Nhạc sỹ Vũ Xuân Hùng: Đã từng có một phong trào chuyển ngữ và Việt hóa nhạc trẻ

Phununews Thứ hai, 27-02-2017 | 14:46 GMT+7

 

 

Là tác giả chuyển ngữ của hàng trăm ca khúc nổi tiếng của những thập niên 60-70 tại Sài Gòn xưa. Ca khúc của Vũ Xuân Hùng đã trở nên quen thuộc với khán giả yêu nhạc…

Sau sự vụ bản quyền với ca sỹ Mỹ Tâm, nhóm PV Phununews tiếp tục có cuộc trò chuyện với nhạc sĩ Vũ Xuân Hùng tác giả của bài Anh Thì Không, để tìm hiểu thêm về gia tài âm nhạc cũng như những cuốn băng Tình Ca Nhạc Trẻ  rất nổi tiếng Sài gòn thập niên 60-70 của ông.

Nhac sy Vu Xuan Hung: Da tung co mot phong trao chuyen ngu va Viet hoa nhac tre

Thưa ông , được biết trước đây ông xuất thân từ một nhà giáo. xin ông cho biết nguyên nhân nào đã đưa đẩy ông từ lãnh vực giáo dục sang lãnh vực âm nhạc , sau đó ông lấn sang phần đất nhạc Trẻ , chuyển ngữ  hàng trăm nhạc phẩm nước ngoài đã được các ca sĩ trong và ngoài nước trình diễn và  thực hiện những cuốn Tình Ca Nhạc Trẻ nổi tiếng được đông đảo mọi người yêu thích ? 

Tiếp tục đọc “Nhạc sỹ Vũ Xuân Hùng: Đã từng có một phong trào chuyển ngữ và Việt hóa nhạc trẻ”

Sài Gòn của tôi, 50 năm trước

sg1

Tác Giả: Nguyễn Đạt

Ðặt chân tới Sài Gòn năm 1954 [vậy bài này viết khoảng 2004.], lúc ấy tôi là đứa bé 9 tuổi, theo gia đình từ miền Bắc di cư vào miền Nam tự do. Ký ức của đứa bé 9 tuổi hẳn nhiên không thể ghi nhận được gì nhiều; nhưng đứa bé lớn lên và sinh sống tại Sài Gòn từ thuở ấy tới bây giờ, đã giúp tôi dễ dàng gợi dậy trong ký ức, ít nhất là những hình ảnh đậm nét của Sài Gòn, 50 năm về trước.

Ấn tượng về Sài Gòn trong tôi từ lúc ấy tới bây giờ cũng không phai nhạt bao nhiêu, dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua. Ấn tượng sâu đậm, bởi Sài Gòn những ngày tháng ấy quá mới lạ trong tâm trí tôi, đứa trẻ đã trải qua một đoạn đời ấu thơ tại Hà Nội.

Ðiều đầu tiên tôi nhận biết lúc ấy, tôi nói với cha tôi, là Sài Gòn có vẻ rất Tây so với Hà Nội. Cha tôi bảo, bởi vì một trăm năm Pháp thuộc, Sài Gòn và miền Nam là thuộc địa; trong khi Hà Nội của miền Bắc là bảo hộ. Tiếp tục đọc “Sài Gòn của tôi, 50 năm trước”

Xin lỗi và bồi thường chiến tranh trong quan hệ quốc tế ; Kinh nghiệm lịch sử trong quan hệ Việt – Mỹ

  • VHNA –  NGUYỄN THÁI YÊN HƯƠNG
  • Thứ ba, 26 Tháng 5 2015 21:26

                                                                Hòa giải và giảng hòa một cách chân tình không có nghĩa là chúng ta quên quá khứ

Nelson Maldela

Trong quan hệ quốc tế nói chung, vấn đề xin lỗi và bồi thường chiến tranh là một vấn đề luôn song hành với quan hệ giữa các nước trong quá trình hàn gắn vết thương để đến bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Đây là vấn đề đã được nhiều nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế đề cập theo góc độ xã hội, lịch sử. Tiếp tục đọc “Xin lỗi và bồi thường chiến tranh trong quan hệ quốc tế ; Kinh nghiệm lịch sử trong quan hệ Việt – Mỹ”

Đạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam – Phần II: Chương Bốn: Những khó khăn trong việc áp dụng điều 9

image

Luận án Tiến Sĩ Quốc Gia Khoa Học Chính Trị Đại Học Paris.

Trong khi điều 2 của hiệp ước 1862 chỉ nêu lên nguyên tắc tự do theo đạo Thiên Chúa mà không buộc chính phủ Việt nam có nghĩa vụ cụ thể nào đối với công dân theo đạo , thì điều 9 hiệp ước 1874 , công nhận cho những người này một mức độ độc lập đối với luật pháp xứ sở, đã làm nguy hại trầm trọng uy quyền vua Tự Đức và đe dọa ngay cả nền tảng của truyền thống quân chủ của Vương quốc . Tiếp tục đọc “Đạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam – Phần II: Chương Bốn: Những khó khăn trong việc áp dụng điều 9”

‘Việc khai ấn ở đền Trần Tức Mặc là một xuyên tạc lịch sử’

08/02/2017 14:15 GMT+7

TTO – Chuyện khai ấn – phát ấn ngày một tràn lan trên nhiều tỉnh thành. Nhiều tệ nạn cũng sinh ra từ đó…

Đầu tiên là Nam Định nâng cấp lễ hội làng Tức Mặc thành lễ hội cấp quốc gia. Sau đó “đẻ” ra chuyện khai/phát ấn ở đền Trần Thương (Nhân Đạo, Lý Nhân, Hà Nam), đền Trần Tam Đường (Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình), ở khu văn hóa núi Bài Thơ (TP Hạ Long, Quảng Ninh), khu di tích Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội)… Tiếp tục đọc “‘Việc khai ấn ở đền Trần Tức Mặc là một xuyên tạc lịch sử’”

Một tư tưởng nữ quyền tiên phong và thấu đáo

– Bùi Trân Phượng

bia

Nam nữ bình quyền do ĐH Hoa Sen và NXB Hồng Đức tái bản, quý 3/2014
(tin Thể Thao & Văn Hoá)

Đặng Văn Bảy (1903-1983) là tác giả sớm nhứt ở Nam bộ đã viết về nữ quyền. Nam nữ bình quyền được viết ở Vĩnh Long từ đầu tháng 8 năm 1925 đến đầu tháng 7 năm 1927, xuất bản năm 1928 ở Sài Gòn và bị cấm khoảng một năm sau đó.

Nay đọc lại, chúng ta thấy đây thực sự là một tiếng nói tiên phong đấu tranh cho quyền bình đẳng nam nữ, bảo vệ quyền làm người của phụ nữ. Là một trong những tiếng nói sớm nhứt về vấn đề nầy, Nam nữ bình quyền của Đặng Văn Bảy đồng thời xứng đáng được coi là suy nghĩ và diễn ngôn vào loại đi xa nhứt trong sự đặt lại vấn đề, thách thức trật tự lâu đời và hiện hữu, trật tự trong quan hệ giới, và cả trong quan hệ giữa người cai trị và bị trị, giữa người áp bức và bị áp bức. Tiếp tục đọc “Một tư tưởng nữ quyền tiên phong và thấu đáo”

Phát triển bền vững ở Tây Nguyên

– Tính nghiêm trọng của các vấn đề Tây Nguyên. Làm gì để giải quyết?

Nguyên Ngọc

I – Một số nét tổng quan

A – Khái niệm Tây Nguyên :

Theo địa lý hành chính hiện nay, Tây Nguyên gồm có năm tỉnh, kể từ bắc vào nam : Kontum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng.

Tiếp tục đọc “Phát triển bền vững ở Tây Nguyên”

Hạnh phúc nơi tình người vẫy gọi

Hoàng Thiên Nga

          Mắt ông không còn nhìn thấy nữa, nhưng tựa vào cánh tay gầy của bà, đôi tình nhân không tuổi ấy không ngần ngại chọn Việt Nam làm đích trở lại hằng năm cho tới khi nào còn có thể, chỉ để được giúp đỡ và sẻ chia…

Tay trong tay đôi tình nhân không tuổi hạnh phúc đi khắp thế giới
Tay trong tay đôi tình nhân không tuổi hạnh phúc đi khắp thế giới

Tiếp tục đọc “Hạnh phúc nơi tình người vẫy gọi”

Về Quê Ăn Tết Với Cái Bụng Đói


Nhìn chung, đối với nhiều người trong chúng ta, dù gì thì cuộc sống trong nước hiện nay cũng ít nhiều dễ chịu hơn so với cái thời ‘ăn độn’ thập niên 80. Có vài cái Tết trong cái thời khó khăn, thiếu thốn đủ mọi mặt ấy đã để lại trong tâm khảm tôi dư vị thật chua chát, nay ngồi chợt nhớ lại mà không khỏi chạnh lòng áy náy, sượng sùng với chính mình và tội nghiệp mình quá!

Khi tôi đi học tập cải tạo về rồi lập gia đình (1977) thì thời thế sau 30 tháng 4  đã chất chồng khó khăn về mọi mặt. Gia đình cha mẹ, anh em tôi thì ở Sài Gòn, gia đình bên vợ tôi thì ở Vũng Tàu, cách nhau khoảng hơn 100 cây số, còn tôi thì sau ngày học cải tạo về đã bị chỉ định phải nhận việc ở một nông trường vùng Củ Chi, cách Sài Gòn 45 cây số. Bên nào cũng nghèo, nhất là nhà bên ba má tôi rất chật hẹp, nên vợ tôi cùng hai đứa con phải về nhờ đỡ bên ông bà ngoại ở Vũng Tàu. Ngày thường thì đã phải sống xa vợ con, cha mẹ nên mùa Tết đến là tôi lại đắn đo và thường là tôi chọn (gọi là) ăn Tết ở quê vợ, vì dù sao cũng là gần vợ, gần con mình.

Thế là, khoảng 27, 28 tháng chạp, từ Củ Chi về Sài Gòn là tôi chỉ ngủ lại một đêm, rạng sáng hôm sau lại tất tả ra bến xe miền Đông đón xe về Vũng Tàu. Cái thời các năm 1976- 1979 ấy, phương tiện giao thông công cộng rất eo hẹp và khó khăn, vài năm đầu còn phải đi xe than. Vì xăng dầu khan hiếm, ngày thường xe khách tại bến rất ít chuyến, còn vào mùa Tết, có tăng cường thêm xe nhưng không bao giờ đủ cho nhu cầu người dân đổ xô về quê ăn Tết. Do đó, tôi phải thức dậy lúc 3 – 4 giờ sáng, vội vội vàng vàng kiếm xe lam chạy ra bến xe, xếp vào cái hàng người đã dài thượt trước quấy vé, thấp thỏm chờ mua cho được chiếc vé giá chính thức quý giá để về quê vợ, mới mong có mặt bên cạnh vợ con trong ba ngày Tết.

Có năm, liên tiếp các chiều 29, 30 tháng chạp tôi lại thất thểu quay về nhà ba mẹ, vì dù nhịn cả cơm trưa, đứng lì tại chỗ, không dám bỏ hàng nhưng kết quả thảm hại là không hề mua được vé chính thức vào các ngày cao điểm cận Tết này. Khoảng vào giấc 5 giờ chiều, hàng người còn không bao nhiêu nhưng loa phóng thanh ở bến đã lạnh lùng thông báo: “Đã hết vé tuyền đường Bà Rịa – Vũng Tàu. Bến xe sẽ bán vé tiếp vào 4 giờ 30 sáng mai. Mời bà con về nghỉ hoặc tìm phương tiện khác mà đi!”. ‘Phương tiện khác’ có nghĩa là xe chui, xe dù đậu rải rác quanh bến xe, 8 – 9 giờ đêm cũng còn nhưng vé giá chợ đen gấp 2 – 3 lần giá chính thức tại quầy vé.

Tôi buồn rầu, nhớ vợ con đến quặng cả lòng và vô cùng nóng ruột (thời đó không có điện thoại bàn hay đi động tràn ngập như bây giờ để gọi cho vợ con đỡ mong ngóng) nên tính toán đổi ‘chiến thuật’, đó là sáng sớm mùng Tết mới ra bến xe. Sáng đó cũng có vài chuyến xe về Vũng Tàu và được cái là khách rất vắng, mua vé chính thức rất dễ… Niềm hạnh phúc lớn lao của tôi năm đó là dù hơi muộn nhưng trưa mồng 1 Tết tôi đã được có mặt bên vợ con ở quê vợ.

Cũng là niềm hạnh phúc đơn sơ, mộc mạc ấy là vào ngày thường, chờ dịp cuối tháng lãnh lương, tôi vất vả làm cuộc hành trình Củ Chi – Sài Gòn – Vũng Tàu về với vợ con mình. Chuyến đi chỉ dài tổng cộng 145 – 150 cây số nhưng từ khoảng 9 – 10 giờ sáng thứ bảy, tôi đã ‘dù’ sớm (11 giờ 30 mới hết giờ làm việc tại nông trường bộ) sau khi không quên xuống nhà bếp báo cắt cơm đến hết bữa điểm tâm sáng thứ hai tới, leo hàng rào ra hương lộ 7 (dài 3 cây số) mà lội bộ thật nhanh ra tới quốc lộ 13 rồi quắt xe Daihatsu hay xe đò nhỏ về ngã tư Bảy Hiền, từ đây lại xe lam, xe bus về bến xe Miền Đông. Phải tất bật tranh thủ thời gian như thế để kịp đứng vào hàng, chờ đến 12 giờ trưa là phòng vé rục rịch bán vé tiếp cho buổi chiều.

Không hiểu sao cái gã thanh niên xung phong/nông trường viên gốc nhà giáo, tuổi đã trung niên là tôi thời đó lại khỏe đến thế, vì suốt cuộc hành trình tất tả về thăm vợ con, thường là tôi nhịn đói hay chỉ ‘thủ’ gói xôi hay ổ bánh mì không để ăn trưa, nước uống thì đã có bình toong nhà binh mang theo, nghĩa là sao cho ít tốn nhất để tháng lương được giữ cứng nguyên trong túi. Thèm thuốc lá thì tôi đã có loại thuốc ‘cũi’ Quốc Hùng, chỉ mấy đồng là được một bó.

Tất nhiên, bây giờ nói ra vẫn thấy xấu hổ, là khi ngồi trên xe đò ‘tịnh tâm’( không ăn nên tâm hồn thanh tịnh!) và ‘tịnh khẩu’ (có gì bỏ vô miệng đâu nên miệng cũng rất sạch sẽ, thanh tịnh) như thế, tôi đã không khỏi ước ao, thèm thuồng trước đủ thứ món ăn vặt, giá rẻ mạt, bán tại bến xe hay ở những chặng xe dừng bắt thêm khách, bất kể là ổ bánh mì thịt, gói xôi mặn tôm khô, chai nước ngọt hay củ khoai lang, khoai mì, bịch mía ghim…

Còn xấu hổ hơn là một lần, khi xe dừng lâu ở ngã ba Vũng Tàu, quà bánh rao bán nườm nượp, ngồi bên cạnh tôi là một anh nói giọng Bắc, có vẻ hiền lành với cặp kính cận và chiếc sơ mi trắng, đã mua một bịch đậu hủ chiên chấm muối tiêu, mời tôi một miếng. Tôi đã lịch sự’ từ chối và cám ơn anh đã mời.

Tôi làm bộ ngó chỗ khác – khốn nỗi ngay lúc này bao tử tôi lại chơi xấu, cứ sôi lên òn ọt như kêu gào, nhắc nhở… – khi anh ta nhấm nháp hết miếng đậu thứ nhất. Rồi anh lại gật gù: “Chà, cái thứ quà này rẻ thôi mà ăn cũng thích thích ấy chứ!”, rồi quay sang tôi chìa bịch đậu ra ân cần mời lần nữa:“Này, anh cứ thử một miếng đi, quà vặt rẻ mạt ấy mà, có gì mà ngại!”.

Trước thành ý của người lạ này, tôi đã buông thả ý thức tự trọng mà mình, ‘nhắm mắt đưa …tay’ mà nhón lấy một miếng đậu hủ.

Xưa nay có ai lạ gì món đậu hủ chiên nhưng lúc này, riêng đối với tôi, phải nói là cái miếng đậu hủ nhỏ chỉ bằng hai ngón tay, đạm bạc và lạt lẽo ấy lại ngon, thơm cực kỳ!

Nhưng đồng thời tôi cũng chua chát nhận ra là trước đó vài phút, cái mà người ta xem chỉ là “quà vặt, rẻ thôi mà” ấy mỉa mai lại có luôn trong danh sách những thứ mà tôi đã xốn xang ước gì mình có thể thong dong mua ăn – một tí thôi – để dỗ dành cái dạ dày lép kẹp.

Suốt chuyến đi gọi là về quê ĂN tết thời ấy – đúng hơn là một thảm kịch vong thân bởi cái ĂN, tôi đã chịu đói đến hoa mắt, mệt mỏi giằng co giữa một bên là ý định bỏ đại ra vài đồng mua cái gì đó ăn cho đỡ đói, một bên là quyết tâm phải hết sức tiện tặn, giữ thật nguyên vẹn số tiền lương còm cõi để giao hết cho vợ con…

PHẠM NGA

(Trích bút ký Về Quê Ăn Tết)

 

T

Đạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam – Phần II: Chính sách thực dân và Chính sách của các vị truyền giáo tại Bắc kỳ

Luận án Tiến Sĩ Quốc Gia Khoa Học Chính Trị Đại Học Paris.

Vấn đề người Pháp giải quyết ở Bắc kỳ không phải là tôn giáo mà là buôn bán. Bắc kỳ bên cạnh Trung quốc và Trung quốc với số dân 400 triệu đã làm cho các nước kỷ nghệ phương Tây thèm thuồng. Tiếp tục đọc “Đạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam – Phần II: Chính sách thực dân và Chính sách của các vị truyền giáo tại Bắc kỳ”

Đạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam

image

Luận án Tiến Sĩ Quốc Gia Khoa Học Chính Trị Đại Học Paris.

“Truyền bá Thiên Chúa giáo, điều nầy đem lợi ích gì cho việc chiếm đất thuộc địa” . không một ai chối cải điều đó, trừ những người có thiên kiến…. Đức ông Guebriant, vị Tổng quản trị bề trên của phái bộ truyền giáo ngoại quốc tại Paris đã viết như thế trong tờ “Thông Tin” số ngày 25-1-1931 (1). Tiếp tục đọc “Đạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam”

Donald Trump Is Making the Great Man Theory of History Great Again

The president-elect’s unpredictable rise is forcing historians and social scientists to rethink their most basic assumptions about how the world works.

The imminent ascension to the U.S. presidency of Donald Trump, a man whose supporters and detractors both agree is exceptional in the context of American history, raises a question which historians and social scientists generally prefer to shy away from: To what extent does historical change depend on the actions of a handful of unusual individuals — history’s archetypal Great Men and Women — as opposed to large-scale, long-term, impersonal forces?

Professional academics — historians, political scientists, sociologists, among others — who have tried to offer perspective on Trump’s victory and upcoming presidency have generally emphasized the latter. They tend to identify the key phenomenon of the 2016 election as “populism” — an upsurge of hostility to elites, which they explain by reference to the changing social and cultural conditions that left a large group of white Americans economically vulnerable, fearful of outsiders, and bitterly resentful. They credit Trump with successfully mobilizing this group but devote more analysis to the social phenomenon than to Trump himself.

But the explanatory power of populism may be far stronger for explaining the election than in forecasting what is about to happen next. Though impersonal forces may have given rise to Trump, the president-elect himself resists analysis as a predictable, impersonal force. And so, even as Trump claims a mandate to remake the United States, he may force social scientists and historians to look beyond their usual analytical tools in order to explain his presidency. Tiếp tục đọc “Donald Trump Is Making the Great Man Theory of History Great Again”