ như Steve Jobs không hề đủ tính gần gũi với đa số giới trẻ như người ra đề thi tốt nghiệp THPT 2026 môn Ngữ văn đã giả định. Trong ảnh: Steve Jobs 11/6/2007. Nguồn: Wikimedia

Một nghiên cứu thực địa [1] về giới trẻ tại các thị trấn ven biển nghèo khó ở Anh chỉ ra rằng mô hình “Đô thị trung tâm” (Metrocentric Model) tạo ra lợi thế giáo dục – văn hóa cho giới trẻ thành thị.

Theo nghiên cứu, các chính sách thường được xây dựng dựa trên mô hình lấy đô thị làm trung tâm, với các đặc điểm như sự “phong phú về văn hóa” và các biểu tượng của sự thành công kiểu đô thị – chẳng hạn Steve Jobs – được đề cao. Còn đối với thanh niên ở các khu vực bị cô lập về địa lý và nghèo khó, khát vọng của họ bị giới hạn bởi những gì thấy trước mắt.

Nghiên cứu còn đặt ra một vấn đề chính sách rằng những giá trị mang tính đô thị được sử dụng như một biểu tượng của sự ưu tú, khiến những người không chia sẻ hoặc không có điều kiện tiếp cận các giá trị này (như trẻ em ở vùng sâu vùng xa) bị dán nhãn hoặc tự dán nhãn mình là “lạc hậu” hoặc “kém cỏi”, từ đó vòng lặp về bất bình đẳng được duy trì ở những mức độ sâu hơn trong tâm trí.

Về vấn đề khát vọng, nhà nhân học Arjun Appadurai đã đưa ra một góc nhìn mang tính bước ngoặt khi định nghĩa khát vọng không phải là một trạng thái tâm lý bẩm sinh, mà là một “năng lực điều hướng” [2]. Giống như một tấm bản đồ tư duy, năng lực này giúp cá nhân thiết lập mối liên hệ biện chứng giữa nhu cầu sinh kế hiện tại với các mục tiêu chiến lược trong tương lai.

Tuy nhiên, Appadurai chỉ ra rằng năng lực này không được phân bổ đồng đều mà bị phân hóa sâu sắc bởi cấu trúc bất bình đẳng xã hội. Trong khi tầng lớp tinh hoa sở hữu một “hệ sinh thái khát vọng” phong phú với đầy đủ các công cụ để thực hành, thử nghiệm và dự phóng các kịch bản tương lai thì người nghèo và trẻ em ở các vùng đứt gãy về hạ tầng số lại bị giới hạn trong một “biên độ khát vọng” có tính cục bộ, thiếu bền vững và dễ tổn thương trước các biến động.

Hệ quả là, khi hệ thống giáo dục hay các chương trình phát triển áp đặt những hình mẫu trừu tượng xa xôi của đô thị lên họ, nó chỉ tạo ra sự ngắt kết nối và thái độ thờ ơ. Vì vậy, Appadurai phản biện rằng, cốt lõi của sự phát triển bền vững là tăng cường năng lực điều hướng khát vọng cho những người yếu thế, trao cho họ công cụ và tiếng nói để tự định hình tương lai từ chính mảnh đất của mình chứ không phải vay mượn các hình tượng xa lạ.

Những dịch chuyển nhận thức lớn của giới trẻ

Bất ngờ hơn nữa là trong số những đứa trẻ cuối Gen Z, tức lứa tuổi thi tốt nghiệp THPT năm nay hoặc sẽ tốt nghiệp THPT trong vài năm tới, mà tôi tranh thủ hỏi nhanh về Steve Jobs sau buổi thi sáng 11/6, nói không biết ông là ai, có cả những em sống ở trung tâm thành phố lớn. Có vẻ như Steve Jobs không hề đủ tính gần gũi với đa số giới trẻ như người ra đề đã giả định.

Hiện tượng này phù hợp với các nghiên cứu thị trường gần đây. Trong đó nghiên cứu với sự tham gia của gần 5.500 Gen Z và Gen Alpha ở 18 nước (bao gồm Việt Nam) cho biết [4], 66% Gen Z tuyên bố rằng “không còn tồn tại một dòng chảy văn hóa đại chúng duy nhất”, tức là không còn một nhân vật đại chúng nào chiếm sự chú ý tuyệt đối nữa. Giới trẻ hiện nay thể hiện sự linh hoạt này bằng cách thử nghiệm nhiều phong cách thẩm mỹ, tiểu văn hóa và cộng đồng khác nhau, tạo ra những “khung hình vô tận” để tự biểu đạt bản thân thay vì quá tập trung vào một biểu tượng lớn.

Theo một khảo sát khác với hơn 22.500 Gen Z và Gen Y tại 44 quốc gia [3], chỉ vỏn vẹn 6% Gen Z và Gen Y tuyên bố rằng đạt được một vị trí lãnh đạo là mục tiêu sự nghiệp hàng đầu của họ. Thay vì thăng tiến nhanh chóng, phần lớn người trẻ (44% Gen Z và 46% Gen Y) tìm kiếm sự tiến bộ ổn định. Các mục tiêu hàng đầu hiện nay là duy trì sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống, đạt được sự độc lập về tài chính và sự ổn định trong công việc.

Hẳn người gắn liền với câu nói “Hãy khát khao, hãy dại khờ” không phải nhân vật đại diện cho lối sống này.

Các nghiên cứu trên có thể chưa khớp với giới trẻ Việt Nam, nhưng nó cũng gợi nhắc đến những dịch chuyển nhận thức lớn của giới trẻ trong việc tiếp nhận các biểu tượng công nghệ – kinh doanh – toàn cầu.

Chính bởi các biến động lớn về nhận thức như vậy, người ra đề có lẽ nên hướng tới các giải pháp trung tính hơn thay vì dồn ngữ cảnh lên một (vài) nhân vật tiêu biểu. Như nhà nghiên cứu giáo dục Lê Anh Vinh đã đề xuất câu hỏi tương đương với đề đã có như sau: “Làm thế nào để Việt Nam nuôi dưỡng những con người sáng tạo, có năng lực tạo ra sản phẩm, ý tưởng hoặc giá trị có ảnh hưởng rộng lớn.”

Là đề thi tốt nghiệp toàn quốc, việc cân bằng giữa vùng miền, cập nhật các xu hướng mới của giới trẻ để đảm bảo hơi thở thời đại của phần nghị luận xã hội luôn đòi hỏi nỗ lực không ngừng từ các nhà giáo dục.

[1] Wenham, Aniela Michelle (2020) “Wish you were here”? Geographies of exclusion: young people, coastal towns and marginality. Journal of Youth Studies, 23/12/2019. https://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/13676261.2019.1704408?utm_source=chatgpt.com

[2]https://documents1.worldbank.org/curated/en/243991468762305188/pdf/298160018047141re0and0Public0Action.pdf

[3] The next growth generation: Winning with Gen Z and Gen Alpha. Mastercard, 26/02/2026. https://www.mastercard.com/global/en/news-and-trends/Insights/2026/next-growth-generation.html

[4] 2026 Gen Z and Millennial Survey. Deloitte. https://www.deloitte.com/content/dam/assets-shared/docs/campaigns/2026/2026-genz-millennial-survey.pdf

XEM Đề thi Văn tốt nghiệp THPT 2026

vnexpress.net

Xem ảnh chụp đề thi

I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản:

(1) Năm 1440, tại một xưởng cơ khí nhỏ nằm lọt thỏm giữa thành phố Mainz nước Đức, Johannes Gutenberg phát minh ra máy in. […]

(2) Trước năm 1440, tri thức là một dạng tài sản bị giam cầm. Nó nằm im lìm trong các thư viện, tu viện hay sau những cánh cổng sắt của các lâu đài, được lưu giữ trên những cuốn sách chép tay bằng da cừu mà giá trị của mỗi cuốn có thể đổi ngang một trang trại trù phú. Sự khan hiếm đó không phải là ngẫu nhiên, nó là một trật tự được thiết lập. Khi việc sao chép một văn bản đòi hỏi hàng nghìn giờ lao động thủ công của các tu sĩ, tri thức mặc nhiên trở thành đặc quyền của tầng lớp tinh hoa. Dân chúng không có quyền tiếp cận văn bản gốc, và do đó, họ không có quyền nghi ngờ.

(3) Phát minh của Gutenberg phá vỡ sự độc quyền đó bằng một khái niệm mang tính cách mạng: sự nhân bản công nghiệp của tri thức.

(4) Lần đầu tiên trong lịch sử, tư tưởng của một con người có thể tách rời khỏi thể xác họ và nhân ra hàng ngàn bản sao với chi phí thấp. Sách bắt đầu tràn xuống đường phố. Những ý tưởng, cả vĩ đại lẫn nguy hiểm, bắt đầu thẩm thấu vào đại chúng. William Shakespeare được hậu thế tôn vinh là đại văn hào không chỉ bởi tài năng của ông, mà còn bởi ông sống đúng vào điểm rơi của công nghệ in ấn. Nếu không có những bản in First Folio¹ được xuất bản năm 1623, những vở kịch kinh điển như Macbeth hay Hamlet có lẽ đã tan biến vào hư không ngay sau khi tấm màn nhung của nhà hát Globe khép lại.

(5) Sức mạnh của máy in không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn văn hóa, nó trở thành thước đo cho vận mệnh các quốc gia. Một sự phân hóa rõ rệt bắt đầu xuất hiện trên bản đồ thế giới. Những quốc gia phương Tây như Anh, Hà Lan hay Đức, nơi chấp nhận các phiên bản cải tiến sau này của máy in Gutenberg và để chúng vận hành hết công suất, đã chứng kiến sự bùng nổ chưa từng có về dân trí và khoa học. Tri thức không còn bị độc quyền, nó trở thành nhiên liệu cho Phục hưng và Cách mạng Công nghiệp, giúp con người phát minh ra động cơ hơi nước và điện.

(6) Ngược lại, ở phía bên kia Địa Trung Hải, các Sultan² của Đế quốc Ottoman hùng mạnh đã đưa ra một quyết định định mệnh khi cấm in ấn bằng tiếng Ả Rập và Thổ Nhĩ Kỳ trong suốt gần 300 năm, vì lo sợ sự lan truyền của những tư tưởng “lệch lạc”. Hậu quả là trong khi châu Âu đang tranh luận sôi nổi về vật lý và thiên văn học trên những trang báo in, thì một đế chế từng là trung tâm văn minh của thế giới lại dần chìm vào sự trì trệ và lạc hậu. Sự thiếu vắng hạ tầng nhân bản tri thức khiến tỷ lệ biết chữ tại đây dậm chân tại chỗ ở mức dưới 5% trong suốt nhiều thế kỷ. Họ bỏ lỡ hoàn toàn chuyến tàu của Cách mạng Khoa học và kỷ nguyên Khai sáng, đơn giản vì các ý tưởng đột phá không có cơ hội được sao chép, lan truyền để tạo ra sự cộng hưởng trí tuệ.

(CODE VÀ CÁT – Những quyền lực công nghệ xoay chuyển thế giới, Phan Tuấn, NXB Thế giới, 2026, tr.8-10)

¹ Tuyển tập kịch đầu tiên của William Shakespeare. ² Người nắm quyền lực tối cao ở Đế quốc Ottoman.

Thực hiện các yêu cầu:

Quảng cáoNextStay

Câu 1. Theo văn bản, trước năm 1440, tri thức được lưu giữ ở đâu?

Câu 2. Chỉ ra câu văn chứa đựng bằng chứng về vai trò của máy in đối với tác phẩm của William Shakespeare trong đoạn (4).

Câu 3. Anh/Chị hiểu như thế nào về nghĩa của cụm từ tài sản bị giam cầm (đoạn 2) và từ nhiên liệu (đoạn 5) được tác giả sử dụng khi nói về tri thức trước và sau năm 1440?

Câu 4. Nhận xét về mối liên hệ giữa luận đề và các luận điểm trong văn bản.

Câu 5. Trong bối cảnh cần có những đột phá về khoa học công nghệ hiện nay, từ góc nhìn của người trẻ, theo anh/chị, cần sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) như thế nào để tạo nên sự cộng hưởng trí tuệ?

II. VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm): Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk,… với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Câu 2 (4,0 điểm): Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ sau: NHỮNG CHIẾC LÁ.

Chiều lạnh cóng, vườn cây vắng tanh, gió thổi bay lao xao, những chiếc lá rụng trên mặt cỏ

Những chiếc lá nâu, đen, rách quăn queo

Đâu những ngày xuân, chúng ta xòe biếc đón về ríu rít những đàn chim.

Những buổi trưa hè, chúng ta um tùm che mát cho người đi đường mồ hôi nhễ nhại.

Những chiều thu nhẹ trong, chúng ta thắp vàng trên đầu bao đôi người yêu.

Đến hôm nay, gió bắc đã rứt chúng ta, ném xuống đất bụi.

Chiều lạnh cóng, những chiếc lá rụng bay lao xao trong vườn cây.

Ai bé nhỏ vừa đi tới.

Giữa gió buốt, chú bé lụi hụi xuýt xoa, loạt xoạt, loạt xoạt, chiếc chổi tre quét trên mặt cỏ.

Sắp tối rồi.

Chú bé ôm từng ôm lá nén vào chiếc bao tải dần căng phồng.

Đi đâu, chú bé vác bao tải to, trên con đường đầu ô bụi bặm.

Đây rồi, dưới mái bếp tranh, chú bé ngồi vốc từng nắm lá khô nhóm lửa, đặt nồi cơm, đợi mẹ đi làm về.

Khói hắc hắc thơm thơm bay lên. À, à, vậy chứ, vậy chứ, – những chiếc lá reo phù phù, nhảy nhót.

(Thơ Nguyễn Đình Thi, NXB Kim Đồng, 2025, tr.87-88)

1 bình luận về “‘Thước đo đô thị’ trong đề thi Ngữ văn tốt nghiệp THPT 2026

  1. Bất ngờ hơn nữa là trong số những đứa trẻ cuối Gen Z, tức lứa tuổi thi tốt nghiệp THPT năm nay hoặc sẽ tốt nghiệp THPT trong vài năm tới, mà tôi tranh thủ hỏi nhanh về Steve Jobs sau buổi thi sáng 11/6, nói không biết ông là ai, có cả những em sống ở trung tâm thành phố lớn. Có vẻ như Steve Jobs không hề đủ tính gần gũi với đa số giới trẻ như người ra đề đã giả định.

    Hiện tượng này phù hợp với các nghiên cứu thị trường gần đây. Trong đó nghiên cứu với sự tham gia của gần 5.500 Gen Z và Gen Alpha ở 18 nước (bao gồm Việt Nam) cho biết [4], 66% Gen Z tuyên bố rằng “không còn tồn tại một dòng chảy văn hóa đại chúng duy nhất”, tức là không còn một nhân vật đại chúng nào chiếm sự chú ý tuyệt đối nữa. Giới trẻ hiện nay thể hiện sự linh hoạt này bằng cách thử nghiệm nhiều phong cách thẩm mỹ, tiểu văn hóa và cộng đồng khác nhau, tạo ra những “khung hình vô tận” để tự biểu đạt bản thân thay vì quá tập trung vào một biểu tượng lớn.

    Vâng, trong gia đình mình cũng có em thi tốt nghiệp THPT năm nay, gia đình cháu sinh sống ở trung tâm thành phố lớn, và cháu cũng không quan tâm lắm Steve Jobs là ai đâu ạ. Chưa kể học sinh ở nông thôn hay các vùng khác như bài báo nhắc đến. Quý vị trong ngành giáo dục, hội đồng ra đề thi có vẻ áp đặt tư duy của mình vào nhận thức của giới trẻ ngày nay trong đề thi này, và kính thưa hội đồng chuyên gia, dường như không có một cái nhìn thực tế về giới trẻ tư duy và suy nghĩ ra sao.

    Đề thi ngữ văn của một quốc gia phản ảnh tư duy nhân văn của một quốc gia. Không thiếu cách để đặt câu hỏi đề thi về việc AI, hay công nghệ nói chung có thể được sử dụng phục vụ cho nhân loại, giải quyết vấn đề của nhân loại ra sao từ y tế, giáo dục, môi trường, khí hậu, thiên tai cho đến sự phát triển của chính cá nhân mỗi học sinh…, thay vì gắn vào một vài cái tên mà giới trẻ cũng chẳng mấy quan tâm.

    Đã thích bởi 1 người

Bình luận về bài viết này