Những đứa trẻ cho rằng (được dạy rằng) người khác có xu hướng thù ghét mình – bản thân trẻ sẽ có xu hướng hung hăng

English: Kids expecting aggression from others become aggressive themselves

Trẻ em được dạy phải cảnh giác với sự thù ghét từ người khác có xu hướng hành xử hung hăng

Việc cảnh giác quá mức tới lo lắng đối với sự thù ghét từ người khác sẽ kích hoạt thái độ hung hăng ở trẻ em, một nghiên cứu mới đây cho biết. Nghiên cứu bao gồm 1299 trẻ em và phụ huynh tham gia, được thực hiện theo chiều dọc -longitudinal study – (1) kéo dài trong 4 năm, nghiên cứu lớn nhất từ trước đến nay về đề tài này. Phát hiện của nghiên cứu là một khuynh hướng đúng với 12 nhóm văn hoá khác biệt từ 9 nước khác nhau trên toàn thế giới.

Young people fighting.
Credit: © Monkey Business / Fotolia

Sciencedaily –

Khuynh hướng này phổ biến hơn ở một số quốc gia, so với các quốc gia khác khác, điều này giúp lý giải tại sao một số nền văn hoá có nhiều vấn đề trẻ em cư xử hung hăng hơn các nền văn hoá khác, theo như nghiên cứu cho biết.

Các phát hiện, được xuất bản trực tuyến vào ngày thứ hai trong Bản lưu của Học viện Khoa học Quốc gia (Proceedings of the National Academy of Sciences), chứa nhiều hàm ý. Hàm ý chỉ ra không chỉ đối với việc giải quyết các vấn đề về thái độ thù ghét ở các cá nhân, mà còn đối với việc hiểu rõ hơn về những mâu thuẫn có từ lâu và trên diện rộng giữa các nhóm như xung đột A rập – I-sa-rel và xung đột sắc tộc ở Mỹ.

“Nghiên cứu của chúng tôi nhận ra được quá trình tâm lý cơ bản để dẫn một đứa trẻ đến bạo lực,” Kenneth A. Dodge, giám đốc của Trung tâm Chính sách Gia đình và Trẻ em tại Đại học Duke đồng thời là tác giả chính của nghiên cứu nói.

“Khi một đứa trẻ cho rằng mình đang bị đe doạ bởi ai đó và cho rằng người khác đang hành động với ý định gây hấn, thì đứa trẻ đó dường như sẽ phản ứng lại bằng sự hung hăng. Nghiên cứu này chỉ ra rằng kiểu hành xử này là phổ biến đối với tất cả mọi người trong 12 nhóm văn hoá được nghiên cứu trên toàn thế giới.”
“Nghiên cứu của chúng tôi cũng chỉ ra rằng các nền văn hoá khác nhau trong cách tác động khiến trẻ em trở nên đề phòng theo cách này, và những khác biệt khác giải thích tại sao một số nền văn hoá có những đứa trẻ hành xử hung hăng hơn các nền văn hoá khác” Dodge nói. “Nó hướng đến nhu cầu thay đổi cách chúng ta tác động khiến những đứa trẻ của chúng ta trở nên ôn hoà hơn, khoan dung hơn và bớt phòng thủ hơn.” Tiếp tục đọc “Những đứa trẻ cho rằng (được dạy rằng) người khác có xu hướng thù ghét mình – bản thân trẻ sẽ có xu hướng hung hăng”

Cuộc hồi sinh của “Thổ dân” La Hủ – 4 kỳ

CUỘC HỒI SINH CỦA “THỔ DÂN” LA HỦ – KỲ 1: 

“Xá Lá Vàng” – phận đời như lá

01/03/2016 09:30 GMT+7

TTTháng 9-2011, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định phê duyệt “đề án phát triển kinh tế xã hội” cho bốn tộc người có nguy cơ “báo động đỏ” về giảm thiểu dân số là Mảng, La Hủ, Cống và Cờ Lao. 

“Xá Lá Vàng” - phận đời như lá
Một gia đình La Hủ giữa rừng khi chưa được đưa về định cư – Ảnh: Đ.Duẩn

Nhưng từ năm 2009, những người lính biên phòng ở Lai Châu đã âm thầm giữa rừng sâu biên giới, bền bỉ hồi sinh cho một trong bốn tộc người kể trên. Số phận những người La Hủ ở huyện Mường Tè (Lai Châu) đã thay đổi rất nhiều kể từ đó. Tiếp tục đọc “Cuộc hồi sinh của “Thổ dân” La Hủ – 4 kỳ”

Giáo dục có thể đánh bại bất bình đẳng?

­­­­­­English: Can education beat inequality?

Teacher Reginald Sikhwari poses for a picture with his class of grade 11 students at Sekano-Ntoane school in Soweto, South Africa, September 17, 2015.
 Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm nay thách thức những người tham dự suy nghĩ và đánh giá“Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, một kỷ nguyên của những tiến bộ công nghệ chóng mặt sẽ tác động mạnh đến các ngành công nghiệp và làm thay đổi tương lai theo những cách và không một ai trong chúng ta có thể tiên lượng được. Tuy nhiên, điều có thể dự đoán được là bất bình đẳng sẽ tiếp tục đổ bóng đen dài lên những tiến bộ của loài người, trừ khi chúng ta hành động. Đâu sẽ là vai trò bắt buộc của giáo dục bậc cao để đảm bảo sẽ có nhiều người hơn nữa sẵn sàng đón nhận lợi ích của thời đại sắp tới? Kiến thức đang – và vẫn sẽ – là thứ quyền lực nhất, và tính linh động kinh tế sẽ tiếp tục phụ thuộc, phần lớn, vào việc tiếp cận giáo dục có chất lượng.

Các trường đại học đang mở rộng cơ hội và chuẩn bị cho các thanh niên sẵn sàng trước những cam kết quan trọng đối với công việc của họ và đối với thế giới. Sinh viên sẽ va chạm với những quan điểm, lối tư duy có thể hoàn toàn xa lạ với họ – và kết quả là họ học để định hình cuộc sống của mình trong một bối cảnh rộng lớn hơn. Họ phát triển các thói quen tư duy thiên về sự linh hoạt và khả năng thích nghi, và họ ra trường với những ưu điểm có ích trong suốt cả cuộc đời. Tiếp tục đọc “Giáo dục có thể đánh bại bất bình đẳng?”

Múa cung đình vào lớp học

TTHVào chiều thứ 4 hàng tuần, các em học sinh khối 4 và 5 Trường tiểu học Cứ Chánh, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy lại í ới nhau đi học múa cung đình. Lớp học do nhà trường phối hợp với Chi đoàn Nhà hát Nghệ thuật truyền thống cung đình Huế giảng dạy hai năm nay.

 
Các em học sinh Trường tiểu học Cư Chánh học múa cung đình

Chúng tôi có mặt tại Trường tiểu học Cư Chánh đúng vào lúc các em đang chuẩn bị vào buổi học. Niềm vui khi tham gia lớp học hiện rõ trên từng gương mặt, một số em tranh thủ ôn lại một số động tác trước khi vào buổi học mới. Ngô Hồng Minh, học sinh lớp 5/1, bày tỏ: “Con tham gia học múa cung đình từ năm học lớp 4, rất thích môn học này nên con chưa nghỉ buổi nào. Trước đây con không biết, nhưng giờ con biết Nhã nhạc cung đình Huế là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, rất cần được bảo tồn và phát huy”. Tiếp tục đọc “Múa cung đình vào lớp học”

Huế: Trẻ bỏ học sang Lào mưu sinh

TTH – Bố mẹ sang Lào làm ăn kéo theo hệ lụy trong chăm sóc và giáo dục con cái. Số trẻ em bỏ học giữa chừng ở xã Lộc Bôn (Phú Lộc, Thừa Thiên Huế) ngày càng nhiều nhưng địa phương và nhà trường lực bất tòng tâm.

Người dân xã Lộc Bổn (Phú Lộc) đang buôn bán tại Lào. Ảnh: Tuyết Khoa

Đem con sang Lào

Phong trào sang Lào làm ăn lan toả ở các miền quê từ năm 2003 đến nay. Toàn tỉnh có khoảng 6.000 lao động đang làm việc tại các tỉnh Pắc-Xế, Xa-Va-Na-Khẹt, Khăm-Muộn (Lào). Xã Lộc Bổn (Phú Lộc) là địa phương có trên 3.700 người, chiếm 2/3 lao động địa phương sang Lào làm ăn. Họ làm đủ nghề, đàn ông thì làm phụ hồ, thợ mộc, thợ chạm, còn phụ nữ thì làm nghề uốn tóc, gội đầu, bán kem… Người nào khá hơn thì đi buôn hoa quả, áo quần và các hàng tiêu dùng thiết yếu. Họ mưu sinh, mong giải quyết khó khăn để ổn định cuộc sống đã đành song có chị đi theo chồng, cũng chỉ vì muốn giữ hạnh phúc gia đình. Thế nên, nhiều chị đã quyết định đem con sang Lào để ổn định cuộc sống và con số này có khoảng 300 chị. Tiếp tục đọc “Huế: Trẻ bỏ học sang Lào mưu sinh”

Can education beat inequality?

weforum – This year’s World Economic Forum challenges participants to consider and assess the “Fourth Industrial Revolution,” an era of sweeping and rapid technological advances that will disrupt industries and change the future in ways that none of us can predict. What is predictable, however, is that inequality will continue to cast a long shadow on humanity’s progress unless we choose to act.

What role does higher education have to play in ensuring that more individuals are prepared to reap the benefits of the coming age? Knowledge is — and will remain — the most powerful currency, and economic mobility continues to be contingent, in large part, on access to quality education.

Universities expand opportunity and prepare young people for meaningful engagement with their work and with the world. Students encounter points of view and ways of thinking that may be completely foreign to them—and learn to situate their own lives in a broader context as a result. They develop habits of mind that privilege flexibility and resilience, and they graduate with economic advantages that persist throughout their lifetimes.

The Fourth Industrial Revolution: What It Means and How to Respond

foreignaffair – We stand on the brink of a technological revolution that will fundamentally alter the way we live, work, and relate to one another. In its scale, scope, and complexity, the transformation will be unlike anything humankind has experienced before. We do not yet know just how it will unfold, but one thing is clear: the response to it must be integrated and comprehensive, involving all stakeholders of the global polity, from the public and private sectors to academia and civil society.

The First Industrial Revolution used water and steam power to mechanize production. The Second used electric power to create mass production. The Third used electronics and information technology to automate production. Now a Fourth Industrial Revolution is building on the Third, the digital revolution that has been occurring since the middle of the last century. It is characterized by a fusion of technologies that is blurring the lines between the physical, digital, and biological spheres.

There are three reasons why today’s transformations represent not merely a prolongation of the Third Industrial Revolution but rather the arrival of a Fourth and distinct one: velocity, scope, and systems impact. The speed of current breakthroughs has no historical precedent. When compared with previous industrial revolutions, the Fourth is evolving at an exponential rather than a linear pace. Moreover, it is disrupting almost every industry in every country. And the breadth and depth of these changes herald the transformation of entire systems of production, management, and governance. Tiếp tục đọc “The Fourth Industrial Revolution: What It Means and How to Respond”

Liberal Professors Outnumber Conservative Faculty 5 to 1. Academics Explain Why This Matters

The Daily Signal

Students “might tend to think that conservatism is not an intellectual tradition because they don’t see any professors who hold to it,” Carson Holloway, a professor at the University of Nebraska Omaha, said. (Photo: David Trotman-Wilkins/KRT/Newscom)

Professors in higher education have become notably more liberal during the past 25 years, according to a recent study, and academics predict that the trend isn’t likely to slow any time soon.

During the past quarter-century, academia has seen a nearly 20-percent jump in the number of professors who identify as liberal. That increase has created a lopsided ideological spread in higher education, with liberal professors now outpacing their conservative counterparts by a ratio of roughly 5 to 1. Tiếp tục đọc “Liberal Professors Outnumber Conservative Faculty 5 to 1. Academics Explain Why This Matters”

Finnish education guru Pasi Sahlberg: treat primary school teachers like doctors

Finnish education leader Pasi Sahlberg discusses what works and what doesn’t in education. pasisahlberg.com

The Finnish education system is one of the best performing and most equitable in the OECD.

theconversation – With Prime Minister Julia Gillard’s promise to make Australia one of the best five performing countries for education in the world, what can we learn from the Scandinavians?

One answer might be more simple than we think: elevate teachers to the same social and professional status we hold doctors and other people with whom we trust with vital aspects of our health and well-being.

Today The Conversation presents a discussion between two of the world’s leading education experts on how Australia can learn from others and improve its educational outcomes.

Pasi Sahlberg is Director General of the Centre for International Mobility and Cooperation (CIMO) in the Ministry of Education in Finland. He has worked as a teacher, teacher-educator, policy advisor and director, and for the World Bank and European Commission.

Professor John Hattie is director of the Melbourne Education Research Institute at the University of Melbourne’s Graduate School of Education. His influential 2008 book Visible Learning: A synthesis of over 800 Meta-Analyses Relating to Achievement is believed to be the world’s largest evidence-based study into the factors which improve student learning. Tiếp tục đọc “Finnish education guru Pasi Sahlberg: treat primary school teachers like doctors”

Nữ tiến sĩ của buôn làng

Ký sự

Hoàng Thiên Nga- Thiên Linh

          Trò chuyện, hoặc cùng đi điền dã với Tuyết Nhung Buôn Krông là dịp may đầy thú vị đối với bất kỳ ai có niềm say mê về nghiên cứu văn hóa tộc người, muốn tìm hiểu sâu về vẻ đẹp tinh tế của xã hội mẫu hệ Tây Nguyên. Bởi, nữ tiến sĩ người Ê đê Bih này chính là người đã “ tắm mình trong hơi ấm mẫu hệ” ấy.

Ts Tuyết Nhung ( áo trắng) về buôn
Ts Tuyết Nhung ( áo trắng) về buôn

Tiếp tục đọc “Nữ tiến sĩ của buôn làng”

Người “thắp lửa” cho tuổi trẻ Minh Khai

PHÓNG SỰ – KÝ SỰ | 06:23 Thứ Năm ngày 21/05/2015

(HNM) – Căn nhà cấp 4 cũ kỹ nằm sâu trong con ngõ nhỏ thôn Minh Hòa 4, xã Minh Khai (huyện Hoài Đức) gần như tối nào cũng sáng đèn. Tiếng giảng bài của giáo viên, tiếng thảo luận, nói cười của học sinh luôn rộn rã. Cái lạ, đây là lớp học miễn phí. Lạ hơn nữa, chủ nhân sáng lập ra Hội Thanh niên tích cực (TNTC) xã Minh Khai cũng là người trực tiếp tổ chức lớp học là Nguyễn Chí Thuận – một thanh niên nỗ lực vượt lên nỗi đau của căn bệnh quái ác viêm cột sống dính khớp…

Anh Nguyễn Chí Thuận.

Opening borders and barriers

Nature 527, S80–S82 (12 November 2015) doi:10.1038/527S80a
Published online
11 November 2015

Collaboration may result in higher impact science, but are government initiatives the best way to promote such international and interdisciplinary connections?

Kavli Institute

Tea time at Kavli Institute allows for an organized and informal exchange of collaborative ideas.

Nature – An American physicist, a Japanese mathematician and a German cosmologist walk into a lab; what do you get? Based on recent outcomes, you’ll get ground-breaking science. And lately, governments have begun paying heed to evidence1 that suggests international, multidisciplinary collaborations such as these will yield high-impact results.

Policymakers from diverse countries, including China, Japan, Australia, Chile and Germany, have sought to foster excellent science and technological innovation — and reap the associated economic benefits — by promoting collaboration across borders and disciplines, and setting up specialist centres with the necessary resources (see ‘Conduits to collaboration’).

Làng chỉ có trẻ em

06/12/2015 08:15 GMT+7

TTỞ khu tái định cư thôn Giang Đông, xã Ea Đăh, huyện Krông Năng (Đắk Lắk) có hơn 100 trẻ em người Mông (6-18 tuổi) sinh sống, học tập và tự chăm sóc lẫn nhau.

Các em nhỏ ở khu tái định cư Giang Đông chơi trò kéo co - Ảnh: Tiến Thành
Các em nhỏ ở khu tái định cư Giang Đông chơi trò kéo co – Ảnh: Tiến Thành

Cha mẹ các em bỏ khu tái định cư quay lại thôn cũ cách đó 12km, nằm sâu trong rừng để kiếm sống và khoảng một tháng họ mới ra thăm, tiếp tế lương thực cho các em học hành.

Ông Giàng A Nụ – trưởng thôn Giang Đông – cho biết khu tái định cư được xây dựng từ năm 2004 với 87 căn nhà. Tiếp tục đọc “Làng chỉ có trẻ em”

Cần chính sách rõ rệt về tâm lý học đường

10/12/2015 11:38 GMT+7

TTCTTS Lê Nguyên Phương – người Việt ở Hoa Kỳ, chủ tịch Liên hiệp Phát triển tâm lý học đường quốc tế (CASP-I*) – là chuyên gia tâm lý học đường của Học khu Long Beach, California và là giảng viên của chương trình cao học bộ môn tâm lý học đường tại Đại học Chapman, California, trò chuyện với TTCT về việc đào tạo các chuyên gia tâm lý học đường.

Minh họa: DAD
Minh họa: DAD

Năm 2007, TS Lê Nguyên Phương về làm việc với Viện Tâm lý Hà Nội, sau đó tại ĐH KHXH&NV TP.HCM năm 2008, rồi tổ chức Hội thảo tâm lý học đường quốc tế lần 1 tại Hà Nội năm 2009 (với sự tham gia của ba trường đại học Hoa Kỳ).

Hội thảo là tiền đề cho việc ra đời Liên hiệp Phát triển tâm lý học đường tại Việt Nam (Consortium to Advance School Psychology in Vietnam – CASP-V) vào năm 2009. Ở Việt Nam, CASP-I có các thành viên: ĐH Giáo dục Hà Nội, ĐH KHXH&NV Hà Nội, ĐH Sư phạm Huế, ĐH Sư phạm Đà Nẵng, ĐH Sư phạm TP.HCM, ĐH KHXH&NV TP.HCM. CASP-I đã xây dựng các chương trình đào tạo về tâm lý học đường, thực hiện các dự án phát triển những chương trình giảng dạy, sách giáo khoa, trao đổi giảng viên, đào tạo giảng viên nguồn. Tiếp tục đọc “Cần chính sách rõ rệt về tâm lý học đường”

Hỗ trợ trẻ Điếc giao tiếp bằng ngôn ngữ ký hiệu

10 Tháng 8 Năm 2015

Một dự án giúp hơn 250 trẻ em Điếc ở Việt Nam sử dụng ngôn ngữ ký kiệu và có sự chuẩn bị tốt hơn cho học tập và cuộc sống.

WB – Dự án tăng cường khả năng sẵn sàng đi học của trẻ Điếc và giúp trẻ Điếc phát triển đầy đủ khả năng nhận thức

Hà Nội, 10/8/2015 – Dự án giáo dục đã giúp cho 255 trẻ Điếc dưới 6 tuổi tại 4 tỉnh/thành phố cua Việt Nam được học ngôn ngữ ký hiệu (NNKH) tại nhà, qua đó, trẻ Điếc được chuẩn bị sẵn sàng để bước vào môi trường học tập.

“Giai đoạn 6 năm đầu đời có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của trẻ” – theo bà Vũ Lan Anh, Chuyên gia về Phát triển Con người, Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam. “Việc hỗ trợ trẻ em Điếc phát triển khả năng nhận thức một cách hoàn chỉnh trong những năm đầu đời là rất quan trọng.” Tiếp tục đọc “Hỗ trợ trẻ Điếc giao tiếp bằng ngôn ngữ ký hiệu”