
Trên một tấm toan phủ sơn trắng toát, có mấy nét vẽ đơn sơ nguệch ngoạc màu nâu đen. Đấy là bức tranh đầu tiên, và cũng là bức tranh cuối cùng của một người đàn bà gần hết cuộc đời làm nghề nhặt củi khô trên tuyết để nuôi sống đàn con cháu mình. Bức tranh sau đó đã trở nên vô giá trong con mắt của những nhà sưu tập tranh thế giới. Câu chuyện ấy, cùng nhiều câu chuyện khác về hội hoạ, về nghệ thuật đã in hằn trong tuổi thơ của chúng tôi. Người kể chúng là bố tôi – cố hoạ sĩ Nguyễn Quảng, người đã coi Hội hoạ và những tri thức về Nghệ thuật như một thứ Tôn giáo thiêng liêng… Khi đến tuổi trưởng thành, chúng tôi hiểu: điều lớn nhất mà ông muốn gửi gắm đằng sau những câu chuyện đó, là hãy vẽ ( hay viết ) không phải bằng sự khôn khéo của đôi tay, của đầu óc- mà bằng tất cả sự rung cảm của con tim, sự trải nghiệm của tâm hồn…





Thực tế xuất bản cho thấy lao động của dịch giả còn bị xem nhẹ. Ảnh minh họa
Đối với rất nhiều người Việt Nam ở khắp đất nước và ở khắp các phương trời xa xôi, Hà Nội là nỗi niềm đau đáu nhớ thương…Và Hà Nội cũng đã trở nên gần gũi thân quen một cách lạ lùng đối với nhiều thế hệ người VN cũng như đối với không ít vị khách nước ngoài… Điều đó có thể lý giải bằng nhiều nguyên cớ- mà nguyên cớ trực tiếp nhất, và cũng sâu xa nhất, chính là bởi Hà Nội có bốn mùa thật rõ rệt và đặc sắc, mà người ta có thể cảm nhận được qua da thịt từng sự thay đổi nhỏ bé của hoa lá, mặt sông gương hồ, con đường lối ngõ, những gương mặt người…Và chúng góp phần tạo nên cái được gọi là Hồn sâu thẳm của Hà Nội. 
Không gian làm việc ở Toong.