Văn học Việt Nam và điểm cần tập trung

Văn học VN đang loay hoay, hay, nói chính xác hơn, nhà văn VN đang loay hoay. Vì sao?

Vì họ không có điểm tập trung.

Nhà văn, cũng như những người lao động nghệ thuật khác (nhạc sĩ, họa sĩ…), nên chú tâm vào nghệ thuật. Khi bắt đầu chú tâm vào những điều khác ngoài nghệ thuật (như tiền bạc, danh tiếng, độc giả, khuynh hướng chính trị của quan chức – dù là có thật hay do mình tưởng tượng…), nhà văn sẽ đánh mất chính mình, và nghệ thuật của họ khó được trong sáng và sâu sắc.

Hãy tập trung vào nghệ thuật. Dù chẳng có mấy ai đọc bài mình, dù chẳng có nhà xuất bản nào in bài mình, dù mình chẳng có tiền từ chất xám của mình…, hãy tập trung vào nghệ thuật. Và mọi chuyện còn lại để Trời Đất lo.

PTH (cũng là nhà văn)

***

Khi văn học thôi làm ta khó chịu

NGUYỄN THANH SƠN – 25/11/2025 12:01 GMT+7

TTCTVà nếu có điều gì cần cho văn học Việt bây giờ thì đó chỉ là một điều giản dị: thêm một chút can đảm để đi xa hơn vùng an toàn, và thêm một chút trung thực để nói ra một điều gì đó thật, dù nhỏ.

văn học việt nam - Ảnh 1.

LTS – Không một giải thưởng đơn lẻ nào đủ sức đại diện hay khái quát toàn bộ một nền văn học. Văn học luôn rộng lớn hơn mọi vinh danh, đa thanh hơn mọi hội đồng và phức tạp hơn mọi bảng xếp hạng. Tuy nhiên, cũng có những giải thưởng do lịch sử, uy tín và truyền thống trở thành những chiếc phong vũ biểu quan trọng, cho thấy phần nào không khí sáng tác của từng thời đoạn.

Cuộc thi truyện ngắn của báo Văn Nghệ, cùng với Tạp chí Văn nghệ Quân đội, từ lâu đã được xem như “giải hoa hậu quốc gia” của văn chương Việt Nam. Không phải vì từ đó những truyện hay nhất được chọn ra, mà vì chúng phần nào cho thấy tâm trạng, xu hướng và tinh thần chung của một thế hệ cầm bút. Những gì được tôn vinh ở đó, dù không thể đại diện cho toàn cảnh văn học, vẫn nói lên rất nhiều về khẩu vị thẩm mỹ, về ngưỡng an toàn, về điều mà người viết hôm nay lựa chọn hoặc né tránh.

Như một gợi mở đối thoại, chúng tôi giới thiệu bài viết này để người đọc cùng thử nhìn lại: văn học có còn đủ can đảm để làm ta nghĩ lại, để khiến ta khó chịu và từ đó, khiến ta lớn lên?

Gần đây, khi đọc lại toàn bộ các truyện ngắn đoạt giải của báo Văn Nghệ và cả những truyện ngắn trên báo được nhiều người khen ngợi, tôi nhận ra một cảm giác lạ: văn chương bây giờ có vẻ êm đềm một cách đáng ngờ. Nhân vật hiền, xung đột nhẹ, góc khuất được làm mềm. Dù chuyện kể có buồn, có mất mát, ta vẫn thấy nó được viết cứ như sợ sẽ làm người đọc tổn thương. Tôi không trách sự tử tế ấy, nhưng cảm giác thiếu điều gì đó cứ dai dẳng: thiếu một cú chạm buộc ta phải suy nghĩ lại, thiếu chút gai góc để nhớ, thiếu một mặt thật của đời sống… Và từ sự thiếu ấy, tôi bắt đầu tự hỏi: điều gì đang giữ văn chương đứng lại?

Đầu tiên, có lẽ là vì văn học Việt Nam như bước vào một vùng sáng an toàn của trại điều dưỡng, tránh mọi va chạm. Nhiều truyện cho tôi đúng cảm giác đó, sảnh của một bệnh viện, nơi mọi thứ sáng sủa nhưng không có hồn. 

Miền xa ngái viết bằng thứ ký ức không bạo liệt, không liều lĩnh, thiếu lực va đập, nên cái chết đi qua mà không để lại âm vang. Trăm Ngàn xoa dịu nỗi đau quá nhanh, như thể tác giả sợ để nhân vật chịu thêm một khoảnh khắc rát bỏng. Bờ sông lặng sóng thì đạo đức đến mức không để ai sai, mọi bi kịch được hóa giải thành bài học nhẹ nhàng. 

Trong những trang viết như thế, con người hiền đi, bi kịch mềm đi, văn chương lùi lại, nhường chỗ cho sự dễ chịu. Khi người viết né tránh cái dữ, cái xấu, cả những lằn ranh tối của con người, truyện đánh mất trọng lượng hiện sinh của nó. Văn chương không còn làm ta đau, mà chỉ dỗ ta yên. Và sự yên ấy là dấu hiệu của một thời kỳ đầy mệt mỏi.

Điều băn khoăn thứ hai là cảm giác đang đọc lại những phiên bản nhạt hơn của thế hệ Đổi mới. Miền xa ngái gợi nhớ Những người thợ xẻ, nhưng chỉ còn là một minh họa luân lý. Nhi thư mang giọng của Vàng lửa, nhưng không có ngọn lửa của tư tưởng. Tiếng vọng nhìn lại ký ức bằng đôi mắt buồn, nhưng thiếu chiều sâu suy tưởng. 

Người viết hôm nay học được phong vị, nhịp điệu, kỹ thuật, nhưng chưa chạm được vào tầng triết học nơi văn chương cũ từng cắm rễ. Khi nội lực không đủ để tạo nên thế giới riêng, người viết dễ trở thành tiếng vọng của tiền bối. Văn học vì thế không mở đường, mà chỉ đi lại trên những lối quen thuộc.

Tôi vẫn tin văn chương sinh ra để đặt câu hỏi khó, chứ không để dạy những bài học dễ. Nhưng nhiều truyện gần đây lại đi theo hướng ngược lại. Miền xa ngái rời khỏi văn học để rơi vào minh họa đạo đức, nơi người nghèo được phong vai cứu rỗi, còn sự phức tạp của con người bị rút khỏi khung hình. 

Nhi thư diễn ra như một câu chuyện không có chỗ cho xung đột bùng nổ, nơi ai cũng đúng, ai cũng tốt, và mọi xung đột được khép lại bằng lời răn. Bờ sông lặng sóng thì đạo đức đến mức khiến người đọc quên rằng cái đúng theo mẫu đôi khi giết chết tư tưởng. 

Khi người viết chọn đạo đức thay cho tư duy, câu chuyện sẽ phẳng, bởi đạo đức không cần suy nghĩ – nó chỉ cần được đồng thuận. Người viết chọn được khen hơn là được phản biện, chọn đúng mực hơn là dám sai. Và khi đó, truyện biến thành bài giảng, còn văn học thành tờ giấy khen.

Một dấu hiệu khác của sự trì trệ là khi tự sự quá sạch sẽ. Trong Miền xa ngái, cái chết nhẹ như hơi, thiếu khả năng làm đau. Nhi thư treo đầy súng, nhưng không khẩu nào nổ – xung đột bị triệt tiêu như thể ai đó sợ tiếng động. Núi vỡ thì để cái chết trở thành cảnh tượng, nhiều hình ảnh nhưng không có một vết cắt vào bản thể. 

Có cảm giác nhà văn sợ đời thật đi vào trang viết: sợ bùn, sợ máu, sợ những ranh giới xấu xí của con người. Nhưng chính những phần đen tối mới làm nên trọng lượng của hiện thực; không có chúng, văn học chỉ còn bề mặt đẹp mà rỗng. Một truyện quá sạch sẽ luôn nhẹ, nhẹ đến mức có thể bay đi khỏi tâm trí ngay sau khi đọc xong.

Sự an toàn còn nằm ở chỗ người viết sợ khoảng trống. Trăm Ngàn có biểu tượng đẹp nhưng bị giảng nghĩa đến tận cùng, khiến nó mất độ ngân. Tiếng vọng dùng nhiều biểu tượng như chiếc cassette, tiếng ve, ánh nắng nhưng không đặt được nền tư tưởng để chúng tự tạo ý nghĩa. 

Bờ sông lặng sóng thì dùng sông làm cảnh nhiều hơn là cho nó một chiều sâu tâm linh. Khi tác giả không tin vào khả năng cảm nhận của người đọc, họ buộc văn bản phải nói hết, phải giải thích, phải đóng mọi cánh cửa mở. Nhưng văn học sống nhờ phần không nói. Khi khoảng trống bị lấp kín, tác phẩm mất sức sống của sự mơ hồ.

Một dạng văn chương khác tưởng như chan chứa nhân ái nhưng lại làm nghèo cảm xúc: văn chương viết để thương. Trăm Ngàn rơi vào căn bệnh thương cảm, nơi lòng thương trở thành kỹ năng nghề nghiệp. 

Bờ sông lặng sóng hòa trộn thương cảm với đạo đức thành thứ buồn vừa phải, thương đúng chỗ, nhưng né tránh những góc lạnh của sự thật. Khi thương cảm trở thành phong cách, người viết không dám để nhân vật sai, không dám cho họ thất bại. Văn học không sinh ra để vuốt ve; nó sinh ra để mở mắt. Một lòng thương không đi qua thử thách của sự thật chỉ còn là âm thanh dịu mà rỗng.

Nhìn rộng hơn, vấn đề nằm ở chỗ văn lực đang yếu đi. Tiếng vọng thiếu độ sâu văn hóa, ký ức chỉ còn là sương buồn, không trở thành bình luận về thời gian. Thư viện người có ý tưởng nhưng thiếu sức ngôn ngữ và chiều sâu để nâng đỡ. Núi vỡ trang trí nhiều hình ảnh nhưng không dùng một hình để kết tinh tư tưởng. 

Văn chương yếu đi không phải vì người viết ít cảm xúc, mà có lẽ vì họ thiếu vốn văn hóa để chuyển hóa cảm xúc thành tư tưởng, thiếu kỹ năng ngôn ngữ để tạo nhát cắt của chữ, thiếu trí tuệ để mở thêm lớp nghĩa sau câu chữ. Một tác phẩm không có độ nén của từ thì không thể có độ ngân của ý. Khi văn lực suy giảm, văn học chỉ còn là dòng nước đẹp, nhưng đáy lại nông choèn.

Nghịch lý là nền văn học càng hiền lại càng được tôn vinh. Giải thưởng, thứ đáng lẽ tôn vinh sự liều lĩnh, nay trở thành nơi an toàn nhất. Một tác phẩm càng đúng đắn, càng tròn trịa, càng dễ được ca ngợi. 

Người viết không bị cấm viết khác, nhưng ai cũng hiểu nên viết thế nào để được in, được khen. Không cần ai ra lệnh, phần thưởng đủ khiến người ta tự điều chỉnh. “Kiểm duyệt” bằng phần thưởng là hình thức kiểm duyệt tinh vi nhất. 

Những tác phẩm gai góc, gây tranh cãi ít đi, không vì thiếu người viết, mà vì họ không có chỗ đứng. Còn những người an toàn thì được tưởng thưởng. Giải thưởng, vốn lẽ ra là ngọn đèn soi đường cho sáng tạo, giờ chỉ nhấp nháy ở vùng nước lặng.

văn học việt nam - Ảnh 2.
Ảnh: PINTEREST

Có lẽ còn một lực kéo khác, đến từ chính xã hội tiêu thụ đang quen với nhịp sống rút gọn. Người ta muốn những câu chuyện dễ thương như một đoạn reel lướt qua trong im lặng của ngón tay, muốn chữ nghĩa mềm và nhanh, không đòi hỏi phải dừng lại. Câu dài thành chướng ngại, khoảng trống thành lãng phí, sự phức tạp thành nỗi mệt. 

Và quen viết trên mạng xã hội, người viết nhận ra thuật toán chỉ tưởng thưởng cho những gì nhẹ, ngắn, dễ yêu. Dần dần, chữ bị uốn theo phần thưởng vô hình ấy; văn chương bị thu nhỏ thành những mẩu dễ nuốt. Khi thị hiếu ưu ái cái mỏng, ta mất dần khả năng chịu đựng cái dày của tư tưởng. 

Điều đáng lo không phải là văn chương ít người đọc, mà là người đọc ngày càng sợ ở lại lâu hơn với một câu chữ. Và có lẽ, trong thời đại quá nhanh này, sự chậm rãi và dài của văn chương chính là hành động can đảm.

Bởi vậy, điều đáng buồn không phải là văn học Việt Nam yếu, mà là nó đang được khen vì sự yếu ấy. Chúng ta dễ nhầm lẫn giữa “nhân văn” với “vô hại”, giữa “sâu sắc” với “hiền dịu”, giữa “được yêu mến” với “đáng nhớ”. Văn học không hẳn chỉ cần được thích thú; nó cần được đọc, được tranh cãi, được nghi ngờ. Chỉ khi dám làm người đọc khó chịu, nó mới thực sự sống.

Nếu có một giải thưởng xứng đáng thì hãy trao cho tác phẩm khiến người đọc mất ngủ – không phải vì sợ hãi, mà vì vừa nhận ra chính mình. Một cuốn sách làm ta không còn yên ổn trong vùng an toàn của tư tưởng, khiến ta tự hỏi lại những điều tưởng như đã chắc chắn. Đó mới là phần thưởng thật của văn chương: làm cho con người không thể quay trở lại như cũ sau khi đọc xong.

Nhìn lại, tôi không nghĩ nhà văn hôm nay yếu hay kém; họ chỉ đang chọn con đường ít rủi ro nhất. Viết hiền thì an toàn. Viết đẹp thì dễ được chấp nhận. Viết đúng mực thì không khiến ai khó chịu. 

Nhưng văn học không thể chỉ dừng ở mức “không ai phàn nàn”. Nó cần bóng tối, cần va chạm, cần những câu hỏi không dễ nghe. Chỉ khi ấy, tác phẩm mới ở lại lâu trong lòng người đọc. 

Và nếu có điều gì cần cho văn học Việt bây giờ thì đó chỉ là một điều giản dị: thêm một chút can đảm để đi xa hơn vùng an toàn, và thêm một chút trung thực để nói ra một điều gì đó thật, dù nhỏ.

Cuộc thi truyện ngắn báo Văn Nghệ 2022 – 2024 được tổng kết vào ngày 24-7-2025 với 10 giải thưởng (trong gần 2.700 tác phẩm gửi đến), không có giải nhất.

2 giải nhì:

Trăm Ngàn (Ngô Tú Ngân): Truyện kể đời Trăm Ngàn – đứa trẻ bị bỏ rơi, mang cái tên như một món tiền phạt, lớn lên làm chân chạy vặt trong gánh hát, nghèo, xấu, nhưng luôn chăm chút cho mọi người và âm thầm đi khắp nơi tìm mẹ ruột. Tuổi già, mang bệnh nặng, anh xin được cùng đoàn hát xuôi ghe về quê, vẫn không ngừng dò hỏi tin mẹ, rồi chết lặng lẽ bên mé sông, được anh em trong đoàn đưa về đất cũ. Trong giấc mơ cận tử mang màu sắc huyền ảo, Trăm Ngàn được gặp lại mẹ, như một vòng đời khép lại và mở ra, hóa giải kiếp phận bị chối bỏ.

Bờ sông lặng sóng (Vũ Ngọc Thư): Truyện xoay quanh Nhung, cô gái lớn lên trong làng quê sau chiến tranh, có người bố bị báo tử nhầm, người mẹ cô đơn và người “bố thứ hai” là chú Huấn, đồng đội của bố, lặng lẽ chăm sóc hai mẹ con rồi lấy mẹ. Khi bố bất ngờ trở về, ông đón Nhung ra bãi Hàn làm gạch cùng chú Thân. Ở bờ sông Thái Bình, Nhung vừa được nuôi dưỡng, vừa âm thầm nảy sinh tình cảm trong trẻo với chú Thân. Về sau, chú Huấn chết vì vết thương cũ, bố mang mặc cảm, mẹ mang tội lỗi, còn chú Thân tự nhận làm em của bố mẹ và thành “chú ruột” của Nhung.

2 giải Ba:

Nhi thư (Hà Đình Cẩn): Trong khởi nghĩa Lam Sơn, Trịnh Thị Khánh – “nhi thư” của Nguyễn Trãi, vừa là vợ tướng Nguyễn Xí, theo chồng làm binh vận, dùng lời dụ hàng và mưu kế giúp chiếm đồn giặc. Bị bắt, nàng giấu thân phận, rồi dùng tiếng hát lay lòng lính Minh, sau đó mưu sát Tổng binh Hoàng Phúc nhưng không thành, bị xử “thượng thành” thiêu sống trên thành Đông Quan. Cái chết của Nhi thư trở thành hy sinh âm thầm phía sau chiến thắng: từ họa đồ nàng đánh cắp, nghĩa quân đánh bại viện binh, buộc Hoàng Phúc phải mở thành rút quân, hoàn tất cuộc bình Ngô.

Miền xa ngái (Phạm Ngọc Hùng): Nhân vật “tôi” trượt đại học, theo anh Thành đi đãi vàng để kiếm tiền ôn thi, lần đầu đối diện đời sống rừng rú: đói nghèo, bạo lực, gái “hoa”, trấn cướp, và những câu hỏi về thân phận “dân dân”. Vàng thu được ít ỏi, ước mơ “một cây vàng” của anh Thành còn dang dở thì vợ anh bỏ theo Mười phế liệu; sau đó anh bị anh em Nhân, Nghĩa chém chết vì nghi giấu vàng và chúng phải vào tù. “Tôi” thi đậu thủ khoa nhưng tụt xuống diện đóng học phí, muốn bỏ học, rồi nhớ đến túi “ngải” anh Thành gửi: mở ra thấy hóa ra là 6 chỉ vàng vảy, số vàng âm thầm cứu anh thoát khỏi miền rừng xa ngái và tiếp tục con đường học hành.

6 giải tư cho các tác phẩm Núi vỡ (Lữ Trọng), Cây gạo ở chợ chiều (Cầm Thị Đào), Tiếng vọng (Vương Đình Khang), Đất ao (Đào Quốc Vịnh), Thư viện người (Lê Văn Thân) và Rượu hoa mất trí (Như Bình).

***

Văn học Việt Nam: loay hoay giữa những đổi thay

HUỲNH TRỌNG KHANG – 12/12/2025 09:23 GMT+7

TTCTCác kênh công bố trên báo, tạp chí, xuất bản thành sách vẫn là những kênh chính thống, rộng rãi hơn, mà cả hai kênh này đều đang loay hoay trước những đổi thay không nhỏ của thời cuộc.

viết báo Tết - Ảnh 1.
Ảnh: Pinterest

1. Hằng năm cứ vào độ này, văn nghệ sĩ nước ta lại nô nức viết báo Tết.

Người viết bài này cũng vừa nhận một “đơn hàng” đăng báo Tết, với lời dặn dò, truyện phải nhẹ nhàng, ấm áp, sáng sủa cho hợp mùa xuân. Mà không đợi đến xuân, ba mùa còn lại “người đặt hàng” và “khách hàng thưởng thức” cũng có nhu cầu ấm áp, nhẹ nhàng. 

Buồn cũng được, nhưng man mác thôi, và tốt nhất nên nói những chuyện đã rồi, để người đăng không phải bận lòng phân trần cùng độc giả. Cái chuyện phân trần này là một biên tập viên phụ trách mục truyện ngắn hằng tuần cho tòa soạn nói tôi biết. Số là báo đăng một cái truyện theo ý của vị này là “mới lạ”, nhưng vài ý kiến của độc giả gần xa cho rằng truyện ấy khó hiểu.

Đấy là nói những tờ báo còn có trang đăng các sáng tác, chứ một số tờ đã dừng. Lâu dần, người ta cũng quên đi sự trống vắng, chỉ có văn nhân vẫn băn khoăn không biết viết xong cái truyện thì nên gửi về đâu. Thời mà nhuận bút một bài báo, một truyện ngắn… có thể giúp tác giả sống khỏe… cả tháng đã trôi qua từ lâu. 

Nhắc lại giống chuyện ở đâu đâu. Nhưng thật ra tất cả thay đổi chỉ mới diễn ra hơn chục năm qua. Và nội chục năm qua, nhuận bút cho sáng tác vẫn đứng yên, thậm chí giảm dần, trong khi mọi thứ xung quanh tác giả đã tăng phi mã.

Khi viết không kiếm được đồng vô đồng ra thì không được coi là một nghề, không phải một nghề thì còn xa lắm mới tính chuyện chuyên nghiệp hóa. Thành thử, suốt nhiều năm qua, nền văn học chúng ta chỉ là nền văn học của những “tài tử” nếu không muốn nói là nền văn học nghiệp dư. 

Ta có nhiều công nhân viên viết văn làm thơ, doanh nhân viết văn làm thơ, quan chức viết văn làm thơ, bác sĩ viết văn làm thơ, chủ quán cà phê viết văn làm thơ… chứ hiếm có nhà văn nhà thơ toàn tòng. Càng hiếm người viết bán được vài ngàn đầu sách mỗi lần xuất bản. 

Người viết vẫn viết, người dịch vẫn dịch, vẫn in nhưng số lượng bản in giảm dần, cách nay mấy năm mỗi lần in còn được 1.500 – 2.000 bản, rồi xuống 1.000, rồi bây giờ 800 – 500 bản cũng có, bán trầy trật hết năm này qua năm khác.

Đấy không phải tình cảnh của riêng sách văn học Việt Nam, mà là tình cảnh chung của sách văn học trên thị trường Việt Nam hiện nay, khi mà trong hội sách ta có thể dễ dàng tìm thấy kiệt tác của các bậc thầy thế giới, các tác giả đạt giải thưởng này nọ như giải Nobel, chen chúc nhau ở quầy đồng giá, giảm giá, nơi ta thấy sách của Orhan Pamuk (Nobel văn chương năm 2006) ở khu “sale off 50%”, cách ông vài mét là tiểu thuyết Từ điển Khazar của Milorad Pavic cùng chung số phận.

Tác giả nổi tiếng còn vậy, nên khó trách các nhà xuất bản e dè trước những chọn lựa dịch thuật và xuất bản các tác phẩm, dẫu tác phẩm có danh trên thế giới, đã được “bảo chứng” bằng cái mề đay “bestseller” hay giải thưởng. 

Cho nên ta khó trách nếu họ ngập ngừng đứng trước những tác phẩm văn học Việt Nam, nhất là tác phẩm của tác giả mới. 

Người viết bài này từng không ít lần, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, đã nghe được ý kiến từ phía tạm gọi là độc giả lẫn người làm sách: giờ họ thấy sách gì hơn 300 trang thì ngán. Độc giả ngán đọc dài vì vậy người in ngán in dày.


2. Mà nói gì họ. Chúng ta đang sống giữa một nhân loại có đầy đủ tiện nghi nhưng lại không thể dành thời gian xem hết một phim chừng hai tiếng, đọc hết một cuốn sách hai trăm trang. Vì trước mặt chúng ta là thế giới thông tin bạt ngàn của thước phim ngắn, của những video giọng máy vô cảm tóm tắt cho ta nội dung phim, nói hộ cho ta nội dung sách. Thay vì trải nghiệm, ta muốn để máy trải nghiệm giùm. Thay vì muốn tự mình đánh giá phê bình, ta dựa vào trí tuệ nhân tạo.

Tôi biết không ít tác giả trẻ chấp nhận lấy nhuận bằng sách chỉ để tác phẩm của họ được in, in xong họ cũng không biết bán làm sao số sách nhuận ấy. Thiếu vắng diễn đàn, thiếu nơi công bố, xuất bản, các tác giả mới lui về mạng xã hội, trong các nhóm nhỏ trên cõi mạng bao la. 

Chỉ trong năm qua, tôi đọc không ít tác phẩm hay của tác giả Việt Nam mà đáng ra phải được chú ý nhiều hơn, và tôi tiếp cận được những tác phẩm này qua đường… tin nhắn, một đường dẫn trên mạng xã hội, một bài thơ gửi qua ứng dụng trò chuyện. Vì thế, nhiều khi muốn đọc lại phải lặn lội lục tìm giữa lớp lớp tin nhắn vụn vặt thường ngày.

Dĩ nhiên, các sáng tác nổi trôi trên mạng thì vàng thau lẫn lộn. Công chúng trên mạng lại thường hào phóng lời khen. Các kênh công bố trên báo, tạp chí, xuất bản thành sách vẫn là những kênh chính thống, rộng rãi hơn, mà cả hai kênh này đều đang loay hoay trước những đổi thay không nhỏ của thời cuộc.

Còn các giải thưởng văn học? Mỗi năm ta ở Việt Nam có không ít giải thưởng thường niên, hoặc tổ chức không định kỳ. Nhưng sau giải thưởng là gì? Đa phần là “không một tiếng vang” (tựa sách như một lời tiên tri sớm của Vũ Trọng Phụng, “tác giả trẻ” điển hình của những năm 1930, người đã có một sự nghiệp xong xuôi khi vừa mới hăm sáu, hăm bảy tuổi), hoặc có thể “vang” theo kiểu mà công chúng, ban giám khảo, lẫn người đoạt giải đều không mong tới như sự việc ta chứng kiến mấy tháng qua.

Cho nên nói đến “văn học Việt Nam”, nhất là “văn học Việt Nam hôm nay”, ta không chỉ đang nói về tác giả – tác phẩm, mà còn độc giả, nền xuất bản, nền báo chí, các thiết chế… Trong lòng hệ thống ấy là tác giả – tác phẩm. Đọc một tác phẩm hay, “có tầm”, “đỉnh cao” là nhu cầu thành thực của công chúng, đáp ứng nhu cầu ấy phụ thuộc năng lực của nhà văn. Để bị “than phiền” rằng chỉ tạo ra được những “vùng an toàn”, các tác giả cũng cần ngồi lại suy ngẫm nhiều. 

Tôi chỉ muốn “phân trần” đôi điều, từ trải nghiệm làm xuất bản của tôi, không phải tác phẩm nào hay cũng được in, được giải thưởng, và vì thế hạn chế phần nào khả năng tiếp cận độc giả của tác phẩm. 

Tôi biết mình không phải người đầu tiên nói những chuyện đó, và tin rằng trong tương lai, sẽ vẫn có những bài viết nói về “văn học Việt Nam hôm nay”, cũng đặt ra từng ấy vấn đề, thậm chí có khi còn lặp lại những từ khóa những ngày qua ta vẫn nghe nhắc tới. 

Hằng năm, rồi cũng sẽ có những hội nghị/hội thảo, sơ kết và tổng kết, bàn về văn học trẻ (lẫn không còn trẻ), và tôi đoán tất cả hội nghị/hội thảo đó đều sẽ “thành công tốt đẹp”, như các trại sáng tác văn học vẫn tổ chức khắp ba miền, rải suốt bốn mùa.


3. Ai viết (hoặc không viết) sẽ tiếp tục viết (hoặc không viết). Ai đọc (hoặc không đọc) sẽ tiếp tục đọc (hoặc không đọc), dù chúng ta có Ngày Văn hóa đọc. Chuyện đọc bây giờ cũng không chỉ là chuyện riêng ở Việt Nam. 

Thi thoảng, “khi tỉnh rượu lúc tàn canh” chúng ta giật mình và ném vào mặt băng có tên “văn học Việt Nam hôm nay” vài nỗi ưu tư, nghe nó kêu lên lốc cốc vài tiếng, rồi tiếp tục nhìn mọi thứ “lăn đi không bám rêu” trong nền văn học mang nhiều khả năng không còn nhà xuất bản nào tên có chữ “văn học”, đang lúc chúng ta hăng say bàn chuyện quảng bá văn học.

Nếu có gì có thể nhen nhóm, từ góc nhìn cá nhân, thì đó là vẫn có những tác giả, tôi hy vọng có ngày được cầm trên tay sách của họ. 

Và khi đọc các tác phẩm văn học Việt Nam mới xuất bản hằng năm, tôi vẫn thấy đâu đó có những gương mặt, những tiếng nói đa dạng ở chủ đề, lối viết, xuất thân và tuổi tác. Họ cho tôi ít nhiều hy vọng. 

Bình luận về bài viết này