Vietnam’s largest wind power plant begins operation in central Ninh Thuan Province on April 16, 2021. Photo courtesy of Government’s Portal.
HCMC-based energy firm Trungnam Group Friday has put its wind power plant in central Ninh Thuan Province into operation, considered the country’s largest to date.
The plant, which spreads over an area of 900 hectares in Thuan Bac District, has 45 turbines with a total capacity of 151.95 megawatts that costs VND4 trillion ($173.4 million), the Government portal reported.
The wind power plant is combined with a 204 MW solar power plant to form the solar-wind farm complex considered the largest in Southeast Asia. The complex will supply a total 950 million kWh per year for the country’s grid.
The private energy company has added a total 1,064 MW to the national grid comprising hydropower, solar and wind power. It plans to have a renewable output of nearly 10,000 MW by 2027.
Tran Quoc Nam, chairman of Ninh Thuan, said the province is now taking the lead with 32 solar power projects with a total capacity of 2,257 MW, and three wind power projects with an accumulative capacity of 329 MW.
Vietnam has great potential for renewable energy with its long coastline and 2,700 hours of sunshine a year on average.
Solar power currently accounts for just 0.01 percent of the country’s total power output, but the government plans to increase the ratio to 3.3 percent by 2030 and 20 percent by 2050.
Vietnam aims to produce 10.7 percent of its electricity from renewable energy sources by 2030, mainly through solar and wind power projects.
(NLĐO) – Tất cả những gì đang diễn ra cho thấy tuyến biên giới Tây Nam đang rất “nóng” vì dịch Covid-19. Vậy làm sao để bịt kín các lỗ hổng?
Việt Nam đã khống chế được dịch Covid-19. Tính đến hết ngày 16-4, TP HCM đã 62 ngày không ghi nhận ca mắc Covid-19 trong cộng đồng. Hà Nội đã 59 ngày và Hải Phòng 52 ngày, Hải Dương 22 ngày không có ca lây nhiễm trong cộng đồng.
Nếu nhìn vào tình hình đó, gần như Covid-19 đã tạm lùi ở nước ta.
NLD – Mỹ tăng cường tập trận với các nước đồng minh ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương từ đầu năm đến nay trong bối cảnh Trung Quốc có hàng loạt động thái gây căng thẳng trong khu vực
—o0o—
hông báo trên trang Twitter hôm 8-4, Bộ Tư lệnh Ấn Độ -Thái Bình Dương cho biết các thủy thủ trên tàu USS Makin Island (Mỹ) đã tiến hành một cuộc diễn tập bắn đạn thật với lời kêu gọi đảm bảo “một khu vực Ấn Độ -Thái Bình Dương tự do và mở”.
Trước đó, tàu sân bay USS Theodore Roosevelt của Mỹ đã tiến hành tập trận cùng với Malaysia trong hai ngày 6 và 7-4. Đây là lần thứ hai nhóm tác chiến tàu sân bay Theodore Roosevelt tiến vào biển Đông để thực hiện nhiệm vụ trong năm 2021, lần đầu diễn ra hồi cuối tháng 1.
“Chân dung cô Phương” của Mai Trung Thứ, “Khỏa thân” của Lê Phổ… nằm trong số các bức họa triệu USD trên sàn đấu giá công khai.90
Bức “Portrait of Mademoiselle Phuong” (Chân dung cô Phương) của Mai Trung Thứ vừa trở thành tác phẩm hội họa đắt nhất của mỹ thuật Việt khi đạt 3,1 triệu USD trong phiên đấu giá tại Hong Kong chiều 18/4. Theo Sotheby’s, “Portrait of Mademoiselle Phuong” là bức tranh hoành tráng nhưng rất dịu dàng và gần gũi. Nhà đấu giá mô tả tác phẩm gói gọn tình cảm của Mai Trung Thứ dành cho Phương – một phụ nữ Hà Nội, được cho là người tình của ông. Tác phẩm sơn dầu được Mai Trung Thứ sáng tác năm 1930, kích thước 135,5 x 80cm, khi ông đang là giáo viên dạy vẽ tại trường Lycée Francais de Hue (Trung học Pháp tại Huế).
(Thị trường) – Câu chuyện quả xoài cho thấy tình trạng đã tồn tại mấy chục năm qua ở Việt Nam: có gì bán nấy, bán đổ bán tháo.
Dù xoài là một trong 9 loại trái cây của Việt Nam được xuất khẩu chính ngạch vào thị trường Trung Quốc hiện nay (cùng với thanh long, dưa hấu, vải, nhãn, chuối, mít, chôm chôm, măng cụt), song lượng xoài sang Trung Quốc theo con đường này lại rất thấp.
Theo thông tin tại báo cáo “Nâng cao năng lực tuân thủ tiêu chuẩn và chất lượng của chuỗi giá trị xoài tại ĐBSCL” tổ chức hôm 12/4 tại Đồng Tháp và được Thời báo Kinh tế Sài Gòn dẫn lại, xuất khẩu xoài hàng năm đạt khoảng 160.000-170.000 tấn, trong đó, có 94% xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.
Theo báo cáo này, trong số 94% sản lượng xoài được xuất khẩu sang Trung Quốc, thì chỉ có 0,08% (tương đương 141 tấn) được xuất khẩu theo đường chính ngạch, tức có đến trên 99% xuất khẩu bằng đường tiểu ngạch sang quốc gia tỷ dân này (số liệu được ghi nhận vào năm 2019).
xét.
Xoài Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu vẫn theo con đường tiểu ngạch. Ảnh minh họa
nature.org.vn – Bản đồ các địa điểm quảng bá món đặc sản “chim to dần”, chim hoang dã, chim trời, … dưới đây do PanNature thu thập từ nguồn dữ liệu công khai trên Google Maps. Từ nguồn dữ liệu công cộng này, chúng ta có thể hình dung được mức độ phổ biến cũng như nhu cầu sử dụng các loài chim hoang dã ở các địa phương trên cả nước.
Trong tổng số 164 địa điểm thu thập được, miền Bắc có 129 điểm, miền Trung 24 điểm, và miền Nam 11 điểm. Hà Nội (50), Hà Nam (15) và Bắc Ninh (14) là những nơi có mật độ các nhà hàng, quán nhậu chim trời nhiều nhất. Số liệu ở các khu vực khác có thể chưa phản ánh hết thực tế do hạn chế về dữ liệu địa điểm công khai.
Dữ liệu cập nhật đến 7/4/2021. Chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật dữ liệu lên bản đồ này để phản ánh đầy đủ hơn về tình trạng tiêu thụ các loài chim hoang dã ở Việt Nam. Các bạn có thể giúp gửi thông tin cho chúng tôi để bổ sung thêm các địa điểm.
Với 63 vùng chim quan trọng toàn cầu và 7 vùng chim đặc hữu, Việt Nam được xác định là một trong những khu vực quan trọng bậc nhất trong mạng lưới các tuyến đường bay chim di cư và các loài chim đặc hữu. Các Vườn Quốc gia Xuân Thủy (tỉnh Nam Định), Tràm Chim (tỉnh Đồng Tháp), Mũi Cà Mau (tỉnh Cà Mau)… có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các loài chim hoang dã, di cư. Trong số 49 loài chim đặc hữu của khu vực Đông Dương, Việt Nam chiếm 33 loài, trong đó 10 loài chỉ có ở Việt Nam1.
Trong xu hướng suy giảm đa dạng sinh học toàn cầu, các loài chim Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ suy giảm số lượng, thậm chí nhiều loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Việt Nam có 918 loài chim thuộc 24 bộ và 101 họ2, trong đó có 109 loài cần quan tâm bảo tồn, 11 loài cực kỳ nguy cấp, 19 loài nguy cấp, 28 loài sắp nguy cấp và 50 loài sắp bị đe dọa.
Nhiều loại động vật hoang dã của Việt Nam được pháp luật ưu tiên bảo vệ. Ảnh: PanNature, 2020.
Bên cạnh các nguyên nhân mất môi trường sống do con người chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đốt rừng làm nương rẫy, khai thác tài nguyên quá mức, ô nhiễm môi trường, v.v. một vấn nạn nổi cộm, nhức nhối diễn ra trong nhiều năm qua là việc săn bắt, tiêu thụ các loài chim hoang dã, di cư tại nhiều địa phương. Điển hình như các vi phạm xảy ra tại chợ chim Thạnh Hóa (Long An3) hay Cát Bà (Hải Phòng4). Theo phản ánh của báo chí, các cơ sở giết mổ, nhà hàng có thực đơn chim hoang dã hiện diện tại Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Nghệ An, Hà Tĩnh5. Theo kết quả khảo sát trực tuyến người dân tại Việt Nam do Công ty tư vấn chiến lược và điều tra thị trường GlobeScan và Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF) thực hiện trong tháng 3/2020 với 5.000 người được lựa chọn ngẫu nhiên, có đến 15% trong số đó đã mua hoặc biết ai mua động vật hoang dã, trong đó chim sống chiếm 48%.
Trong tủ lạnh một nhà hàng đặc sản chim trời. Ảnh: PanNature.
Với độ phủ của Internet ngày càng rộng rãi, các gian hàng buôn bán chim trời và các loài động vật hoang dã cũng hoạt động nhộn nhịp và có phần ít bị kiểm soát hơn chợ trời, nhà hàng. Người bán công khai sản phẩm từ tươi sống đến thành phẩm, thậm chí là cả video quá trình săn bắt hoặc giết mổ, trên Facebook, Youtube, Zalo và các nền tảng khác.
Nhà hàng đặc sản chim hoang dã tại Hà Nam. Ảnh: Hoàng Chiên/Dân Việt.
Nhà hàng đặc sản chim hoang dã tại Hà Nam. Ảnh: Hoàng Chiên/Dân Việt.
Quảng cáo công khai “đặc sản” trên mạng Internet. Ảnh chụp màn hình.
Các quy định pháp luật hiện hành về bảo tồn đa dạng sinh học và các giống loài động thực vật hoang dã, cụ thể như Luật Đa dạng sinh học; Luật Lâm nghiệp; Bộ Luật Hình sự; Nghị định số 64/2019/NĐ-CP; Thông tư số 04/2017/TT-BNNPTNT là cơ sở để bảo vệ các loài chim trời. Nhiều loài chim hoang dã, di cư đã được đưa vào Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ để quản lý, bảo vệ theo quy định của pháp luật như loài Sếu đầu đỏ, Cò mỏ thìa, Rẽ mỏ thìa… Tuy nhiên, các cơ quan chức năng cho rằng việc phát hiện, xử lý vi phạm về chim hoang dã vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Một trong những nguyên nhân chính được cho là do công tác phối hợp giữa các lực lượng nhằm phát hiện, truy bắt, xử lý các đối tượng vi phạm chưa chặt chẽ, thiếu kịp thời.
(KTSG) – Điện mặt trời hiện chiếm hơn 4% tổng sản lượng điện cả nước và dự kiến sẽ góp trên 9% tổng sản lượng năm 2021. Với nhiều GW điện mặt trời và điện gió được bổ sung thêm, Việt Nam đang nhanh chóng trở thành nước đi đầu tại Đông Nam Á về năng lượng sạch. Điện mặt trời áp mái phần lớn đến từ doanh nghiệp thương mại và công nghiệp. Ảnh: H.P
Hệ thống năng lượng của Việt Nam đang thay đổi đáng kể trong hai năm qua, nhờ hàng tỉ đô la Mỹ từ nhà đầu tư tư nhân. Tăng từ 20 MW điện mặt trời đầu năm 2019 đến gần 20.000 MW – là một con số chưa từng có.
Tất nhiên, mở rộng quy mô nhanh là cần thiết để Việt Nam đạt được mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu – theo Thỏa thuận Paris, giảm thải 27% lượng khí nhà kính vào năm 2030. Thành tựu về năng lượng sạch của Việt Nam đem đến nhiều lợi ích gồm tăng khả năng cạnh tranh toàn cầu, là điểm đến cho đầu tư nước ngoài. Nhiều chuyên gia tin rằng các hành động bảo vệ khí hậu trong thập kỷ này có vai trò thiết yếu để thúc đẩy vị thế chính trị và kinh tế của quốc gia.
Theo đó, Việt Nam nên mừng cho thành công gần đây, nhưng cũng nên thấy rằng còn nhiều điều cần làm nếu muốn cải thiện hơn nữa sức hấp dẫn trên bản đồ chính trị và kinh tế quốc tế – đặc biệt khi ngành năng lượng đang trải qua những thay đổi lớn.
Liệu Việt Nam có nắm bắt được cơ hội khổng lồ này để không chỉ đáp ứng mục tiêu về khí hậu mà còn củng cố vị trí về chính trị và kinh tế trên toàn cầu?
Lĩnh vực tư nhân đang thúc đẩy sự bùng nổ năng lượng sạch – và còn khao khát nhiều hơn nữa Lĩnh vực tư nhân đóng vai trò không thể thiếu trong bức tranh năng lượng sạch của Việt Nam. Đó là hàng trăm công ty đang đầu tư và phát triển các nhà máy năng lượng tái tạo – thậm chí đầu tư cho đường dây truyền tải và phân phối điện, cùng hàng ngàn doanh nghiệp đang mua điện tái tạo để tiêu thụ trực tiếp.
Trong số hơn 9.300 MW điện mặt trời mái nhà năm 2020, ước tính 85% đến từ doanh nghiệp thương mại và công nghiệp. Điển hình, theo khảo sát hơn 100 công ty của Chương trình Thúc đẩy đầu tư năng lượng sạch (CEIA(*)), nhu cầu dùng điện sạch của doanh nghiệp lên tới hơn 1.000 MW và họ đang chờ đợi chương trình thí điểm DPPA – Thỏa thuận mua bán điện trực tiếp được ban hành.
Bởi DPPA cho phép các giao dịch mua bán điện mặt trời và điện gió diễn ra trực tiếp giữa bên phát điện với bên dùng điện công nghiệp. Nhiều công ty cam kết hành động vì khí hậu đang thực hiện nhanh và mạnh hơn bao giờ hết, đồng thúc đẩy bởi nhu cầu của người tiêu dùng và các quỹ tuyên bố sẽ không đầu tư nếu như công ty không có hành động thuyết phục để bảo vệ chính mình và thế giới khỏi các rủi ro khí hậu.
Đó là hơn 1.000 công ty toàn cầu đang đặt ra các mục tiêu giảm phát thải thông qua sáng kiến Mục tiêu khoa học (SBTi), và một ví dụ khác là toàn bộ các ngành thống nhất về mục tiêu giảm carbon trong Hiến chương Liên hiệp quốc Hành động vì khí hậu trong ngành công nghiệp thời trang.
Các công ty có chuỗi cung ứng sâu và rộng ở Việt Nam, như Nike, Walmart, H&M, Apple và IKEA, yêu cầu các nhà sản xuất chuỗi cung ứng của họ có hành động giảm carbon từ quá trình vận hành.
Có thể thấy, các công ty toàn cầu lớn nhất từ nhiều lĩnh vực đang đưa yếu tố giảm phát thải và hành động vì khí hậu vào các quyết định lập kế hoạch và đầu tư. Nếu một quốc gia do dự trong việc giảm carbon trong lưới điện hoặc không quan tâm đến việc mở ra các lựa chọn mua bán năng lượng sạch cho người dùng năng lượng, thì có khả năng cao các công ty lớn sẽ xem xét dịch chuyển hoạt động hoặc chuỗi cung ứng của họ sang một quốc gia khác có nhiều nỗ lực hơn.
Thực tế, một nhóm gồm 29 thương hiệu thời trang và nhà sản xuất gần đây đã gửi thư tới nguyên Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, nhấn mạnh những lợi ích cạnh tranh của các chính sách hỗ trợ năng lượng sạch và thúc giục triển khai thí điểm DPPA, một chương trình vốn được mong đợi từ lâu bởi các công ty muốn mua điện sạch với số lượng lớn.“Việc thực thi chương trình thí điểm DPPA sẽ cho phép ngành công nghiệp ở Việt Nam đạt được mục tiêu 100% năng lượng tái tạo trước các nước khác trong khu vực nhiều năm, giúp Việt Nam có lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ khi các công ty đưa ra quyết định về nguồn cung cấp sản phẩm”, nhóm đề nghị.
Nhu cầu về điện sạch là rất lớn và cần được đưa vào quy hoạch phát triển điện lực quốc gia nếu Chính phủ muốn đặt mục tiêu cho Việt Nam trở thành một trung tâm lớn của nhiều ngành công nghiệp.Thêm lựa chọn, cạnh tranh về chi phí và hợp tácMay mắn thay, Việt Nam không phải là nơi đầu tiên đối mặt với thách thức cải thiện cấu trúc thị trường điện để giải quyết nhu cầu năng lượng sạch.
Các nguyên tắc và hướng tiếp cận chính đã được thực hiện hiệu quả tại nhiều thị trường mà Chính phủ và các bên liên quan tại Việt Nam có thể dựa vào để xây dựng, với ba trụ cột chính: thêm lựa chọn (cho người tiêu dùng điện), cạnh tranh về chi phí, và hợp tác.
Lựa chọn
Giống như người tiêu dùng của mọi sản phẩm, người mua điện tìm kiếm cho mình nhiều lựa chọn mua bán. Ví dụ, điện mặt trời mái nhà phù hợp với nhiều doanh nghiệp. Thỏa thuận mua bán điện (PPA), hay chương trình DPPA sắp tới là cần thiết cho các công ty trong nhiều lĩnh vực đang tìm kiếm năng lượng sạch.Chính phủ Việt Nam có thể hỗ trợ cải thiện các lựa chọn của người tiêu dùng điện bằng việc đảm bảo các chính sách và cơ chế chính sách như PPA, DPPA trở nên thường trực và là nền tảng lâu dài trong quy hoạch phát triển điện quốc gia. Hơn nữa, khi thị trường điện bán lẻ cạnh tranh sắp được khởi động, các lựa chọn cho năng lượng sạch cần được ưu tiên bởi tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các cơ quan quản lý của Bộ Công Thương.
Cạnh tranh về chi phí
Rõ ràng năng lượng tái tạo ngày càng rẻ hơn so với các nguồn điện truyền thống và thị trường điện Việt Nam cần tạo ra một sân chơi bình đẳng cho nguồn điện mới. Điều tích cực là các bước quan trọng đang được thực hiện theo hướng này tại Việt Nam, như cơ chế đấu giá được lên kế hoạch cho năm 2021 và thí điểm DPPA sẽ cho phép người mua điện trong công nghiệp đàm phán trực tiếp với nhà máy phát điện. Điều này cũng sẽ cung cấp cho nhà sản xuất điện và người tiêu dùng nhìn thấy rõ ràng hơn các chi phí như sản xuất và truyền tải điện.
Hợp tác
Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện ngày càng tăng, dự kiến hơn 8% mỗi năm trong thập kỷ tới, Việt Nam cần khoảng 130 tỉ đô la Mỹ đầu tư vào cơ sở hạ tầng ngành điện. Việt Nam đã đưa ra nhiều tín hiệu tích cực, gồm Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, trong đó cho phép tư nhân đầu tư vào cơ sở hạ tầng điện, sẽ rất cần thiết cho nhu cầu này.Tuy nhiên, Việt Nam khó có thể bắt kịp với nhu cầu đó nếu thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa Nhà nước và tư nhân. Điều này đúng đối với các nhà đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng và cả người tiêu dùng, đặc biệt là các công ty tiêu thụ điện lớn tại Việt Nam, các đơn vị có mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính và có khả năng chi trả cho năng lượng sạch.Khi người tiêu dùng điện có thêm nhiều cơ hội lựa chọn năng lượng sạch với các tiếp cận thuận tiện, giá hợp lý – và Chính phủ tạo ra một môi trường thị trường minh bạch, cạnh tranh – Việt Nam sẽ đến lúc giữ vị trí dẫn đầu về năng lượng sạch và hành động vì khí hậu trong khu vực, đồng thời củng cố vị thế ảnh hưởng của quốc gia trong nhiều năm tới.
Tác giả (1 ) Evan Scandling là Giám đốc của Allotrope Partners và là đồng lãnh đạo Chương trình thúc đẩy đầu tư năng lượng sạch Việt Nam (CEIA Việt Nam). (2) Tiến sĩ Đào Thu Hằng là chuyên gia năng lượng bền vững của Viện Tài nguyên thế giới và đồng lãnh đạo CEIA Việt Nam. (3) Alex Perera là Phó giám đốc Chương trình Năng lượng toàn cầu của Viện Tài Nguyên thế giới và là đồng lãnh đạo CEIA toàn cầu.(*) Chương trình Thúc đẩy đầu tư năng lượng sạch (CEIA) là một sáng kiến đa quốc gia kéo dài nhiều năm do Phòng thí nghiệm Năng lượng tái tạo quốc gia Mỹ (NREL), Viện Tài nguyên thế giới (WRI), và Allotrope Partners đồng sáng lập và thực hiện, hoạt động thông qua hợp tác công – tư thúc đẩy các giải pháp năng lượng sạch tại các thị trường mới nổi trên thế giới.
Việt Nam hiện đứng thứ 5 trên thế giới về xuất khẩu chè, đứng thứ 7 về sản xuất chè toàn cầu. Sản phẩm chè của Việt Nam hiện đã được xuất sang 74 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, theo đánh giá, khoảng 90% sản lượng chè của nước ta xuất khẩu ở dạng thô, giá bán thấp và được tiêu thụ dưới thương hiệu của các nhà nhập khẩu. Cùng với đó, hoạt động sản xuất chè còn nhiều hạn chế bất cập… Do vậy, để nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển bền vững, ngành Chè đang áp dụng và triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm đổi mới quy trình sản xuất, chế biến, nâng cao giá trị xuất khẩu, hạn chế những bất cập, từng bước xây dựng thương hiệu chè Việt trên thế giới.
TTO – Chỉ trong vòng 2 năm gần đây, VN có thêm 35 sân golf, nâng tổng số sân golf cả nước lên 75 sân. Các địa phương đang đua nhau làm sân golf nên hàng trăm sân golf khác dự kiến sẽ hoạt động trong những năm tới.
Ảnh: QUANG ĐỊNH
Theo các chuyên gia, đang có tình trạng các chủ dự án lợi dụng việc cho phép sử dụng 10% tổng diện tích đất sân golf xây dựng các công trình phục vụ hoạt động sân golf để xây khách sạn, biệt thự nghỉ dưỡng phục vụ mục đích kinh doanh trái phép.
Năm 2018, chính phủ Ấn Độ đã từng phải nhượng bộ các công ty thực phẩm lớn và hoãn quyết định cho dán nhãn cảnh báo đỏ lên các bao bì thực phẩm có hại cho sức khỏe người tiêu dùng.
Đồng thời, để xoa dịu dư luận chỉ trích hành động trên, chính phủ Ấn Độ cũng thành lập một ủy ban thẩm định hệ thống dán nhãn cảnh báo thực phẩm đang trong giai đoạn đề xuất. Nếu hoàn thiện và đưa vào vận hành hệ thống dán nhãn này, Ấn Độ sẽ trở thành quốc gia đi đầu thế giới trong cuộc chiến chống béo phì đang diễn ra hết sức cam go.
Nhưng người được chọn làm lãnh đạo ủy ban (có 3 thành viên) này lại là một người khiến dư luận càng bất bình nhiều hơn. Đó là tiến sĩ Boindala Sesikeran, một chuyên gia dinh dưỡng kỳ cựu từng làm cố vấn dinh dưỡng cho tập đoàn Nestlé.
Gần đây, nhiều địa phương như Nha Trang, Đà Nẵng, Vũng Tàu, các chính quyền đã có những động thái thu hồi các dự án hết thời hạn thuê đất, các dự án treo để giành lại các bãi biển cho cộng đồng, tăng cường các không gian công cộng (KGCC) cho cư dân đô thị và du khách. Đây là những nỗ lực đáng được ghi nhận, thể hiện sự lắng nghe phản ứng của dư luận và tiếng nói của người dân, dẫn đến sự điều chỉnh xu hướng trong tiến trình dẫn dắt phát triển của các chính quyền địa phương.
Nhưng, dường như đây mới chỉ là những điểm sáng nhỏ, chưa đủ để trở thành một xu hướng đảo ngược: đòi lại bờ biển cho KGCC…
Người dân bản địa Phú Quốc từng bức xúc vì bị các khu du lịch hạn chế tiếp cận bãi biển. Ảnh: T.M
nguoidothi – 20:39 | Thứ hai, 12/04/2021 Sự cố sửa chữa làm tan nát nhà nguyện của tu viện cổ Franciscaines ở Đà Lạt mới đây (9.3), một lần nữa gióng lên tiếng chuông báo động “sạt lở di sản trong lòng đô thị” (*). Tuy nhiên, trong khi các di sản kiến trúc hay, đẹp bị xóa bỏ hoặc hư hao không ngừng thì cùng lúc không ít các công trình xây dựng mới gây tổn hại mỹ quan chung, vẫn liên tục ra đời.
Hiện trường tu viện Franciscaines khi tháo dỡ. Ảnh: Lâm Viên/Báo Thanh niên
Nhiều cao ốc “lạ lùng” đã và đang xuất hiện dày đặc, làm biến đổi khung cảnh các khu phố từng làm nên hồn cốt các đô thị. Những năm gần đây, nhiều tòa nhà công cộng, tượng đài, công viên và ngay cả cầu đường có kiểu dáng kệch cỡm hay màu sắc dị dạng đã gây “bão dư luận” trong cư dân tại chỗ và với cả du khách.
Theo lý giải của lãnh đạo Bệnh viện Bạch Mai việc 221 người lao động của Bệnh viện xin nghỉ việc, chuyển việc trong một thời gian ngắn là điều bình thường.
Ông Nguyễn Quang Tuấn, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai khẳng định, từ năm 2020 đến nay có 221 bác sĩ, nhân viên y tế của Bệnh viện xin nghỉ việc, chuyển việc. Và để bù vào đơn vị đã tuyển dụng hơn 500 cán bộ y tế… chất lượng cao!
Theo lý giải của lãnh đạo Bệnh viện Bạch Mai việc 221 bác sĩ của bệnh viện xin nghỉ việc, chuyển việc trong một thời gian ngắn là điều bình thường
Welcome to the 7th edition of the National Intelligence Council’s Global Trends report. Published every four years since 1997, Global Trends assesses the key trends and uncertainties that will shape the strategic environment for the United States during the next two decades.
Global Trends is designed to provide an analytic framework for policymakers early in each administration as they craft national security strategy and navigate an uncertain future. The goal is not to offer a specific prediction of the world in 2040; instead, our intent is to help policymakers and citizens see what may lie beyond the horizon and prepare for an array of possible futures.
Each edition of Global Trends is a unique undertaking, as its authors on the National Intelligence Council develop a methodology and formulate the analysis. This process involved numerous steps: examining and evaluating previous editions of Global Trends for lessons learned; research and discovery involving widespread consultations, data collection, and commissioned research; synthesizing, outlining, and drafting; and soliciting internal and external feedback to revise and sharpen the analysis.
A central component of the project has been our conversations with the world outside our security gates. We benefited greatly from ongoing conversations with esteemed academics and researchers across a range of disciplines, anchoring our study in the latest theories and data. We also broadened our contacts to hear diverse perspectives, ranging from high school students in Washington DC, to civil society organizations in Africa, to business leaders in Asia, to foresight practitioners in Europe and Asia, to environmental groups in South America. These discussions offered us new ideas and expertise, challenged our assumptions, and helped us to identify and understand our biases and blind spots.
One of the key challenges with a project of this breadth and magnitude is how to organize all the analysis into a story that is coherent, integrated, and forward looking. We constructed this report around two central organizing principles: identifying and assessing broad forces that are shaping the future strategic environment, and then exploring how populations and leaders will act on and respond to the forces.
Based on those organizing principles, we built the analysis in three general sections. First, we explore structural forces in four core areas: demographics, environment, economics, and technology. We selected these areas because they are foundational in shaping future dynamics and relatively universal in scope, and because we can offer projections with a
reasonable degree of confidence based on available data and evidence. The second section examines how these structural forces interact and intersect with other factors to affect emerging dynamics at three levels of analysis: individuals and society, states, and the international system. The analysis in this section involves a higher degree of uncertainty because of the variability of human choices that will be made in the future. We focus on identifying and describing the key emerging dynamics at each level, including what is driving them and how they might evolve over time. Finally, the third section identifies several key uncertainties and uses these to create five future scenarios for the world in 2040. These scenarios are not intended to be predictions but to widen the aperture as to the possibilities, exploring various combinations of how the structural forces, emerging dynamics, and key uncertainties could play out.
When exploring the long-term future, another challenge is choosing which issues to cover and emphasize, and which ones to leave out. We focused on global, long-term trends and dynamics that are likely to shape communities, states, and the international system for decades and to present them in a broader context. Accordingly, there is less on other nearterm issues and crises.
We offer this analysis with humility, knowing that invariably the future will unfold in ways that we have not foreseen. Although Global Trends is necessarily more speculative than most intelligence assessments, we rely on the fundamentals of our analytic tradecraft: we construct arguments that are grounded in data and appropriately caveated; we show our work and explain what we know and do not know; we consider alternative hypotheses and how we could be wrong; and we do not advocate policy positions or preferences. Global Trends reflects the National Intelligence Council’s perspective on these future trends; it does not represent the official, coordinated view of the US Intelligence Community nor US policy.
We are proud to publish this report publicly for audiences around the world to read and consider. We hope that it serves as a useful resource and provokes a conversation about our collective future.
Finally, a note of gratitude to colleagues on the National Intelligence Council and the wider Intelligence Community who joined in this journey to understand our world, explore the future, and draft this report.
The Strategic Futures Group
National Intelligence Council
March 2021
Không chỉ thâu tóm gần 70% thị phần thức ăn chăn nuôi với giá cao hơn 20% so với khu vực, các doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn thống trị cả ngành chăn nuôi với mô hình khép kín. Làm thế nào để phá thế độc quyền của các DN này đang là mối quan tâm hàng đầu của DN nội và cơ quan quản lý.
Phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu, nên doanh nghiệp nội chưa thể lấy lại thị phần trong một sớm, một chiều
Số liệu từ Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi cho thấy, hiện cả nước có 239 nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi, trong đó 180 nhà máy là của các doanh nghiệp trong nước, 59 là của các liên doanh và DN FDI. Số nhà máy liên doanh và FDI không nhiều, song công suất lớn, sản lượng cao, chiếm thị phần lớn hơn nhiều so với DN trong nước. Chỉ tính riêng hai công ty là CP và Cargill đã chiếm gần 30% thị phần thức ăn chăn nuôi.