Phát triển bền vững của Việt Nam – Phát triển Hệ sinh thái thiện nguyện

Hình ảnh hiện tại không có văn bản thay thế. Tên tập tin là: hanh-chinh-1.jpg

“Chúng tôi tin rằng Việt Nam chỉ có thể đạt được mục tiêu đầy tham vọng là trở thành một nước phát triển vào năm 2045 nếu chiều kích xã hội và khối xã hội được tích hợp đầy đủ, thích đáng vào chiến lược phát triển tổng thể với tầm nhìn đến năm 2045.”

“Thách thức quan trọng với sự phát triển bền vững của Việt Nam hiện nay là công nhận và coi trọng vai trò cũng như đóng góp của các tác nhân phi lợi nhuận, thiện nguyện và các tác nhân khác cho khối xã hội và xã hội nói chung”, bà Tôn Nữ Thị Ninh, Chủ tịch Quỹ Hòa bình và Phát triển TP.HCM, nhận định. [Trích trong bài báo đầu tiên dưới đây].

Để đạt được mục tiêu đó, để Hệ sinh thái thiện nguyện tại VN có cơ hội được phát triển, có lẽ điều quan trọng duy nhất VN cần làm là “Đừng sợ xã hội dân sự!”. Hãy nhìn Quyền lập hội với “góc nhìn đúng và cách tiếp cận khác”.

Thực sự, xã hội dân sự là nơi mà mọi người dân có quan tâm về những vấn đề xã hội cùng nhau hoạt động để đưa tiếng nói của người dân đến Chính phủ. Xã hội dân sự như vậy là một mắt xích nối kết người dân và Nhà nước, rất tốt, rất cần thiết cho các hoạt động chung của đất nước. Xã hội dân sự vừa hỗ trợ Nhà nước vừa hỗ trợ người dân, đó là một điều rất tích cực cho đất nước.

Phạm Thu Hương

***

Hệ sinh thái thiện nguyện tại Việt Nam: Những điều trông thấy

NĐT –  16:55 | Thứ bảy, 21/05/2022 0

“Thách thức quan trọng với sự phát triển bền vững của Việt Nam hiện nay là công nhận và coi trọng vai trò cũng như đóng góp của các tác nhân phi lợi nhuận, thiện nguyện và các tác nhân khác cho khối xã hội và xã hội nói chung”, bà Tôn Nữ Thị Ninh, Chủ tịch Quỹ Hòa bình và Phát triển TP.HCM, nhận định.

Hình ảnh người dân xếp hàng nhận gạo tại cây “ATM gạo” đầu tiên trên đường Vườn Lài, quận Tân Phú. “Ông chủ ATM gạo” là doanh nhân Hoàng Tuấn Anh. Sau mô hình “ATM gạo”, “ATM khẩu trang”  trong đợt dịch lần thứ 4 này, Hoàng Tuấn Anh tiếp tục phát động mô hình “ATM Oxy” nhằm kịp thời hỗ trợ cho những bệnh nhân COVID-19 cách ly tại nhà trở nặng, phải cần đến máy thở. Ảnh: Trung Dũng

Quỹ Hòa bình và Phát triển TP.HCM (HPDF) vừa công bố Báo cáo Khảo sát thực tiễn hệ sinh thái thiện nguyện tại Việt Nam(*) . Báo cáo được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam đang thiếu nhận thức chung và hiểu biết cơ bản về toàn bộ hệ sinh thái thiện nguyện, trong đó có sự hiện diện đa dạng của một loạt chủ thể và các bên liên quan trải rộng khắp toàn khối cộng đồng thiện nguyện – một chuỗi các loại hình hoạt động, từ hình thức thiện truyền thống đến thể chế thiện nguyện lớn nhỏ, cho đến trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) và thiện nguyện doanh nghiệp, đến kinh doanh vì xã hội, và đầu tư tạo tác động cho xã hội, môi trường. Điều này dẫn đến một thực tế là vai trò của khối xã hội/ phi lợi nhuận chưa được các cơ quan nhà nước và dư luận nói chung nhìn nhận một cách thích đáng như một yếu tố then chốt vào sự phát triển bền vững của Việt Nam.

“Chúng tôi tin rằng Việt Nam chỉ có thể đạt được mục tiêu đầy tham vọng là trở thành một nước phát triển vào năm 2045 nếu chiều kích xã hội và khối xã hội được tích hợp đầy đủ, thích đáng vào chiến lược phát triển tổng thể với tầm nhìn đến năm 2045.”

“Thách thức quan trọng với sự phát triển bền vững của Việt Nam hiện nay là công nhận và coi trọng vai trò cũng như đóng góp của các tác nhân phi lợi nhuận, thiện nguyện và các tác nhân khác cho khối xã hội và xã hội nói chung”, bà Tôn Nữ Thị Ninh, Chủ tịch HPDF, nói.

Thực tế, sau khi Việt Nam đã tiến lên nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp từ năm 2010, mức thu nhập bình quân tăng đã kéo theo sự giảm sút khối lượng viện trợ quốc tế cùng với sự chuyển dịch về lĩnh vực  và phương thức viện trợ, dẫn đến sự thay đổi cách hoạt động của các chủ thể trong hệ sinh thái thiện nguyện của đất nước và khối xã hội nói chung theo hướng chủ động và hiệu quả hơn.

Trong khi Nhà nước chịu trách nhiệm chính về các vấn đề xã hội, khối doanh doanh nghiệp (nhà nước, tư nhân) cũng như các chủ thể của hệ sinh thái thiện nguyện có vai trò quan trọng, không thể thiếu trong việc đảm bảo sự phát triển của Việt Nam hướng tới mọi đối tượng và mang tính bền vững. Điều này được thể hiện rõ ràng trong bối cảnh đại dịch vừa qua tạo nên nhiều thách thức nghiêm trọng cho đời sống của người dân, xã hội và kinh tế ở nước ta.

Người Đô Thị lược trích nội dung Báo cáo tóm tắt về Khảo sát thực tiễn hệ sinh thái thiện nguyện tại Việt Nam. Tựa bài do toà soạn đặt.

* **

Còn nhiều nhầm lẫn, “định kiến”

Có sự nhầm lẫn, hiểu không đúng cũng như bất cập về khái niệm và thuật ngữ giữa các chủ thể trong hệ sinh thái, trong các văn bản pháp lý và hành chính, và tất nhiên cả ngoài công chúng. Điều này gây khó khăn cho việc xác định vị trì và mối quan hệ qua lại giữa cá chủ thể và các bên liên quan trong phổ hệ sinh thái thiện nguyện.

Có nhu cầu cao về một môi trường tạo điều kiện thuận lợi hơn cùng với sự công nhận thích đáng từ các cơ quan nhà nước đối với hoạt động thiện nguyện ở Việt Nam. Nhiều chủ thể của hệ sinh thái thiện nguyện ở Việt Nam mô tả những khó khăn khi hoạt động trong khung pháp lý hiện hành, do văn bản hướng dẫn chưa đầy đủ hoặc yêu cầu thực thi luật pháp và quy định hiện hành không rõ ràng và/ hoặc không nhất quán về việc đăng ký, phê duyệt, gây quỹ, báo cáo, và chính sách thuế ưu dãi cho các loại hình chủ thể thiện nguyện khác nhau.

Thiếu thông tin tổng hợp và đáng tin cậy về các chủ thể của hệ sinh thái thiện nguyện, và không dễ dàng tiếp cận những thông tin này. Các cuộc thảo luận nhóm diễn ra với sự phân chia các thành viên hệ sinh thái thiện nguyện thành năm cụm: (1) đoàn thể quần chúng, (2) doanh nghiệp), (3) quỹ, (4) tổ chức phi lợi nhuận (NPO) và các tổ chức phi chính phủ (NGO) quốc tế, và (5) nhà thiện nguyện cá nhân.

Báo cáo và các điển hình cho thấy rõ mỗi cụm có nhiều loại chủ thể thiện nguyện, giải quyết các vấn đề khác nhau, hỗ trợ đối tượng hưởng thụ khác nhau, và báo cáo cho nhiều bộ ngành và cơ quan nhà nước khác nhau.

Việc thiếu cơ sở dữ liệu tổng hợp về các chủ thể và sáng kiến gây khó khăn cho việc xác định đối tác chiến lược, đặc biệt cho việc tìm được khả năng hợp tác vì mục đích chung với hiệu quả, tác động tốt hơn.

Tiếp cận sự hỗ trợ năng lực còn hạn chế. Các chủ thể của hệ sinh thái thiện nguyện tại Việt Nam hoan nghênh mọi sự hỗ trợ nhầm nâng cao tác động xã hội từ hoạt động thiện nguyện của họ. Mặc dù có những quan điểm khác nhau về việc xác định hình thức hỗ trợ nào là cần thiết, và các tốt nhất để xây dựng năng lực, các chủ thể hệ sinh thái thiện nguyện sẵn sàng học hỏi những phương cách hoạt động tốt nhất trong ngành, đón nhận sự đào tạo kỹ năng cứng và mềm, chia sẻ kinh nghiệm và nhiều hoạt động khác.

Đã có một số ít tổ chức hỗ trợ hoặc tác nhân phát triển năng lực xuất hiện ở Việt Nam và tìm cách phần nào giải quyết các nhu cầu nói trên.

Làm từ thiện ở Việt Nam xuất phát từ nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Như ở nhiều nước, hành động thiện nguyện ở Việt Nam xuất phát từ nhiều động cơ khác nhau. Ví dụ như từ ý thức phải giúp người, mong muốn thực hiện các giá trị mình trân trọn, thể hiện tinh thần đoàn kết, quảng bá hay nâng cao tiếng tăm hay thương hiệu, vì niềm tin tôn giáo, tâm linh, tập tục văn hóa và các phong tục, truyền thống khác, hoặc sự kết hợp của nhiều yếu tố khác nhau.

Nền thiện nguyện tại Việt Nam khát khao được tạo thuận lợi và phát triển năng lực. Các chủ thể hệ sinh thái thiện nguyện quan tâm và sẵn sàng dành thời gian, thậm chí nhiều nguồn lực khác, để cải thiện hệ sinh thái thiện nguyện ở Việt Nam.

Sự quan tâm và cam kết này thể hiện rõ qua mức độ tham gia của các chủ thể vào quá trình khảo sát, cũng như qua những quan ngại của họ về hệ lụy đối với thiện nguyện về việc thực hiện không đúng hoặc quản lý yếu kém.

Quan ngại gia tăng về tính minh bạch và hiệu quả của hoạt động thiện nguyện. Với sự phát triển của các chủ thể hệ sinh thái thiện nguyện và phương thức gây quỹ cộng đồng tự phát ở Việt Nam, ngày càng có nhiều lo ngại liên quan đến tính minh bạch và hoạt động của các chủ thể hệ sinh thái thiện nguyện. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng thiết yếu của việc xây dựng và duy trì lòng tin giữa các bên liên quan chủ chốt.


Các khuyến nghị

Về khuôn khổ pháp lý và quy định: Chính thức chỉ định cơ quan đầu mối duy nhất cho các NGO/NPO trong nước (đã đăng ký hoặc đang nộp hồ sơ); Đơn giản hóa và hợp lý hóa các quy định liên quan; Hướng đến một loại giấy phép/đăng ký duy nhất cho tất cả các NGO/NPO trong nước.

Xây dựng năng lực và niềm tin: Đưa ra các sáng kiến chung liên quan đến nhà tài trợ, các bên liên quan thụ hưởng và đơn vị hỗ trợ trong công tác lập kế hoạch và thực hành thiện nguyện; Tổ chức diễn đàn thiện nguyện toàn diện hàng năm với sự tham gia của tất cả các thành viên –  trong nước và quốc tế – của hệ sinh thái thiện nguyện cùng đại diện cơ quan nhà nước và các nhóm thụ hưởng liên quan.

Thông tin, truyền thông và giáo dục công chúng: Thiết lập cơ sở dữ liệu chính thức về các thành viên hệ sinh thái thiện nguyện và thường xuyên cập nhật để cộng đồng tham khảo; Xây dựng những nền tảng tổng hợp thông tin và cơ hội cho cộng đồng; Thông qua các kênh truyền thông đa dạng, bao gồm phương tiện truyền thông và môi trường học tập như trường học phổ thông, đại học nhầm phổ biến kiến thức, sự hiểu biết và hỗ trợ cho các hoạt động thiện nguyện; Tiến hành một đánh giá tổng quan và có hệ thống về khung pháp lý và quy định quản lý công tác thiện nguyện ở Việt Nam.

Lê Quỳnh (ghi)

____________

(*) Nghiên cứu được sử dụng phương pháp định tính, tập trung vào tiếp xúc và trao đổi trực tiếp với các thành viên cộng đồng thiện nguyện, thông quan 68 cuộc phỏng vấn, hầu hết trực tiếp, 5 cuộc trao đổi nhóm với hơn 90 người tham gia, và phiên thảo luận tổng kết nhằm thu thập ý kiến phản hồi về dự thảo Báo cáo cũng như đề xuất kiến nghị.

Khảo sát tiếp cận các loại hình tổ chức gồm NPO/NGO (28,57%), doanh nghiệp (23,08%), quỹ (14,29%), doanh nghiệp xã hội (7,69%), cơ quan nhà nước đoàn thể (7,69%), doanh nghiệp tạo tác động (3,3%) và khác (15,38%).

Có 70,51% người là CEO, giám đốc, nhà sáng lập, 26,92% là phó giám đốc, quản lý dự án chương trình, trưởng phòng, và 2,52% là điều phối dự án chương trình tham gia phỏng vấn, trao đổi nhóm của Khảo sát.

***

Đừng sợ xã hội dân sự!

21/05/2006 15:02 GMT+7 TTCT“Ở VN có một số người sợ rằng nếu thúc đẩy xã hội dân sự (XHDS) sẽ có sự đối lập với chính quyền. Sợ như thế là hơi quá, là không tin vào người dân. Chính vì vậy, chúng ta cần phải nghiên cứu về XHDS”.

svVS8l9Q.jpg
Ảnh: Việt Dũng

* Thưa ông, phải hiểu khái niệm XHDS như thế nào?

– Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy XHDS đã tồn tại ở VN từ rất lâu. Nói nôm na, đó là các tổ chức xã hội nằm ngoài Nhà nước, nằm ngoài các hoạt động của doanh nghiệp (thị trường), nằm ngoài gia đình, để liên kết người dân với nhau trong những hoạt động vì một mục đích chung.

Bắt đầu từ năm 2005, với sự giúp đỡ của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), Liên minh toàn cầu vì sự tham gia của công dân (CIVICUS), Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV), lần đầu tiên tại VN, vấn đề xã hội dân sự đã được VIDS tiến hành nghiên cứu và vừa báo cáo đánh giá ban đầu.

Như vậy, thành phần quan trọng của XHDS là các hội, hiệp hội trong dân chúng, trong làng xóm, mang tính chất liên kết cộng đồng.

Theo quan niệm đó thì ở VN Mặt trận Tổ quốc là tổ chức XHDS lớn nhất, bao gồm các đoàn thể (công đoàn, phụ nữ, thanh niên, nông dân…), hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ… Mặt khác có thể coi XHDS là diễn đàn, là nơi mọi người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung. XHDS hỗ trợ người dân thực thi luật pháp, đồng thời phản ánh nguyện vọng người dân. Nếu thể chế nhà nước hoạt động dựa vào luật, thể chế thị trường hoạt động dựa vào lợi nhuận thì XHDS vẫn tuân theo pháp luật, tuân theo thị trường, nhưng thúc đẩy khía cạnh đạo đức, khai thác tính nhân văn, tính cộng đồng.

* Hiện nay, XHDS tại VN hoạt động như thế nào?

– Chúng tôi đánh giá các chỉ số XHDS dưới dạng một hình thoi với bốn đỉnh phản ánh gồm: cấu trúc XHDS, môi trường để XHDS hoạt động, các giá trị trong XHDS và tác động của XHDS tới xã hội chung.

Theo kết quả nhận dạng ban đầu, XHDS tại VN có cấu trúc rất rộng nhưng không sâu, tức là người dân thường là thành viên một tổ chức nào đó (phụ nữ, thanh niên, hội nghề nghiệp…) của XHDS nhưng tính tự nguyện còn thấp. Trong khi đó, môi trường để XHDS hoạt động đã được thúc đẩy trên văn bản, nhưng trên thực tế yếu tố khích lệ phát huy sự tham gia của XHDS trong công cuộc phát triển còn yếu. Điều này khiến tác động của XHDS đến xã hội còn yếu tuy các giá trị XHDS được đánh giá là ở mức độ tương đối cao. Đánh giá bốn lĩnh vực trên ở VN, các chuyên gia cho điểm chung ở mức trung bình thấp.

Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng không có nước nào đạt điểm tối đa cho bốn lĩnh vực nói trên. Một nước mạnh thể chế pháp lý, công nghiệp hóa, chưa chắc đã mạnh về XHDS. Trong số 50 quốc gia được khảo sát, XHDS ở VN nằm ở loại trung bình. Những nước có XHDS phát triển mạnh là những nước Bắc Âu như Na Uy, Đan Mạch, Thụy Điển, Phần Lan. Đây là những quốc gia phát triển bền vững tốt, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với các vấn đề về xã hội, bảo vệ môi trường và sự tham gia tích cực của người dân trong công cuộc phát triển quốc gia.

Điểm giống nhau cơ bản của XHDS ở VN so với các nước là đều gồm các tổ chức liên kết trong dân. Điểm khác nhau là các tổ chức liên kết trong dân ở VN do truyền thống nhiều năm chống ngoại xâm nên mang màu sắc đoàn thể cách mạng, được hỗ trợ một cách đặc biệt từ phía chính quyền nên nếu những chính sách của chính quyền có sai sót (điển hình là căn bệnh tham nhũng) thì các tổ chức XHDS rất khó nói. Ngoài ra, người dân chưa quen với việc đòi hỏi chính quyền phải giải trình.

* Vì sao lâu nay XHDS được coi là vấn đề nhạy cảm, không được bàn ở VN?

– Lý do là tại một số nước có hiện tượng khai thác mặt đối lập với chính quyền của XHDS để tạo ra những xu thế mất ổn định. Từ đây có người cho rằng nếu nghiên cứu, phổ biến XHDS tại VN thì sẽ tiến tới khai thác mặt đối lập với chính quyền. Nên hiểu rằng XHDS có nhiều mặt và chúng ta cần nghiên cứu xem mặt tiêu cực, tích cực của nó là gì. Ngay cả người dân cũng hiểu biết rất ít về XHDS. Chính vì vậy càng phải nghiên cứu, hiểu rõ vai trò, tác động của XHDS, trước hết là cộng đồng nghiên cứu khoa học, các nhà quản lý.

* Có ý kiến cho rằng VN không có XHDS và điểm đánh giá cho bốn lĩnh vực của XHDS là thấp, thấp nhất là sự tác động của XHDS vào xã hội nói chung?

– Đúng là tác động của XHDS vào xã hội còn thấp. Đối với việc tác động của XHDS vào qui trình dự toán ngân sách quốc gia nhóm nghiên cứu chỉ chấm 0,1 điểm. Điều đó chứng tỏ hoạt động của XHDS ở VN còn rất hạn chế và không có ảnh hưởng rõ rệt nào. Người dân (các tổ chức của dân) rất ít được tham gia các quá trình ra quyết định, như lập ngân sách, vay ODA… Hoặc trong chỉ số XHDS tác động tới việc giải trình của Chính phủ, điểm số đạt được chỉ là 0,6. Trên thực tế, hầu hết các công trình xây dựng qui mô lớn (hàng nghìn dân phải di dời, thay đổi lớn về xã hội, văn hóa), các tổ chức XHDS cũng chưa phát huy được sự tham gia của mình.

Một lý do khác để một số người còn cho rằng VN chưa có XHDS (đích thực) là các tổ chức đoàn thể, nhất là ở cấp trung ương còn gắn nhiều với Nhà nước, chưa mang tính độc lập trong khía cạnh phản ánh nguyện vọng của người dân. Ví dụ trong Quốc hội, đại biểu Quốc hội lẽ ra phải là đại biểu dân cử (mang nhiều tính chất của XHDS) nhưng lại là bộ trưởng, lại là chủ tịch tỉnh (tính chất Nhà nước). Tất nhiên VN đang trong thời kỳ chuyển đổi, các tổ chức đoàn thể (các tổ chức XHDS) xuất phát từ thời kỳ cách mạng nên có nhiều sự ràng buộc với chính quyền. Còn tác động của XHDS tới xã hội là có.

Như thế, có thể khẳng định ở VN đã tồn tại XHDS. Ở VN có những khẩu hiệu thể hiện chủ trương khích lệ sự tham gia của XHDS, như “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra” hay như nghị định về dân chủ cơ sở.

* XHDS chưa tác động mạnh vào xã hội, cụ thể là không buộc Chính phủ phải giải trình được nên tệ nạn tham nhũng có cơ hội hoành hành?

– Không thể phủ nhận vai trò của XHDS trong việc đấu tranh chống tham nhũng. Nếu XHDS được trao quyền tốt hơn, được thúc đẩy tốt hơn thì sẽ đóng góp vào việc giảm tham nhũng. Do đó, phải làm sao để XHDS có quyền được tìm hiểu, được đòi hỏi chính quyền phải giải trình. Nếu Quốc hội hoạt động mạnh, các tổ chức quần chúng hoạt động mạnh sẽ tác động lên hội đồng nhân dân các cấp, và đó chính là áp lực để Chính phủ phải giải trình trong những trường hợp quan chức chính quyền bị nghi ngờ có tham nhũng.

* Chính vì luôn lo sợ XHDS đòi hỏi quyền lợi nên có những người không muốn XHDS tồn tại ở VN?

– Đúng là có cách suy nghĩ đó nhưng là vì hiểu nhầm, hiểu phiến diện thôi. Họ cho rằng hoạt động của XHDS là “rách việc”, là chống đối. Họ sợ rằng khi có XHDS thì chính quyền sẽ bị phản đối khi muốn quyết định một vấn đề nào đó. Tức là họ nghĩ XHDS sẽ làm cho tốc độ tăng trưởng giảm đi, XHDS không muốn chấp hành luật lệ. Nhưng đó chỉ là suy nghĩ thiểu số. Tất nhiên, những kẻ tham nhũng rất sợ XHDS. Thực chất vai trò cuối cùng của XHDS, cũng như của bất cứ chính quyền vì dân vì nước nào, là phát triển đất nước bền vững. Tiếng nói của một người dân có thể sai nhưng số đông người dân lên tiếng thì chính quyền cần lắng nghe và hiệu chỉnh.

* Nhưng rõ ràng thời gian qua chúng ta chủ ý không tạo môi trường cho XHDS phát triển?

– Việc chúng ta ít tạo môi trường cho XHDS phát triển có nhiều lý do, có thể do nguồn gốc lịch sử, chính quyền cho rằng với các đoàn thể hiện nay là đủ rồi. Rồi chính quyền làm luôn đại biểu của nhân dân. Điển hình cho việc ít tạo môi trường cho XHDS phát triển là việc chín năm rồi chúng ta chưa ra được luật về hội. Bây giờ vẫn còn đang tranh luận xem quyền lập hội đến đâu, có phụ thuộc vào bộ chủ quản hay không… Tóm lại, tôi cho rằng không nên cực đoan hiểu XHDS là đối lập với chính quyền, hoặc chính quyền có thể bao trùm hết mọi việc của người dân cho nên không cần XHDS. Có thể nói XHDS và chính quyền là bổ sung cho nhau.

* Thưa ông, khi triển khai nghiên cứu vấn đề này, VIDS có gặp phải sự phản đối nào không?

– Năm 2002 CIVICUS vào VN phối hợp cùng UNDP tìm đối tác nghiên cứu về XHDS nhưng sau gần hai năm vẫn không có đơn vị nào nhận, bởi lúc đó khái niệm XHDS được xem là nhạy cảm. Sau đó VIDS thành lập và chúng tôi thấy cần phải nghiên cứu vấn đề này một cách nghiêm túc, khách quan, không định kiến và không bị lợi dụng.

Đến nay, chúng tôi khuyến nghị cần tiếp tục nghiên cứu về các vấn đề liên quan tới XHDS tại VN một cách đầy đủ, sâu sắc hơn để khai thác các mặt tích cực. Chúng tôi cũng khuyến nghị cần có cơ chế thúc đẩy XHDS để đóng góp tích cực hơn vào sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Quá trình nghiên cứu cho thấy kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, XHDS ở VN đã trải qua những biến đổi cơ bản và dần dần gia tăng về sức mạnh và tổ chức từ nửa đầu thập niên 1990. Các tổ chức quần chúng đã mở rộng hoạt động, đặc biệt là ở vùng nông thôn.

Các tổ chức mới đã xuất hiện dưới hình thức phi chính phủ và nhóm cộng đồng. Có nhiều ý tưởng mới đã được áp dụng, đặc biệt là thông qua các tổ chức phi chính phủ VN và tinh thần tự thân vận động đã được mở rộng thông qua các tổ chức cộng đồng.

Một trong những phẩm chất của các tổ chức XHDS là khả năng thực hiện các chính sách xã hội của họ đối với người nghèo và nhóm người kém vị thế trong khi các chương trình của Chính phủ không thể nào kham nổi. Sức mạnh của các tổ chức XHDS là tính chuyên môn hóa và đưa ra được những ý tưởng và phương thức mới mẻ.

Tuy nhiên, cho dù XHDS đang đóng vai trò tích cực và sáng tạo hơn nhưng những tác động còn tương đối hạn chế. Nói chung, có những xu thế hạn chế trong các chức năng giám sát của các tổ chức XHDS.

KHIẾT HƯNG thực hiện

  ***

Quyền lập hội, cần một góc nhìn đúng và cách tiếp cận khác

Nguyễn Tiến Lập (*) Thứ Bảy,  29/10/2016, 14:43 
Hội sinh ra để giúp đỡ và hỗ trợ; đồng thời, với mọi sự nhiệt tình và sáng tạo có thể có, nó mang sự trợ giúp đến tận những nơi và lĩnh vực mà các cơ quan chính quyền, với các khả năng và tiềm lực bị giới hạn, khó có thể đảm đương hết được. Trong ảnh: Một hoạt động về thư pháp. Ảnh: TUỆ DOANH

(TBKTSG) – Tại sao việc xây dựng và ban hành một luật về hội ở Việt Nam cho tới nay lại gặp nhiều khó khăn, kể từ năm 1957 với Sắc lệnh số 102/SL-L004 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban bố luật về quyền lập hội?

Góc nhìn từ vai trò của các tổ chức xã hội

Trong lịch sử nước ta, chưa bao giờ quyền lập hội của người dân không được thừa nhận và khẳng định trong Hiến pháp. Tuy nhiên, xét từ góc độ thực tế, trong suốt thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khi Nhà nước lãnh đạo và bao cấp toàn diện đời sống của người dân thì dường như đã không tồn tại cả điều kiện lẫn nhu cầu khách quan cho việc thực thi quyền lập hội. Bên cạnh đó, các định kiến về tư tưởng cũng góp một vai trò quan trọng. Chẳng hạn, vẫn có những suy nghĩ thành lập hội một cách tự do và tự nguyện không khác nào việc các cá nhân muốn liên kết và tập hợp lực lượng để tạo sức mạnh chính trị riêng, nhằm đi chệch hướng lãnh đạo của Nhà nước, hay gây sức ép, thách thức quyền lực với chính quyền nhân dân. Tuy nhiên, bản thân cuộc sống xã hội luôn luôn vận động một cách tự nhiên, phong phú và đa dạng hơn nhiều so với góc nhìn và năng lực bao quát của các nhà làm luật. Ngay trong lòng của chế độ bao cấp, các tổ chức tự nguyện phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của đời sống dân sự, từ hội đồng hương đến hội nuôi ong, hội chim cảnh, cá cảnh, vẫn cứ ra đời hoặc mặc nhiên tồn tại, cho dù không bao giờ được cấp phép hay đăng ký hoạt động. Cho đến những năm sau khi Đảng, Nhà nước thực hiện đổi mới và chuyển đổi cả xã hội sang nền kinh tế thị trường thì hàng trăm, hàng ngàn các hội tự nguyện của người dân đã được thành lập dưới nhiều hình thức khác nhau. Nhiều tổ chức mang tên không chính thức là tổ chức phi chính phủ (NGO), hoạt động dưới sự bảo trợ của các hội chính thống của Nhà nước. Các tổ chức này, tự chủ động hoặc cùng hợp tác với các tổ chức NGO nước ngoài được Nhà nước cấp phép hoạt động, đã có mặt ở khắp mọi miền đất nước, đặc biệt các vùng khó khăn, nơi cuộc sống của người dân và các cộng đồng yếu thế cần sự chia sẻ, hỗ trợ. Chức năng của các hội hay tổ chức xã hội đó chính là như vậy. Nó sinh ra để giúp đỡ và hỗ trợ; đồng thời, với mọi sự nhiệt tình và sáng tạo có thể có, nó mang sự trợ giúp đến tận những nơi và lĩnh vực mà các cơ quan chính quyền, với các khả năng và tiềm lực bị giới hạn, khó có thể đảm đương hết được.

Trong dự thảo luật về hội đang được thảo luận, nếu xem một điều, đó là ngăn cấm hội nhận tài trợ của nước ngoài, trong khi tiền của nước ngoài đầu tư vào Việt Nam lại được khuyến khích, đã có thể thấy sự bất hợp lý.

Mỹ là một quốc gia giàu có bậc nhất. Tuy thế, tại đó chính quyền cũng không thể giải quyết hết mọi vấn đề cấp thiết mà xã hội và người dân đòi hỏi. Năm 1981, một phụ nữ tên là Marcia Stein làm việc trong Cơ quan Bảo trợ xã hội của thành phố New York đã nhận ra rằng cơ quan của mình không thể chuyển các bữa ăn miễn phí cho các cụ già cô đơn vào các ngày nghỉ lễ. Trăn trở về điều ấy, cô đã có sáng kiến thành lập và trở thành giám đốc một tổ chức phi lợi nhuận có tên là Citimeals on Wheels để khắc phục sự khiếm khuyết này. Tự thân đi lên bằng con đường thiện nguyện, tổ chức đó đến hôm nay đã trở thành một mạng lưới rộng lớn hỗ trợ cung cấp dịch vụ xã hội thiết yếu của thành phố này, với trên 2 triệu suất ăn miễn phí được phát hàng năm cho khoảng 18.000 người già có nhu cầu, và một ngân sách được quyên góp xấp xỉ 20 triệu đô la Mỹ. Nước Mỹ cũng là một miền đất phải hứng chịu nhiều thiên tai hàng đầu trên thế giới. Mặc dù vậy, người Mỹ có thể vượt qua các thách thức của thiên nhiên một cách dễ dàng, phần lớn cũng bởi khả năng hỗ trợ, ứng cứu kịp thời và hiệu quả của 1,6 triệu tổ chức NGO và phi lợi nhuận trên khắp đất nước. Vậy thì phải chăng, ít nhất từ góc độ ứng phó và xử lý các vấn đề xã hội, chưa nói tới đáp ứng nhu cầu hưởng thụ các lợi ích và giá trị cá nhân của con người, trong điều kiện thực tế của nước ta hiện nay, chúng ta cần có một nhận thức mới về quyền lập hội nói chung và luật về hội nói riêng?

Nhận thức mới, cách tiếp cận khác

Đọc dự thảo Luật về Hội lần cuối, dư luận nói chung vẫn cho rằng còn khá nhiều quy định mang tính hạn chế, bao gồm các hàng rào quản lý nhà nước, hơn là biện pháp bảo đảm hay tạo điều kiện thực thi đối với quyền này. Chẳng hạn, cơ quan nhà nước can thiệp ngay vào việc xem xét mục tiêu, lĩnh vực hoạt động, phê duyệt nhân sự và điều lệ hội, hạn chế nguồn tài trợ, hay thậm chí là đặt các hội không qua thủ tục cấp phép và đăng ký ra khỏi phạm vi điều chỉnh của pháp luật… Câu hỏi là căn nguyên của xu hướng hạn chế hay kiểm soát chặt chẽ đó liệu có chính đáng và hợp lý hay không? Trước hết, một sự nhận thức hạn hẹp cho rằng hội có thể tham gia vào các hoạt động chính trị là không thích hợp, bởi như thực tiễn ở tất cả các nước, lập hội dân sự và lập đảng chính trị là hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau. Đồng thời, ngay trong Công ước của Liên hiệp quốc về các quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam là một thành viên cũng xác định đó là hai loại quyền công dân tách biệt. Hơn nữa, việc Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo chính trị duy nhất đã được Hiến pháp và thực tế khẳng định. Như thế, tâm lý e ngại việc lập hội tự do của người dân phải chăng chỉ còn là sự chưa dám dứt bỏ các thành kiến cũ? Hội, về bản chất là sự liên kết giữa của một cá nhân với người khác để cùng nhau hay phối hợp thực hiện các quyền dân sự của mình đã được pháp luật thừa nhận, với mục tiêu căn bản là hỗ trợ lẫn nhau hoặc hỗ trợ người khác, đặc biệt là các nhóm yếu thế, trong đời sống và sinh hoạt hàng ngày mà không cần đến sự bao cấp hay can thiệp của Nhà nước. Nói một cách khác, về cơ bản, hội chia sẻ trách nhiệm của chính Nhà nước trong nghĩa vụ bảo đảm xã hội cho người dân. Khái niệm hội theo nghĩa rộng bao hàm cả hội có mục đích kinh tế (ví dụ các hội doanh nghiệp) và các hội phi kinh tế và tổ chức phi lợi nhuận (ví dụ quỹ từ thiện, tổ chức phi chính phủ) bởi đơn giản hai phạm trù này luôn luôn là các mảng khác nhau của đời sống xã hội. Vậy, nếu không ủng hộ việc lập hội, phải chăng chúng ta không thừa nhận sự tồn tại của đời sống tự nhiên và bình thường? Ở một số nước, người ta coi việc lập hội là quyền tự do cơ bản, tương tự quyền tự do kinh doanh nên không dùng kiểm soát nhà nước để hạn chế. Tuy nhiên, nếu hội hay bất cứ tổ chức nào không tồn tại bằng nguồn tài chính của thành viên mà từ tài trợ của người khác thì bắt buộc phải tuân thủ luật về tổ chức phi lợi nhuận một cách rất nghiêm ngặt, nhằm chống lại mọi sự lạm dụng. Chẳng hạn, đó là nghĩa vụ phải báo cáo công khai và kiểm toán bắt buộc hay trách nhiệm phải chuyển giao tài sản của pháp nhân cho một hội hay tổ chức phi lợi nhuận khác có cùng mục tiêu một khi chấm dứt hoạt động. Nói một cách giản đơn, anh có quyền tự do làm những gì anh muốn nhưng không được xâm phạm quyền tự do của người khác, bao gồm cả sự lạm dụng lòng tốt của họ khi giúp đỡ, tài trợ cho anh. Chỉ cần áp dụng một nguyên lý đơn giản như vậy cho mục đích bảo đảm sự an toàn và an ninh xã hội. Trở lại dự thảo Luật về Hội đang được thảo luận, nếu xem một điều, đó là ngăn cấm hội nhận tài trợ của nước ngoài, trong khi tiền của nước ngoài đầu tư vào Việt Nam lại được khuyến khích, đã có thể thấy sự bất hợp lý. Vậy, phải chăng đã đến lúc chúng ta cần có góc nhìn đúng hơn và một cách tiếp cận khác về quyền lập hội?

(*) Luật sư Văn phòng NHQuang & Associates, Trọng tài viên VIAC

Bình luận về bài viết này