Chuỗi bài về Thuốc trừ sâu

Thứ năm, 16/7/2020, 02:00 (GMT+7) VNExpress

Vòng xoáy thuốc trừ sâu trên những cánh đồng

Năm 1956, thuốc bảo vệ thực vật gần như không tồn tại ở Việt Nam. Nửa đầu năm 2020, nước ta nhập khẩu thuốc trừ sâu nhiều hơn xăng.

Từ đầu năm 2020 cho đến ngày 15/6, Tổng cục Hải quan công bố Việt Nam đã nhập khẩu 308 triệu USD thuốc trừ sâu và nguyên liệu sản xuất mặt hàng này. Để so sánh, trong cùng kỳ, Việt Nam nhập 249 triệu USD tiền xăng.

Trong một báo cáo cách đây 3 năm, World Bank khẳng định có đến 50-60% nông dân trồng lúa đã sử dụng thuốc trừ sâu với tỷ lệ vượt quá mức đề nghị; 38 – 70% nông dân các tỉnh phía Nam đang sử dụng thuốc trừ sâu với tỷ lệ vượt quá mức khuyến cáo. Theo tổ chức này, khoảng 20% nông dân đang sử dụng thuốc trừ sâu vi phạm các quy định hiện hành, sử dụng thuốc trừ sâu bất hợp pháp nhập khẩu, cấm hoặc thậm chí giả mạo.

Giá trị nhập khẩu một số mặt hàng (triệu USD) từ đầu năm đến 15/6/2020. Nguồn: Tổng cục Hải quan.

Giá trị nhập khẩu một số mặt hàng (triệu USD) từ đầu năm đến 15/6/2020. Nguồn: Tổng cục Hải quan.

Giữa thập kỷ này, Tổng cục Môi trường khẳng định trên lãnh thổ Việt Nam “có hàng trăm điểm ô nhiễm tồn lưu do hóa chất bảo vệ thực vật”, và những điểm tồn lưu này có nguy cơ cao gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe cộng đồng.

Cho đến năm 1957, Việt Nam mới bắt đầu “học” cách sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp. Trong suốt ba mươi năm sau đó, việc sử dụng vẫn được các nhà khoa học đánh giá là “cân bằng”. Nhưng hai thập kỷ qua chứng kiến xu hướng lạm dụng; cũng như một cuộc vật lộn của nhà quản lý với thói quen của người nông dân.

Từ giải pháp đến sự lệ thuộc

Năm 1957, theo giáo trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của Học viện Nông nghiệp, “biện pháp hoá học hầu như không có vị trí trong sản xuất nông nghiệp”.

Vụ đông xuân 1956-1957, dịch sâu gai, sâu cuốn lá lớn bùng phát ở Hưng Yên. Miền Bắc mất mùa. Sản lượng thóc trên đầu người tụt xuống còn 286 kg so với 304 kg vào năm 1956. Lần đầu tiên trên ruộng đồng miền Bắc Việt Nam, 100 tấn thuốc bảo vệ thực vật được dùng để diệt sâu bọ.

Nông dân xã Tam Hiệp (Châu Thành, Tiền Giang) phun thuốc diệt rầy nâu năm 1978. Ảnh tư liệu: Trần Biểu.

Nông dân xã Tam Hiệp (Châu Thành, Tiền Giang) phun thuốc diệt rầy nâu năm 1978. Ảnh tư liệu: Trần Biểu.

Ông Trương Quốc Tùng, Phó chủ tịch thường trực Hội Khoa học kỹ thuật Bảo vệ thực vật Việt Nam gọi những năm 1957 đến trước 1990 là giai đoạn cân bằng, khi thuốc bảo vệ thực vật là thứ quyết định dập tắt các dịch sâu bệnh trên diện rộng. “Nếu không có thuốc, dịch hại cây trồng có thể làm giảm 40-60% năng suất trên diện rộng, cục bộ có thể mất trắng”, ông đánh giá.

Việt Nam trước những năm Đổi mới chưa từng sử dụng quá 9.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật mỗi năm, tương đương với mỗi ha chỉ dùng 0,3 kg. Kinh tế bao cấp chuyển sang thị trường, mạng lưới phân phối mặt hàng này rộng khắp nước, trao chai thuốc trừ sâu, gói thuốc diệt cỏ đến tận tay nông dân.

Mở cửa kinh tế, dỡ bở cấm vận và cánh cửa xuất khẩu mở tung cho thị trường nông sản đã thay đổi cục diện nông nghiệp. Từ 2000 đến 2010, lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng đã tăng từ 36.000 đến 75.800 tấn, gấp 2,5 lần so với mười năm trước đó. Số loại thuốc đăng ký sử dụng tăng 4,5 lần và giá trị thuốc nhập khẩu tăng 3,5 lần.

Mê Linh là một ví dụ của cuộc chuyển mình trong kinh tế nông nghiệp. Những năm 1990, người Mê Linh chuyển từ trồng lúa sang làm hoa. Sáng sớm hoặc chiều mát, những cơn gió thổi vào làng luôn mang theo thứ mùi hăng hắc, khi nông dân ra đồng “đánh” thuốc.

Ông Bảy khi ấy mới lấy vợ, phân nhà ở riêng. Vợ chồng được chia 22 thước đất, đổ vốn vào trồng hoa. Cây lúa lui dần về những mảnh đầm trũng rìa làng, nhường chân ruộng màu mỡ cho loài hoa thống trị nhà vườn Bắc Bộ những năm 1990, hoa hồng và hoa cúc.

“Rét 10 độ C, chỉ cần dùng tăm bông chấm một tí, bông hoa thâm sì qua một đêm lại tươi rói”, ông nhớ dùng loại thuốc ấy, chuột cũng không dám bén mảng đến chân ruộng.

Gần ba chục năm trồng hoa, ông Bảy luôn tự hào, nông dân quê mình hơn hẳn nơi khác về trình độ lẫn tay nghề. Một trong những bài học họ rút ra cho mình, là “trồng hoa, một ngày không phun thuốc sâu là mất ăn”.

Hồng là loại hoa có diện tích trồng nhiều nhất, ngốn thuốc bảo vệ thực vật nhất ở vùng hoa Mê Linh. Ảnh: Giang Huy.

Hồng là loại hoa có diện tích trồng nhiều nhất ở vùng hoa Mê Linh. Ảnh: Giang Huy.

Theo thống kê của Trạm bảo vệ thực vật huyện Mê Linh, mỗi năm xã Mê Linh sử dụng bình quân 9,2 tấn thuốc bảo vệ thực vật, riêng lượng thuốc dùng trên 206 ha hoa hồng hơn 8,2 tấn, tức khoảng 40 kg/ha/năm, cao gấp 4 lần mức trung bình toàn quốc.

Năm 2019, toàn huyện chiếm 1/6 lượng thuốc sử dụng của thành phố. “Mê Linh là một trong những huyện dùng thuốc bảo vệ thực vật nằm trong top của Hà Nội, do diện tích trồng hoa, rau màu lớn”, lãnh đạo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Nội đánh giá.

Trong một báo cáo của Tổ chức các quốc gia phát triển OECD năm 2015, cụm từ “sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu” được nhắc 4 lần để mô tả ngành nông nghiệp Việt Nam.

Cũng năm này, Bộ Y tế ước tính, cả nước có trên 11 triệu người thường xuyên tiếp xúc với hóa chất trừ sâu và số người nhiễm độc mạn tính ước khoảng 2,1 triệu người, chưa kể người tiêu dùng.

Cuộc chạy trốn chưa thành

Trên thực tế, lượng thuốc trừ sâu nhập khẩu (chính ngạch) của Việt Nam đang trong đà giảm hơn 3 năm qua. Năm 2017, nước ta nhập tới gần 1 tỷ USD thuốc trừ sâu và nguyên liệu, chủ yếu từ Trung Quốc. Con số này đến năm 2019 “chỉ” còn 864 triệu USD.

Thập kỷ qua chứng kiến sự tuyên chiến mạnh mẽ của cơ quan quản lý với các loại hóa chất nông nghiệp có nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe và môi trường. Năm 2010, Luật An toàn thực phẩm được Quốc hội Việt Nam ban hành, kéo theo sự thay đổi trong quản lý đăng ký danh mục hóa chất bảo vệ thực vật sử dụng trong nông nghiệp.

Từ 2010 đến 2015, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn loại bỏ 14 hoạt chất, 1.706 sản phẩm có bằng chứng khoa học gây hại đến sức khỏe cộng đồng và môi trường. “Việt Nam là nước có bộ thuốc bảo vệ thực vật an toàn nhất khu vực Đông Nam Á hiện nay”, ông Huỳnh Tấn Đạt, Trưởng phòng Quản lý thuốc bảo vệ thực vật (Cục bảo vệ thực vật) khẳng định.

Tuy nhiên, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, trong một hội thảo năm 2018, vẫn khẳng định “còn bất cập lớn là sự lạm dụng gây độc hại cho chính người sản xuất, cộng đồng, giảm sự cạnh tranh sản phẩm, giảm sinh thái môi trường, gây thoái hóa đất đai”.

Nông dân Tây Tựu phun thuốc trên ruộng hoa hồng. Ảnh: Thanh Huế.

Nông dân Tây Tựu phun thuốc trên ruộng hoa hồng. Ảnh: Thanh Huế.

Những nông dân Hà Nội nhận ra chất lượng đất suy giảm từ khoảng chục năm nay. “Đất cứ tái đi, cháy một lượt vàng khè ở trên, từ nâu chuyển sang vàng, không tơi”, bà Phan Thị Hòe ở Mê Linh hoang mang. Đất đóng đanh vào, chắc nịch, nước chảy đến đâu trôi đến đấy, ráo nước là đất cũng khô cong.

Vụ hoa đông xuân 2011, hồng trên hơn một mẫu ruộng bà Hòe không cho hoa, cây còi rỉn, lác đác bông bé bằng đầu ngón tay, dù bà vẫn giữ nguyên lộ trình 5 năm thay cây giống và đánh thuốc đều đặn đôi ngày một lần.”Đất nhiễm độc vì phun thuốc lâu năm”, bà Hòe tự kết luận. Đã đến lúc phải “thay đất mới”.

Bà đầu tư 20 triệu đồng mua đất phù sa sông Hồng đổ vào bốn sào ruộng, hoa vụ đấy lại lên tốt ngùn ngụt. Nhưng thuốc sâu là thứ chẳng thể đừng, muốn hoa đẹp thì vẫn phải bơm. Mẻ đất “phù sa sông Hồng loại một” giá 600 nghìn một xe, cũng chỉ cầm cự được 5 năm. Mùa xuân năm nay, ông Hòe rục rịch tìm người đổ chục xe đất mới để thay.

Ở Mê Linh, khi những thớ đất ngậm hóa chất suốt 30 năm không còn nuôi nổi búp hoa, nông dân sẽ có hai cách để “thay đất mới”.

Những hộ canh tác lẻ tẻ, vốn ít như bà Hòe mua đất phù sa, đổ chồng lên lớp đất cằn. Cách thứ hai, dành cho người có vốn, là rũ bỏ hẳn mảnh ruộng cằn, đi thuê đất thật xa. Họ tới những nơi mà đất còn màu mỡ và chưa bị hóa chất tác động nhiều.

Cảm quan “đất nhiễm độc” không phải của riêng bà Hòe. World Bank, trong báo cáo về ô nhiễm nông nghiệp tại Việt Nam (2017) chỉ ra những ví dụ về những vùng thâm canh lúa tại Đồng bằng Sông Cửu Long “đã trở thành vùng chết, không còn ốc sên, ếch, cá, chuột và các sinh vật khác từng sống ở đó”.

Nhưng tổ chức này cũng đánh giá một trong những khó khăn lớn nhất của nhà quản lý Việt Nam là đối mặt với tập quán của nông hộ: “Mặc dù, những hộ nông dân nhỏ đóng góp đáng kể cho ô nhiễm môi trường nông nghiệp, nhưng hoạt động của họ, như đã nêu, hầu như là không thể giám sát được”.

Những nông dân thà thay đất chứ chưa thay tập quán canh tác. Trong danh mục 4.000 sản phẩm, thuốc sinh học chiếm chưa đầy 19%. Các chất hóa học trong danh mục cấm vẫn có thể được dễ dàng tìm mua trên Internet, hay giao dịch âm thầm giữa các tiểu thương. Hải quan vẫn liên tục bắt các lô thuốc nhập lậu trị giá hàng tỷ đồng.

Ở Mê Linh bây giờ, trên cánh đồng, xen giữa màu cúc, màu hồng là một vài khoanh ruộng trồng cải, trồng bí, dưa leo, những loại cần ít thuốc trừ sâu hơn hoa để cho đất nghỉ, với hy vọng vài năm nữa sẽ “hồi sinh” để quay lại với một vòng đời hoa mới.

Bà Hòe thấy sâu bệnh cứ nhiều thêm sau mỗi vụ hoa, và tiếc nhớ những ngày xưa “bỏ bẵng nửa tháng không đánh thuốc, hoa vẫn nở bừng”. Biện pháp duy nhất bây giờ mà người trồng hoa như bà nghĩ đến, là đánh thêm nhiều thuốc.

Thanh Lam – Hoàng Phương

* Đón đọc bài 2: Những nông dân lệ thuộc vào hóa chất

Thứ sáu, 17/7/2020, 00:00 (GMT+7) VNExpress

Những nông dân lệ thuộc vào hóa chất

Bà Thêu cầm trên tay chai thuốc diệt cỏ chứa paraquat, loại hóa chất đã bị cấm sử dụng: “Tôi không cần biết loại gì, hết cỏ là được”.

Chai thuốc của bà Thêu giá 25.000 đồng, ghi dòng chữ nhòe nhoẹt sai chính tả, “Thuốc trừ cỏ không trọn lọc”, trên nhãn ghi thành phần paraquat dichloride 210g/l, hoạt chất cực độc đã bị Việt Nam cấm buôn bán và sử dụng trong nông nghiệp từ năm 2017.

Một trong những chai thuốc diệt cỏ bà Thêu dùng, trên nhãn ghi có chứa Paraquat, hoạt chất cực độc đã bị cấm dùng tại Việt Nam. Ảnh: Thanh Huế.

Một trong những chai thuốc diệt cỏ bà Thêu dùng, trên nhãn ghi có chứa Paraquat, hoạt chất cực độc đã bị cấm dùng tại Việt Nam. Ảnh: Thanh Huế.

Người nông dân Tây Tựu, Bắc Từ Liêm có khoảng nửa sào Bắc Bộ trồng rau xà lách. Vợ chồng bà trước cũng thuê 8 sào ở xã bên để trồng hoa. Nhưng mùa đông 2015, ông Hữu đang phun thuốc cho hoa đồng tiền thì ngã ra ruộng, “thấy bác sĩ bảo bị tiền đình”. Từ đấy chân tay ông lúc nào cũng run rẩy, tháng lên khoa thần kinh của Bệnh viện Bạch Mai nằm đôi lần. Bà Thêu trả lại 8 sào ruộng thuê vì không còn người phun thuốc sâu.

“Trồng hồng trồng cúc, đôi ngày không bơm là mất ăn”, bà Thêu rút ra kết luận về đời trồng hoa. Bà quay lại trồng rau. Nhưng vẫn không thể rời được những chai thuốc bảo vệ thực vật mà bà “không biết là loại gì”, chỉ phân biệt qua giá tiền và màu sắc.

Một sáng cuối tháng 5/2020, bà Thêu gói hai lọ “diệt cỏ 25 nghìn” và một lọ “diệt cỏ 65 nghìn” vào túi nylon cùng hai chai nước uống, vác bình phun ra đồng. Con gái lớn của bà có 2 hecta đất trồng hoa ly, đưa mẹ 3 chai thuốc và dặn: “Loại siêu cỏ cháy này đa năng, diệt cỏ gì cũng chết”.

Thị trường thuốc độc

Paraquat là một đại diện cho tiêu chuẩn kiểu Trung Quốc: nước này cấm hoàn toàn việc sử dụng paraquat trong nội địa từ năm 2012, nhưng vẫn cho phép sản xuất để xuất khẩu. Hiện nay, họ cung cấp 80% nhu cầu toàn thế giới về paraquat.

Việc tiếp xúc với paraquat được nghiên cứu ở nhiều nước, trong đó có Viện sức khỏe Hoa Kỳ, khẳng định có liên hệ với bệnh Parkinson. Khi uống trực tiếp, nó là một loại thuốc độc nổi tiếng. Trong các thập kỷ trước, từ Nhật Bản đến Việt Nam, uống paraquat là biện pháp tự tử phổ biến. Thậm chí, Hàn Quốc thống kê tỷ lệ tự tử ở nước này đã giảm 10% sau khi họ cấm paraquat vào năm 2011.

Trong suốt nhiều thập niên, những nông dân Việt Nam đã lệ thuộc vào hóa chất diệt cỏ trứ danh này để duy trì sinh kế. Việt Nam loại paraquat ra khỏi danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng từ năm 2017. Nhưng những người như bà Thêu không biết lệnh cấm mới này: bà chưa bao giờ quan tâm “hoạt chất” bên trong chai thuốc là gì – mà phân biệt chúng bằng khả năng diệt cỏ.

Bà Thêu làm đất, trừ cỏ trước khi trồng vụ xà lách mới. Ảnh: Thanh Huế.

Bà Thêu làm đất, trừ cỏ trước khi trồng vụ xà lách mới. Ảnh: Thanh Huế.

Chai thuốc của bà Thêu được sản xuất tại Trung Quốc, đóng gói, đặt tên “thương hiệu” bởi một công ty tại Long An và không khó để tìm thấy trên một trong những trang thương mại điện tử lớn nhất Việt Nam, mục “Đồ dùng làm vườn”. Lần ngược về thông tin các nhà sản xuất tại Trung Quốc, dễ dàng thấy những đoạn giới thiệu tự hào về việc “sản xuất PARAQUAT bằng công nghệ mới, với sản lượng 3000 mét khối mỗi năm” (trích giới thiệu của công ty Hóa chất Hesenta Quảng Châu).

Trên thân chai “diệt cỏ 25 nghìn” ghi hướng dẫn sử dụng “Cỏ thấp hơn 20 cm: pha 125 ml/bình 20- 25 lít nước, phun 2 bình cho 1.000 m2”. Với 1,7 sào, tương đương 600 m2, trên lý thuyết bà Thêu chỉ cần pha 1 chai, phun 1 bình. Nhưng để “ăn chắc” cỏ không mọc như thửa ruộng hàng xóm, bà phun hết cả 3 chai.

Có dạo, hợp tác xã tặng cho bà vài gói thuốc cỏ sinh học. “Không biết tốt cho sức khỏe không, nhưng “không nhạy” bằng cái loại tôi đang dùng”, bà kết luận. Mấy gói thuốc được tặng giờ vẫn nằm xó bếp sau năm sáu vụ rau. Bà Thêu không có ý định dùng lại.

Cách Tây Tựu gần 2.000 km, lão nông 50 tuổi, Phan Biền đứng giữa ruộng rau thơm trên cù lao dọc sông Hậu. Nếm sương đọng trên lá thấy mằn mặn do sương muối, ông lắp máy bơm tưới nước khắp ruộng. Hai công đất rộng 2.000 m2 ông thuê của người Chăm với giá 5 triệu đồng mỗi năm, ở xã Khánh Hòa, (huyện Châu Phú), đất chuyên canh rau màu và cây ăn quả của An Giang.

Ông lôi từ vách chòi một bọc lổm cổm chai lọ, gói thuốc trừ sâu, phân bón, rồi chọn lấy hai món. Một lọ lão gọi là “đầu trâu”, trên nhãn ghi chứa Paraquat, chất cấm tương tự lọ thuốc bà Thêu dùng. Lão nông mua chai thuốc giá 100.000 đồng nửa lít. Chai xanh nắp đỏ còn lại, ông Biền chả nhớ tên, nhãn ghi chứa glyphosate, cũng nằm trong danh mục hoạt chất cấm.

Ông tin rằng nếu rau trên rẫy nhà mình đem đi đo lường thế nào cũng bị nói là nhiễm chất độc bởi xịt thuốc, hóa chất quá nhiều.”Cây rau mình bị bệnh gì thì cầm nó ra ngoài tiệm thuốc hỏi, người ta sẽ chỉ cho, chứ mình đâu biết thuốc gì đâu, xịt nhiều loại lắm”, nông dân có nhu cầu, đại lý sẽ đưa cho loại mạnh nhất, có hiệu quả lần sau còn đến mua. Còn các loại thuốc cấm, đại lý chỉ bán cho người quen. Nông dân như ông Biền không mấy bận tâm đến chai thuốc hiệu gì. Họ gọi nó bằng những tên phổ biến, “lô găng”, “mãnh hổ”, thuốc tăng trưởng “trái cà”.

Rau ăn lá có vòng đời một tháng, rau thơm tháng rưỡi. Nhưng ông Biền than, rau ăn lá giá “bèo”, nhiều sâu bệnh hại. Hành lá là loại khó trồng nhất, chuyên bị sâu xanh da láng, bệnh “mắt én”, dễ đốm, đục lỗ toàn thân.

Từ lúc trồng đến khi nhổ khoảng 40-50 ngày, ông Biền phải xịt trên dưới mười cữ, tức là cứ 4 ngày một lần. Tuần rồi, chỉ trong vòng bảy ngày, ông đã phải vác bình phun ra ruộng ba lần. Ông bảo, muốn biết thuốc có độc mạnh hay không, chỉ cần chấm đầu ngón tay vào thuốc rồi nếm thử, càng mặn thì thuốc càng mạnh.

Chai thuốc mà ông Biền sử dụng cũng có chứa hoạt chất cấm Paraquat. Ảnh: Thu Ngân.

Chai thuốc mà ông Biền sử dụng trên nhãn có ghi hoạt chất cấm paraquat. Ảnh: Thu Ngân.

“Không dùng mới chết”

Thi thoảng, ông Biền tham gia lớp tập huấn ở địa phương. Trong lớp học, người ta khuyên dùng thuốc sinh học. “Nhưng giá thành cao, tác dụng chậm, sâu ăn hết lá thì mới chết”, ông lắc đầu.

Bà Nga, vợ ông cùng người làm công ngồi cắt, bó rau kịp giao cho thương lái. Trúng vụ hành lá, ông lời được 8 triệu, cải xanh 5 triệu. Xui thì còn một nửa, có khi lỗ vốn, lấy cái này bù cái kia để mua giống, thuốc sâu, phân bón, tiếp tục vòng quay làm rau, năm này qua năm khác.

Mười năm trồng rau trên cù lao Khánh Hòa, dọc bờ Nam sông Hậu, ông Biền không còn trông thấy bóng dáng cánh cam, muồm muỗm, ễnh ương. Ông tin rằng, phun thuốc như thế thì sâu chết, mà các loài thiên địch của sâu cũng không sống nổi. “Đất ở đây cũng ô nhiễm hết, vì sử dụng thuốc bảo vệ thực vật triền miên”, lão nông tự nhìn nhận.

Ba ngày sau phun bình thuốc cuối cùng, ông Biền cắt rau bán cho thương lái. Họ xuất đi đâu ông không biết, cũng chưa bao giờ quan tâm. Mỗi tháng, hai công ruộng xuất khoảng 5 tấn rau. Rau từ ruộng ông Biền sẽ theo xe thương lái về chợ Châu Long, đến mâm cơm nhiều gia đình ở TP Châu Đốc. Một phần xuống Cần Thơ hoặc sang Campuchia. Quá nửa số còn lại lên Sài Gòn, đổ về chợ Bà Chiểu, quận Bình Thạnh.

Ở TP HCM, số lượng rau được trồng tại các huyện Củ Chi, Hóc Môn, quận 12… chỉ đáp ứng khoảng 20-40% sản lượng tiêu thụ của 9 triệu cư dân thành phố. Số còn lại phải nhập từ ngoại tỉnh, như Lâm Đồng, An Giang…

Tổng quan về ô nhiễm nông nghiệp ở Việt Nam do Ngân hàng Thế giới (World Bank) thực hiện năm 2017 thống kê, khoảng 20% nông dân đang sử dụng thuốc trừ sâu vi phạm các quy định hiện hành, sử dụng thuốc trừ sâu bất hợp pháp nhập khẩu, cấm hoặc thậm chí giả mạo.

Khảo sát còn cho thấy một vấn đề khác trong thói quen của người nông dân, khi bao bì đựng thuốc hóa học sau khi sử dụng được thải ngay tại chỗ, cùng với các hóa chất còn sót lại, trực tiếp vào cánh đồng, kênh rạch và suối. Năm 2013, chỉ có 17% nông dân được hỏi cho biết họ có thu thập bao bì thuốc để chôn hoặc tái chế.

Ông Huỳnh Tấn Đạt, Trưởng phòng Quản lý thuốc bảo vệ thực vật, Cục Bảo vệ thực vật nhận định “chuyện người dân lưu trữ chất cấm trong nhà và sử dụng trái phép rất khó quản lý, vì khi đó đã là tài sản cá nhân. Về luật, không được bán trên thị trường, nếu vẫn còn tình trạng sử dụng thuốc cấm thì hoàn toàn do nhận thức của người dân”.

Bà Lưu Thị Hằng, Trưởng phòng thanh tra pháp chế, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Nội cho rằng: “Phạt người sử dụng chỉ là phần ngọn, để giải quyết gốc rễ vấn đề thuốc bảo vệ thực vật nhập lậu phải phụ thuộc vào nhiều cơ quan chức năng và đặc biệt là ý thức của người dân”.

Các quan sát viên của World Bank nhận định rằng một trong những vấn đề của việc quản lý thuốc trừ sâu, là chính các nông hộ nhỏ “đôi khi thiếu năng lực về tài chính, không gian vật lý hoặc kỹ năng và chuyên môn để áp dụng các công nghệ hoặc thực tiễn nhất định và đáp ứng các tiêu chuẩn nhất định”.

Tổ chức này khuyến nghị chính phủ Việt Nam sử dụng thêm “củ cà rốt” bên cạnh “cây gậy”. Đó có thể là cách khuyến khích kinh tế, các phương pháp trồng trọt mới giúp giảm chi phí, giảm ô nhiễm nhưng không giảm năng suất – thứ mà những người như ông Biền hay bà Thêu chưa biết, hoặc chưa thể hiểu.

Trong căn chòi dựng tạm cạnh vườn rau, ông Biền đung đưa võng nghỉ ngơi. Đôi bàn chân người đàn ông quen gắn bó với ruộng đồng to bè, móng két đầy phèn. Gương mặt ông sạm đen và đờ đẫn. Mười mấy năm ông Biền đã quen mùi phân bón, thuốc sâu giờ vẫn hay nhức đầu, chóng mặt sau mỗi lần xịt thuốc.

*Tên nhân vật đã được thay đổi.

Phương Lam – Thu Ngân

Thứ năm, 16/7/2020, 02:00 (GMT+7) VNExpress

Vòng xoáy thuốc trừ sâu trên những cánh đồng

Năm 1956, thuốc bảo vệ thực vật gần như không tồn tại ở Việt Nam. Nửa đầu năm 2020, nước ta nhập khẩu thuốc trừ sâu nhiều hơn xăng.

Từ đầu năm 2020 cho đến ngày 15/6, Tổng cục Hải quan công bố Việt Nam đã nhập khẩu 308 triệu USD thuốc trừ sâu và nguyên liệu sản xuất mặt hàng này. Để so sánh, trong cùng kỳ, Việt Nam nhập 249 triệu USD tiền xăng.

Trong một báo cáo cách đây 3 năm, World Bank khẳng định có đến 50-60% nông dân trồng lúa đã sử dụng thuốc trừ sâu với tỷ lệ vượt quá mức đề nghị; 38 – 70% nông dân các tỉnh phía Nam đang sử dụng thuốc trừ sâu với tỷ lệ vượt quá mức khuyến cáo. Theo tổ chức này, khoảng 20% nông dân đang sử dụng thuốc trừ sâu vi phạm các quy định hiện hành, sử dụng thuốc trừ sâu bất hợp pháp nhập khẩu, cấm hoặc thậm chí giả mạo.

Giá trị nhập khẩu một số mặt hàng (triệu USD) từ đầu năm đến 15/6/2020. Nguồn: Tổng cục Hải quan.

Giá trị nhập khẩu một số mặt hàng (triệu USD) từ đầu năm đến 15/6/2020. Nguồn: Tổng cục Hải quan.

Giữa thập kỷ này, Tổng cục Môi trường khẳng định trên lãnh thổ Việt Nam “có hàng trăm điểm ô nhiễm tồn lưu do hóa chất bảo vệ thực vật”, và những điểm tồn lưu này có nguy cơ cao gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe cộng đồng.

Cho đến năm 1957, Việt Nam mới bắt đầu “học” cách sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp. Trong suốt ba mươi năm sau đó, việc sử dụng vẫn được các nhà khoa học đánh giá là “cân bằng”. Nhưng hai thập kỷ qua chứng kiến xu hướng lạm dụng; cũng như một cuộc vật lộn của nhà quản lý với thói quen của người nông dân.

Từ giải pháp đến sự lệ thuộc

Năm 1957, theo giáo trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của Học viện Nông nghiệp, “biện pháp hoá học hầu như không có vị trí trong sản xuất nông nghiệp”.

Vụ đông xuân 1956-1957, dịch sâu gai, sâu cuốn lá lớn bùng phát ở Hưng Yên. Miền Bắc mất mùa. Sản lượng thóc trên đầu người tụt xuống còn 286 kg so với 304 kg vào năm 1956. Lần đầu tiên trên ruộng đồng miền Bắc Việt Nam, 100 tấn thuốc bảo vệ thực vật được dùng để diệt sâu bọ.

Nông dân xã Tam Hiệp (Châu Thành, Tiền Giang) phun thuốc diệt rầy nâu năm 1978. Ảnh tư liệu: Trần Biểu.

Nông dân xã Tam Hiệp (Châu Thành, Tiền Giang) phun thuốc diệt rầy nâu năm 1978. Ảnh tư liệu: Trần Biểu.

Ông Trương Quốc Tùng, Phó chủ tịch thường trực Hội Khoa học kỹ thuật Bảo vệ thực vật Việt Nam gọi những năm 1957 đến trước 1990 là giai đoạn cân bằng, khi thuốc bảo vệ thực vật là thứ quyết định dập tắt các dịch sâu bệnh trên diện rộng. “Nếu không có thuốc, dịch hại cây trồng có thể làm giảm 40-60% năng suất trên diện rộng, cục bộ có thể mất trắng”, ông đánh giá.

Việt Nam trước những năm Đổi mới chưa từng sử dụng quá 9.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật mỗi năm, tương đương với mỗi ha chỉ dùng 0,3 kg. Kinh tế bao cấp chuyển sang thị trường, mạng lưới phân phối mặt hàng này rộng khắp nước, trao chai thuốc trừ sâu, gói thuốc diệt cỏ đến tận tay nông dân.

Mở cửa kinh tế, dỡ bở cấm vận và cánh cửa xuất khẩu mở tung cho thị trường nông sản đã thay đổi cục diện nông nghiệp. Từ 2000 đến 2010, lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng đã tăng từ 36.000 đến 75.800 tấn, gấp 2,5 lần so với mười năm trước đó. Số loại thuốc đăng ký sử dụng tăng 4,5 lần và giá trị thuốc nhập khẩu tăng 3,5 lần.

Mê Linh là một ví dụ của cuộc chuyển mình trong kinh tế nông nghiệp. Những năm 1990, người Mê Linh chuyển từ trồng lúa sang làm hoa. Sáng sớm hoặc chiều mát, những cơn gió thổi vào làng luôn mang theo thứ mùi hăng hắc, khi nông dân ra đồng “đánh” thuốc.

Ông Bảy khi ấy mới lấy vợ, phân nhà ở riêng. Vợ chồng được chia 22 thước đất, đổ vốn vào trồng hoa. Cây lúa lui dần về những mảnh đầm trũng rìa làng, nhường chân ruộng màu mỡ cho loài hoa thống trị nhà vườn Bắc Bộ những năm 1990, hoa hồng và hoa cúc.

“Rét 10 độ C, chỉ cần dùng tăm bông chấm một tí, bông hoa thâm sì qua một đêm lại tươi rói”, ông nhớ dùng loại thuốc ấy, chuột cũng không dám bén mảng đến chân ruộng.

Gần ba chục năm trồng hoa, ông Bảy luôn tự hào, nông dân quê mình hơn hẳn nơi khác về trình độ lẫn tay nghề. Một trong những bài học họ rút ra cho mình, là “trồng hoa, một ngày không phun thuốc sâu là mất ăn”.

Hồng là loại hoa có diện tích trồng nhiều nhất, ngốn thuốc bảo vệ thực vật nhất ở vùng hoa Mê Linh. Ảnh: Giang Huy.

Hồng là loại hoa có diện tích trồng nhiều nhất ở vùng hoa Mê Linh. Ảnh: Giang Huy.

Theo thống kê của Trạm bảo vệ thực vật huyện Mê Linh, mỗi năm xã Mê Linh sử dụng bình quân 9,2 tấn thuốc bảo vệ thực vật, riêng lượng thuốc dùng trên 206 ha hoa hồng hơn 8,2 tấn, tức khoảng 40 kg/ha/năm, cao gấp 4 lần mức trung bình toàn quốc.

Năm 2019, toàn huyện chiếm 1/6 lượng thuốc sử dụng của thành phố. “Mê Linh là một trong những huyện dùng thuốc bảo vệ thực vật nằm trong top của Hà Nội, do diện tích trồng hoa, rau màu lớn”, lãnh đạo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Nội đánh giá.

Trong một báo cáo của Tổ chức các quốc gia phát triển OECD năm 2015, cụm từ “sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu” được nhắc 4 lần để mô tả ngành nông nghiệp Việt Nam.

Cũng năm này, Bộ Y tế ước tính, cả nước có trên 11 triệu người thường xuyên tiếp xúc với hóa chất trừ sâu và số người nhiễm độc mạn tính ước khoảng 2,1 triệu người, chưa kể người tiêu dùng.

Cuộc chạy trốn chưa thành

Trên thực tế, lượng thuốc trừ sâu nhập khẩu (chính ngạch) của Việt Nam đang trong đà giảm hơn 3 năm qua. Năm 2017, nước ta nhập tới gần 1 tỷ USD thuốc trừ sâu và nguyên liệu, chủ yếu từ Trung Quốc. Con số này đến năm 2019 “chỉ” còn 864 triệu USD.

Thập kỷ qua chứng kiến sự tuyên chiến mạnh mẽ của cơ quan quản lý với các loại hóa chất nông nghiệp có nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe và môi trường. Năm 2010, Luật An toàn thực phẩm được Quốc hội Việt Nam ban hành, kéo theo sự thay đổi trong quản lý đăng ký danh mục hóa chất bảo vệ thực vật sử dụng trong nông nghiệp.

Từ 2010 đến 2015, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn loại bỏ 14 hoạt chất, 1.706 sản phẩm có bằng chứng khoa học gây hại đến sức khỏe cộng đồng và môi trường. “Việt Nam là nước có bộ thuốc bảo vệ thực vật an toàn nhất khu vực Đông Nam Á hiện nay”, ông Huỳnh Tấn Đạt, Trưởng phòng Quản lý thuốc bảo vệ thực vật (Cục bảo vệ thực vật) khẳng định.

Tuy nhiên, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, trong một hội thảo năm 2018, vẫn khẳng định “còn bất cập lớn là sự lạm dụng gây độc hại cho chính người sản xuất, cộng đồng, giảm sự cạnh tranh sản phẩm, giảm sinh thái môi trường, gây thoái hóa đất đai”.

Nông dân Tây Tựu phun thuốc trên ruộng hoa hồng. Ảnh: Thanh Huế.

Nông dân Tây Tựu phun thuốc trên ruộng hoa hồng. Ảnh: Thanh Huế.

Những nông dân Hà Nội nhận ra chất lượng đất suy giảm từ khoảng chục năm nay. “Đất cứ tái đi, cháy một lượt vàng khè ở trên, từ nâu chuyển sang vàng, không tơi”, bà Phan Thị Hòe ở Mê Linh hoang mang. Đất đóng đanh vào, chắc nịch, nước chảy đến đâu trôi đến đấy, ráo nước là đất cũng khô cong.

Vụ hoa đông xuân 2011, hồng trên hơn một mẫu ruộng bà Hòe không cho hoa, cây còi rỉn, lác đác bông bé bằng đầu ngón tay, dù bà vẫn giữ nguyên lộ trình 5 năm thay cây giống và đánh thuốc đều đặn đôi ngày một lần.”Đất nhiễm độc vì phun thuốc lâu năm”, bà Hòe tự kết luận. Đã đến lúc phải “thay đất mới”.

Bà đầu tư 20 triệu đồng mua đất phù sa sông Hồng đổ vào bốn sào ruộng, hoa vụ đấy lại lên tốt ngùn ngụt. Nhưng thuốc sâu là thứ chẳng thể đừng, muốn hoa đẹp thì vẫn phải bơm. Mẻ đất “phù sa sông Hồng loại một” giá 600 nghìn một xe, cũng chỉ cầm cự được 5 năm. Mùa xuân năm nay, ông Hòe rục rịch tìm người đổ chục xe đất mới để thay.

Ở Mê Linh, khi những thớ đất ngậm hóa chất suốt 30 năm không còn nuôi nổi búp hoa, nông dân sẽ có hai cách để “thay đất mới”.

Những hộ canh tác lẻ tẻ, vốn ít như bà Hòe mua đất phù sa, đổ chồng lên lớp đất cằn. Cách thứ hai, dành cho người có vốn, là rũ bỏ hẳn mảnh ruộng cằn, đi thuê đất thật xa. Họ tới những nơi mà đất còn màu mỡ và chưa bị hóa chất tác động nhiều.

Cảm quan “đất nhiễm độc” không phải của riêng bà Hòe. World Bank, trong báo cáo về ô nhiễm nông nghiệp tại Việt Nam (2017) chỉ ra những ví dụ về những vùng thâm canh lúa tại Đồng bằng Sông Cửu Long “đã trở thành vùng chết, không còn ốc sên, ếch, cá, chuột và các sinh vật khác từng sống ở đó”.

Nhưng tổ chức này cũng đánh giá một trong những khó khăn lớn nhất của nhà quản lý Việt Nam là đối mặt với tập quán của nông hộ: “Mặc dù, những hộ nông dân nhỏ đóng góp đáng kể cho ô nhiễm môi trường nông nghiệp, nhưng hoạt động của họ, như đã nêu, hầu như là không thể giám sát được”.

Những nông dân thà thay đất chứ chưa thay tập quán canh tác. Trong danh mục 4.000 sản phẩm, thuốc sinh học chiếm chưa đầy 19%. Các chất hóa học trong danh mục cấm vẫn có thể được dễ dàng tìm mua trên Internet, hay giao dịch âm thầm giữa các tiểu thương. Hải quan vẫn liên tục bắt các lô thuốc nhập lậu trị giá hàng tỷ đồng.

Ở Mê Linh bây giờ, trên cánh đồng, xen giữa màu cúc, màu hồng là một vài khoanh ruộng trồng cải, trồng bí, dưa leo, những loại cần ít thuốc trừ sâu hơn hoa để cho đất nghỉ, với hy vọng vài năm nữa sẽ “hồi sinh” để quay lại với một vòng đời hoa mới.

Bà Hòe thấy sâu bệnh cứ nhiều thêm sau mỗi vụ hoa, và tiếc nhớ những ngày xưa “bỏ bẵng nửa tháng không đánh thuốc, hoa vẫn nở bừng”. Biện pháp duy nhất bây giờ mà người trồng hoa như bà nghĩ đến, là đánh thêm nhiều thuốc.

Thanh Lam – Hoàng Phương

Thứ bảy, 18/7/2020, 09:13 (GMT+7) VNExpress

‘Ma trận’ thị trường thuốc bảo vệ thực vật

Bà chủ cửa hiệu thuốc bảo vệ thực vật lôi ra ba chai “thuốc hiếm”, nói với khách: “Lần này cỏ không chết cháu không lấy tiền”.

Trong cửa hiệu thuốc bảo vệ thực vật, phân bón ở chân đê sông Đáy, huyện Hoài Đức (Hà Nội), ông chủ vườn ổi đang phàn nàn về việc thuốc diệt cỏ mua lần trước không phát huy tác dụng. “Cỏ cao hơn ổi rồi, rõ đắt mà phun mãi chả chết”, lão nông vò cái mũ tai bèo, bực dọc than thở. Minh, bà chủ cửa hàng, giải thích đấy là thuốc sinh học, an toàn nên đắt và phải dùng bền bỉ nhiều lần mới hiệu quả, nhưng chỉ nhận lại sự cương quyết từ người khách: “Cô không bán tôi đi hàng khác”.

Đánh thuốc trị nhện đỏ trên cây bưởi ở ngoại thành Hà Nội. Ảnh: Thanh Huế.

“Đánh thuốc” trị nhện đỏ trên cây bưởi ở ngoại thành Hà Nội. Ảnh: Thanh Huế.

Bà chủ chiều khách, vào kho lấy ra ba chai “thuốc hiếm”. Ba chai giá chưa bằng một nửa chai thuốc sinh học. Minh từ chối nêu tên thuốc, nhưng giải thích với phóng viên: “Thuốc này cấm, nhưng hoạt chất khác đắt hơn. Công cắt cỏ bằng cái chiếu mất cả một ngày, phun thuốc này tí xong. Làm gì cũng phải tính kinh tế”.

Quán chị có ba thứ níu kéo người khắp vùng đến mua hàng suốt 16 năm nay: bán chịu, thuốc xịn và “thuốc hiếm”. Ở xã nông nghiệp chưa đầy 2 cây số vuông có tới 3 cửa hàng kinh doanh vật tư nông nghiệp, từ chối bán “hàng cấm” đồng nghĩa với đuổi khách.

Thuốc hiếm không hiếm

Theo Cục Bảo vệ thực vật, các loại thuốc cấm thâm nhập vào Việt Nam chủ yếu do buôn lậu, quy mô nhỏ lẻ. Bảy tháng đầu năm 2016, cơ quan chức năng bắt 40 vụ buôn lậu từ các tỉnh Cao Bằng, Lào Cai, Lạng Sơn, thiêu hủy 5 tấn thuốc. Tháng 5/2018, cơ quan chức năng Lạng Sơn bắt giữ 3 tấn hoá chất nhập lậu từ Trung Quốc với hơn 10.000 sản phẩm thuốc diệt cỏ, nhện, ốc, thuốc trừ sâu, ngâm chuối, kích thích tăng trưởng giá đỗ. Nhiều loại cực độc đã bị cấm tại Việt Nam. Số thuốc này sau đó được mang về Hải Dương tiêu huỷ.

“Hàng đẹp, giá siêu nét, anh em có nhu cầu inbox em”, dòng trạng thái đi kèm ảnh chai thuốc diệt cỏ có hình khủng long phun lửa với slogan “Chạm là cháy” được đăng trên một nhóm Facebook. Để tăng thêm độ tin cậy cho sản phẩm, người bán cam kết “hàng paraquat, chai loại 1 lít, phun hai tiếng là cỏ chết luôn”. Bốn phút sau, một người vào bình luận: “Còn hàng không?”, hẹn lấy 20 thùng, nhờ gửi xe khách lên Vân Hồ, Sơn La.

Chai thuốc diệt cỏ chứa paraquat là hoạt chất bị cấm sử dụng trong nông nghiệp tại hơn 40 quốc gia. Tháng 2/2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam loại paraquat khỏi danh mục thuốc bảo vệ thực vật được lưu hành. Nhưng ngày 25/5 năm nay, nhiều sản phẩm vẫn được chào bán với giá 125.000 đồng mỗi chai 1 lít ở rất nhiều địa chỉ công khai trên Internet, trong đó có những trang thương mại điện tử uy tín.

Hàng xóm phía Bắc của Việt Nam là nhà sản xuất thuốc bảo vệ thực vật lớn nhất thế giới. Việt Nam là thị trường lớn nhất của họ tại Đông Nam Á, bên cạnh Thái Lan. Mặt hàng xuất khẩu chủ lực của họ là paraquat và glyphosate – hai chất đã bị cấm hoàn toàn tại Việt Nam.

Nhưng AgroNews – một trang tin kỹ thuật nông nghiệp của Trung Quốc có trụ sở tại Trùng Khánh – vào cuối năm 2018 đưa ra thống kê rằng từ tháng 1/2018 đến tháng 11/2018, lượng xuất khẩu paraquat từ Trung Quốc sang Việt Nam sau lệnh cấm chỉ “giảm 92%”.

Lagoote 210SL có chứa hoạt chất cấm Paraquat vẫn được rao bán trên mạng.

Lagoote 210SL có chứa hoạt chất cấm Paraquat vẫn được rao bán trên mạng.

Trên Facebook, ngày 15/6 năm nay, một tài khoản rao bán Wusso 550EC, sản phẩm chứa chlorpyrifos ethyl, hoạt chất bị cấm từ tháng 2/2019. Người rao thậm chí còn nhận làm nhãn mác riêng nếu người mua có nhu cầu. Hai ngày sau, một tài khoản khác rao 300 thùng thuốc Dosate 75.7WG và 100 thùng Haihadup 480SL. Cả hai tên thương hiệu đều có hoạt chất glyphosate, cũng nằm trong danh mục cấm từ ngày 10/4/2019.

Từ quảng cáo trên mạng xã hội và những cửa hàng vật tư nông nghiệp như của chị Minh, các loại thuốc cấm đến tay nông dân, tràn ra ruộng đồng.

Minh chưa từng qua một trường đào tạo nào về kiến thức nông nghiệp. Ba đời nhà chị đều làm ruộng. Sau ngày cưới, Minh cùng chồng đi cân vải thiều, nhãn lồng, cam bưởi khắp miền Bắc, đóng kiện xốp gửi máy bay vào miền Tây bán. Vụ vải hè 2003, vợ chồng quay lại quê hương, thuê đất trồng cây ăn quả, trở thành những triệu phú đầu tiên trong xã. “Đấy là trường học lớn nhất chứ đâu”, Minh tự tin kiến thức về thuốc sâu, phân bón của mình còn siêu hơn những cán bộ nông nghiệp trong lớp tập huấn.

Những năm 2000, người dân Hoài Đức mỗi lần đi mua thuốc sâu, vẫn là một lần “xuống phố”. Cửa hàng vật tư nông nghiệp của Minh mở năm 2005, là cơ sở đầu tiên của cả xã. “Mình vừa bán vừa học, bán nhầm mới bán đúng được chứ. Nông dân họ dạy mình nhiều đấy”, chị nhớ lại.

Gần một năm sau khai trương, cửa hàng đón đoàn thanh tra đầu tiên đến “thăm”. Minh chưa có giấy phép hành nghề, phải đăng ký một khóa bồi dưỡng chuyên môn về thuốc bảo vệ thực vật của tỉnh Hà Tây (cũ) tổ chức.

“Bảo là ba tháng, nhưng tuần đi hai buổi thôi. Gần 100 người, toàn người bán lõi đời, đến điểm danh rồi ngồi chơi. Mấy ông tập huấn cho mình chắc gì cho các ông về bán đã bằng mình”, Minh tổng kết về khóa học, “chả có ai trượt hết, ai hay phát biểu thì được tặng thêm cái huy chương”. Sau ba tháng, Minh mang về một đống tài liệu sách vở chưa bao giờ sờ đến và cái giấy phép kinh doanh, thứ giúp chị không còn sợ những đợt thanh kiểm tra của cơ quan chức năng. “Còn thuốc hiếm, mình ngu gì để ở cửa hàng”, Minh nói.

Theo Trưởng phòng thanh tra pháp chế, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Nội, bà Lưu Thị Hằng, hoạt động mua bán thuốc bảo vệ thực vật phát triển cả trên mạng xã hội, giao hàng qua dịch vụ vận chuyển, người bán mua không biết mặt nhau khiến việc phát hiện càng khó khăn.

Tại Hà Nội, việc kiểm tra, quản lý sử dụng thuốc bảo vệ thực vật được giao cho chính quyền cấp xã, phường. Thanh tra chuyên ngành bảo vệ thực vật của thành phố mỗi năm chỉ đi một lần, nếu thấy dấu hiệu vi phạm mới được quyền thanh tra tiếp. Trước khi thanh tra phải lên kế hoạch thông báo trước cho địa phương, cơ sở kinh doanh và chỉ được kiểm tra tại cửa hàng.

Các loại thuốc bảo vệ thực vật một nông dân phối trộn để phun trên cây bưởi. Ảnh: Thanh Huế.

Các loại thuốc bảo vệ thực vật nông dân phối trộn để phun trên cây bưởi. Ảnh: Thanh Huế.

Nông dân tự xoay xở

Đầu tháng 6, mối phân phối lâu năm mang cho chị Minh một loại trừ cỏ mẫu, dùng trên cây mía. “Chị cứ bán, cỏ gì cũng phun được, cỏ gấu chết tốt lắm”, anh ta chào mời.

Vợ chồng Minh tin tưởng đối tác, thấy chia lợi nhuận tốt, nhập về bán. Thuốc đăng ký trên mía nhưng chị bán cho cả vườn đu đủ. Bốn ngày sau, chủ vườn đu đủ gọi điện bắt đền. “Táp cả vườn cây rồi, cỏ thì vẫn mọc”, khách hàng quát vào điện thoại. Trưa 14/6, chồng Minh cùng đại diện nhà phân phối vào tận vườn tính toán thiệt hại, đền bù cho chủ vườn đu đủ.

Minh bảo “tai nạn nghề nghiệp như vậy là thường, lỗi của nhà phân phối, mình chả việc gì phải lo lắng”. Nhưng chồng chị cũng thừa nhận người bán như họ bị dồn vào thế bí. Bởi các nhà sản xuất thường nhắm đến thị trường cây trồng chủ lực, loại cây nhỏ lẻ hầu như không có thuốc đặc trị. Người bán thuốc đành “sáng tạo”, hướng dẫn nông dân dùng thuốc của cây này trị bệnh cho cây kia, hoặc pha trộn các loại với nhau.

“Chính doanh nghiệp trong nước cũng lựa chọn sản phẩm chủ lực để đăng ký, nên rất nhiều loại cây trồng chưa có thuốc”, ông Huỳnh Tấn Đạt, Trưởng phòng quản lý thuốc bảo vệ thực vật, Cục Bảo vệ thực vật nói.

Theo ông Đạt, các doanh nghiệp còn có xu hướng đăng ký rất nhiều hàm lượng trên cùng sản phẩm, khó để biết rõ về hiệu lực, chất lượng. Nông dân do vậy cũng không thể tuân thủ nguyên tắc 4 đúng: pha chế đúng liều lượng, sử dụng đúng thuốc, phun thuốc đúng cách, cách ly đúng ngày.

World Bank nhận định “chỉ một số ít người bán thuốc trừ sâu, các đại lý khuyến nông và nông dân hiểu đúng về thuốc trừ sâu”. Và việc pha trộn cũng như dùng liều lượng tùy ý này khiến người nông dân không thể thành công trong “Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)” – tức là thay vì diệt sâu hại, họ có thể diệt cả thiên địch và cây trồng, lãng phí, độc hại và thậm chí khiến sâu nhờn thuốc.

Trong khi chờ đợi một nền sản xuất tự chủ và cân bằng, những người nông dân như khách hàng của chị Minh vẫn sẽ trung thành với loại thuốc nào vừa rẻ vừa “phun một phát chết luôn”. Và những người bán hàng như Minh, tiếp tục hành trình chiều khách để giữ mối. “Chi phí trồng trọt thì cao, mà ai cũng đòi ăn hoa quả rẻ, nông dân có mà chết đói”, chị Minh nói.

Hoàng Phương – Thanh Lam

Đón đọc bài tiếp: Cuộc vật lộn của những nông dân từ bỏ thuốc hoá học

Chủ nhật, 19/7/2020, 15:12 (GMT+7) VNExpress

Cuộc vật lộn từ bỏ thuốc hóa học

HÀ NỘI5 năm trồng rau sạch, vợ chồng ông Nguyễn Khắc Đạo phải ôm từng mớ đem bán chợ làng, bị chê xấu mã, nhiều sâu, không ai mua.

Năm 1982, Nguyễn Khắc Đạo 20 tuổi. Nhà được phân nửa sào rau màu của hợp tác xã Tiền Lệ (xã Tiền Yên, huyện Hoài Đức). Sáng nghe tiếng kẻng, Đạo vác nạo ra đồng với mẹ. Dải đất ven sông Đáy trước trồng cây ăn quả, nhưng sản lượng không cao, bị phá bỏ từ những năm 1980. Nông dân Tiền Lệ thời ấy trồng đủ thứ, từ hành, tỏi, dưa lê, các loại rau ăn lá nhập về hợp tác.

Ông Đạo có bốn sào canh tác nằm trong HTX rau an toàn Tiền Lệ. Ảnh: Hoàng Phương.

Ông Đạo có bốn sào canh tác nằm trong HTX rau an toàn Tiền Lệ. Ảnh: Hoàng Phương.

Có đợt mưa dầm, hôm trước ra ruộng thấy lốm đốm sâu ăn, hôm sau chỉ còn trơ lại gân lá. Đạo kiếm cái chai thủy tinh 65, treo tòng teng ở ghi đông xe đạp, xuống ty vật tư nông nghiệp dưới thị trấn, cách nhà 3 km mua thuốc trừ sâu. Thuốc sâu, phân bón do nhà nước quản lý, sang chiết theo suất, có sổ. Mỗi một mùa rau tháng rưỡi, nhà anh Đạo “đánh” chưa đầy một chai thuốc.

Những năm 1990, vợ chồng Đạo được chia hai sào, gom thêm ruộng cha truyền, tổng được bốn sào tiếp tục trồng rau. Đất nước mở cửa, lượng thuốc bảo vệ thực vật ồ ạt nhập vào, mỗi năm trên dưới 80.000 tấn. Đạo không cần lọc cọc đạp xe đi mua, khi các cửa hàng, đại lý thuốc đã mở tận trong làng. Nhiều nông dân ngày ấy không đọc nổi dòng chữ in trên bao bì, nhưng hễ rau có sâu, đốm lá, chỉ cần cầm cây đến, “đại lý đưa thuốc, phun vào sâu gì cũng chết”.

Vương Sỹ Thành khi ấy học lớp 6, hay cùng bố đạp xe 15 km từ xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai sang xã Cát Quế, huyện Hoài Đức, mua bắp cải giống. “Lấy tay bịt mũi vào”, bố Thành quay sang dặn con, rồi nhắm mắt nhắm mũi gồng người đạp thật nhanh qua đoạn đường nồng nặc mùi thuốc sâu. Ba mươi năm qua, Thành chưa quên cái mùi hăng hắc xộc vào mũi mỗi bận đi qua những cánh đồng rau năm ấy.

Nhưng trên chính 2 mẫu đất trồng cải nhà mình, bố mẹ Thành cũng giống vợ chồng anh Đạo những ngày “mở cửa” ngành thuốc bảo vệ thực vật, hồ hởi bơm thuốc và thấy đỡ tốn sức làm cỏ, diệt bệnh. Chỉ đôi ba nghìn ra đầu làng là có ngay một gói. Chính Thành nhiều lần được bố mẹ đưa tiền sai đi mua thuốc, dặn dò “bảo bác bán cho cái này, cái này”, đơn giản như mua chai tương, cọng hành.

Những mảnh ruộng dăm ba năm chuyển màu đen xơ xác, chai cứng, mưa thì rắn mặt, nắng lên đanh lại, nắm trong lòng bàn tay không khác gì cầm cục đá. Bố mẹ Thành đi phun thuốc bằng bình bơm tay, van kém đôi khi nước còn rỉ ra, thấm vào quần áo, bận nào phun về, cũng kêu bải hoải người, chóng mặt, có ngày bỏ cơm. Thời gian cách ly thuốc khi ấy, ít nhất là 15 ngày, có loại 30 ngày. Nhưng chẳng nông dân nào đợi được lâu như vậy. Mỗi người làm rau chừa lại một khoảng vườn nhỏ sau nhà, trồng riêng để “nhà mình ăn”.

Năm 2008, thủ đô mở rộng địa giới hành chính. Trong một đêm, những người Hà Tây cũ như Thành mang hộ khẩu Hà Nội, lần đầu biết đến quy hoạch vùng trồng rau an toàn.

Ruộng rau mới phun thuốc sinh học được cắm biển cảnh báo. Ảnh: Hoàng Phương.

Ruộng rau mới phun thuốc sinh học được cắm biển cảnh báo. Ảnh: Hoàng Phương.

Năm 2009, đề án sản xuất rau an toàn có tên Tiền Lệ. Các vùng chuyên canh rau lúc này chỉ đáp ứng được 60% sản lượng cung cấp cho hơn 6 triệu cư dân thành phố, 40% còn lại nhập từ các địa phương Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng và Vĩnh Phúc.

Ông Đạo được chọn đi tập huấn, học cách trồng rau an toàn. Ba tháng ngồi lớp rồi ra đồng thực hành, người nông dân có kinh nghiệm ba mươi năm trồng rau được các kỹ sư hướng dẫn cách làm đất, ủ phân, gieo hạt sao cho hạn chế thấp nhất sâu bệnh, cách nhận biết các loại thuốc bảo vệ thực vật độc hại không nên dùng trên rau.

“Cô cứ nói toàn lý thuyết, phải mắt thấy tai nghe chúng tôi mới tin”, bà Đặng Thị Thu Thủy, Trưởng trạm Bảo vệ thực vật Hoài Đức vẫn nhớ mãi câu nói của một nông dân thôn Tiền Lệ trong lớp tập huấn giảm thiểu dùng thuốc hóa học, tiến tới thử nghiệm vùng sản xuất rau an toàn của thủ đô.

“Những năm ấy, cách một tuần nông dân lại vác bình đi phun mà không biết đã đến độ chưa, mỗi loại thuốc phun xong rau phải cách ly bao nhiêu ngày”, bà Thủy ước lượng trước năm 2009, hơn 70% thuốc bảo vệ thực vật nông dân dùng vẫn là hóa học.

Năm nữ cán bộ trạm, hàng ngày chia nhau xuống “lội ruộng” cùng bà con. Bà Thủy làm các loại bẫy dính côn trùng, sâu bướm thử ngay trên ruộng. Rạng sáng, nông dân ra đồng. Lúc sau cán bộ cũng có mặt, giải thích về quy luật phát triển, vòng đời các loại sâu và cách phòng trừ. “Bà con đi trước, mình lội nước theo sau”, ròng rã hàng năm, làm mãi rồi họ cũng dần tin, giảm tần suất phun 5 lần mỗi vụ rau một tháng xuống còn 2-3 lần.

Hàng trăm thửa ruộng Tiền Lệ quen trồng đủ loại rau quả, mỗi mảnh một loại, được quây lưới, phân khu riêng. Gần hai chục giếng khoan phân bố quanh khu nhà lưới để lấy nước ngầm tưới rau. Ông Đạo cũng hăm hở đổi ruộng, nhập bốn sào rau của mình vào hợp tác xã rau an toàn. Ông được bầu làm nhóm trưởng sản xuất của gần hai chục hộ dân.

Năm năm liên tiếp không có chỉ dẫn địa lý, không thương hiệu, rau Tiền Lệ chưa được bao tiêu, không công ty nào tìm về. Thi thoảng đi hội chợ, ông Đạo vẫn đề xuất với các cấp có thẩm quyền “tìm cách bao tiêu cho nông dân, bởi mình làm an toàn, làm đúng mà không bán được rau là vô lý”. Những năm ấy, bà Chiến vợ ông vẫn cắt từng mớ rau đi chợ bán. Ông Đạo đêm đêm vắt tay lên trán, ức trào nước mắt vì “rau sạch lẫn lộn với rau phun thuốc, người mua ai biết”.

Anh Vương Sỹ Thành từng khăn gói vào Lâm Đồng nửa năm học trồng rau sạch. Ảnh: Hoàng Phương.

Anh Vương Sỹ Thành từng “khăn gói” vào Lâm Đồng nửa năm học trồng rau sạch. Ảnh: Hoàng Phương.

Vương Sỹ Thành bỏ ruộng rau từ ngày lấy vợ, lúc này đang làm ông chủ của một xưởng miến rong ven bờ sông Đáy. Cái nghề cho lợi nhuận khá nên trong xã Cộng Hòa chục mái nhà lại có một xưởng miến rong. Nghỉ làm rau, nhưng quãng đời mưu sinh cùng với hóa chất của Thành chưa chấm dứt. Để làm ra sợi miến dai dẻo, thơm và trong suốt, bàn tay ông chủ xưởng ngấm trong chất tẩy, phụ gia. Cái rùng mình những ngày nhỏ đi qua vùng rau Cát Quế, giờ trở nên thường nhật với Thành trong xưởng miến.

“Không thể luẩn quẩn làm hại nhau mãi, con cái mình suy cho cùng cũng là sẽ là người ăn”, Thành nói về quyết định dẹp xưởng miến. Tháng 7/2016, anh dắt lưng mấy triệu đồng, bắt xe vào Lâm Đồng học cách trồng rau sạch.

Khi ấy ở Hà Nội, hơn 30 dự án cùng hàng nghìn hecta đất nông nghiệp được quy hoạch thành vùng rau an toàn, nhưng từ năm 2012 đến 2017, năng suất rau của Hà Nội chỉ tăng 7%. Thành phố vẫn phụ thuộc vào nguồn cung từ bên ngoài. Trong 5 năm từ 2013 đến 2017, tỷ lệ đóng góp vào tăng trưởng của nông nghiệp Hà Nội liên tục giảm, từ 0,14% xuống còn 0,06%.

Huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng thời điểm ấy đã là vùng rau an toàn có tiếng cả nước với mô hình trồng rau trong nhà lưới. Thành mất 2 tháng đầu rát mặt dưới nắng cao nguyên chỉ để học cách lên luống làm đất, nhổ cỏ, việc mà trước đây bố mẹ anh chỉ cần vác đôi bình thuốc trừ cỏ ra đánh là “rảnh thân”. Những nắm đất ở Lâm Đồng như tan ra trong tay anh nông dân gốc Bắc. Lâu lắm, Thành mới được sờ lại những nắm đất tơi mềm.

Thêm bốn tháng nữa để học cách gieo hạt, chọn giống, chăm bón. Sự khắt khe của nghề làm rau sạch khiến Thành “toát mồ hôi”. Quan trọng nhất là không dùng hóa chất phân bón và trừ sâu mà dùng bả sinh học, làm cỏ tay, ngừa bệnh theo chu kỳ, những kiến thức mà cán bộ nông nghiệp Hoài Đức như bà Thủy mất hàng năm trời để thuyết phục nông dân Tiền Lệ.

Nửa năm học nghề, trở lại quê hương, Thành tiên liệu “Làm rau an toàn, sẽ vất hơn kiểu canh tác cũ 20 lần”. Gian nan đến với anh ngay từ ngày trở về quê. Tháng 12/2016, nghe Thành nói muốn thuê 2 hecta đất làm rau sạch, người làng ai cũng nói anh lẩm cẩm, không tin, nghĩ thuê đất để “làm trò khuất tất”. Thành phải nhờ cán bộ phụ trách nông nghiệp xã đứng ra bảo lãnh. Năm đầu tiên, anh chỉ thuê được 1,5 hecta của 46 nông hộ.

Người thân, họ hàng chung sức làm rau cũng gần chục người. Bao năm quen giải quyết mọi vấn đề nảy sinh trên ruộng bằng vài bình thuốc, giờ quay về thói quen ủ phân xanh, đợi hoai mục, cho đất nghỉ, rồi ngồi còng lưng bắt sâu, nhổ cỏ như mấy chục năm về trước, ai cũng lắc đầu kêu vừa khó vừa đắt. Họ bảo anh “làm phiên phiến” thôi, Thành kiên quyết không.

600 triệu đồng vay mượn đổ hết vào thuê đất, chôn cột, làm nhà lưới, dọn cỏ, làm đất. Nhưng chỉ sau cơn bão đầu tiên năm 2017, cột kèo chôn quá nông đồng loạt đổ. Lứa bắp cải “an toàn” đầu tiên bị sâu đục sạch, còi rỉn, bán rớt giá thảm hại. Vợ Thành nhìn hàng đống tiền đội nón ra đi chưa thu một đồng lãi, sốt ruột, khuyên chồng “tính lại”.

Những vỏ gói, túi thuốc bảo vệ thực vật đã dùng được anh Thành gom lại cho vào thùng ở góc ruộng. Ảnh: Hoàng Phương.

Những vỏ gói, túi thuốc bảo vệ thực vật đã dùng được anh Thành gom lại cho vào thùng ở góc ruộng. Ảnh: Hoàng Phương.

Cùng năm ấy, thành công đầu tiên đến với ông Đạo và nông dân trồng rau sạch Tiền Lệ. Tháng 2/2017, công ty bao tiêu tìm về tận ruộng xem mô hình canh tác. Ông Đạo khi ấy là tổ trưởng tổ trồng rau an toàn của thôn, đứng ra cam kết chất lượng sản phẩm. Tổ sản xuất tự lập ban giám sát, kiểm tra nhật ký đồng ruộng từng hộ.

5 năm ôm những mớ rau trồng trong nhà lưới đi bán ở chợ giá “rẻ như cho”, người trồng rau sạch Tiền Lệ mới được nếm trái ngọt. Rau cắt ra tới đâu, ôtô đến cân mua, trả tiền tươi đến đó. Cân rau cải an toàn được giá gấp đôi, gấp ba buôn thúng bán mẹt.

Rau an toàn có chung bài toán với hầu hết nông sản Việt: đầu ra. Những vụ rau sau của anh Vương Sỹ Thành rơi vào thế khó “truyền thống” của nông dân cả nước, được mùa nhưng mất giá. Ông chủ vựa rau ngày hai cữ chất gần 300 kg cải lên sọt, phi 30 km ra khắp các chợ nội thành chào bán. Ròng rã năm tháng, từ tháng 6 đến tháng 10/2017, Thành mới gặp “mối” đầu tiên, là một chủ hợp tác xã bao tiêu rau sạch lớn trong chợ Lĩnh Nam.

“Sạch thật không?”, vị khách hàng nghi ngờ, bảo Thành dẫn về tận vườn, sờ từng nắm đất, nhãn thuốc, thấy từng người kỳ cụi nhặt cỏ bằng tay, bẫy sinh học quanh nhà lưới, mới đồng ý thu mua. Đôi ba năm sau, có tay nghề, có tiếng, các trường học, cơ quan, xưởng sản xuất tự tìm tới đặt mua rau, lúc ấy vợ Thành, mới thôi khuyên chồng bỏ nghề.

Ba năm qua, cả nghìn chuyến xe tải chở rau từ ruộng của anh Thành đã tỏa đi khắp nơi, chưa một chuyến nào gặp vấn đề về dư lượng thuốc trừ sâu khi qua test. Sáu sào rau cải của vợ chồng ông Đạo ở Tiền Lệ, cho thu hoạch 50 kg mỗi ngày, năm khoảng sáu, bảy lứa. Nếu “trời thương”, mỗi năm vợ chồng cũng để ra được hơn 200 triệu đồng.

Bà Chiến vợ ông Đạo bao năm nay không còn phải bận tâm đến chuyện cắt rau đi chợ sớm, cũng chẳng cần biết rau chợ bây giờ bán bao nhiêu.

Thanh Lam – Hoàng Phương

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s