Những ông Phật xa dân


IMG_0115Mai An Nguyễn Anh Tuấn

           Kịch bản phim truyện ngắn

( Dựa theo truyện ngắn “Hai Phật cãi nhau”  trong “Thánh Tông Di Thảo” )

  1. Sân chùa- Ngoại – ngày

Một ông vua trạc tuôỉ 50 cải dạng thành khách hành hương, cùng một tiểu đồng vi hành tới một ngôi chùa quê. Ông say sưa chiêm ngưỡng cảnh chùa, thỉnh thoảng trò chuyện với chú tiểu đồng.

Họ đi qua một bức tường cũ, ngấn vệt đất phù sa còn mới:

– “Này, ngươi nhìn xem! Nước tràn cả vào nơi cao ráo thế này… Ghê quá!” Tiếp tục đọc “Những ông Phật xa dân”

Về một chữ trong Truyện Kiều và cú đánh điểm huyệt

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Trong bài “Đôi điều về bản Truyện Kiều kỷ niệm 250 năm của Hội Kiều học” ( tác giả Minh Minh, trên tạp chí Hồn Việt số 96, 9-2015), qua một số dẫn chứng đưa ra nhằm mục đích hạ bệ cuốn sách mà tác giả chế giễu là “tốt mã này”, có một dẫn chứng mà theo tôi chính là “cú điểm huyệt” của Hồn Việt: “Hoặc như: Mày xanh trăng mới in hằn (câu 1793). Chữ hằn nghe thô tục quá. Hai câu thơ xinh đẹp như ngọc: Mày xanh trăng mới in ngần/ Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa mà để cho một chữ hằn lọt vào thật không khác gì một vết sẹo trên khuôn mặt của nàng Kiều. Lưu ý rằng trong chữ Nôm, chữ 痕   có thể đọc ngần, hằn – nhưng ngần mới là chữ “tuyệt diệu!”. Tiếp tục đọc “Về một chữ trong Truyện Kiều và cú đánh điểm huyệt”

Kỳ cuối: Đâu là “chiếc nôi” chữ quốc ngữ?

21/04/2014 07:30 GMT+7

TTHiện một số nhà nghiên cứu cũng như các bậc nhân sĩ, thức giả đã đặt vấn đề về nơi khai sinh ra loại chữ viết này.

Kỳ 1: Thuở ban đầu của chữ quốc ngữ Kỳ 2: Hai bức thư và tập lịch sử nước An Nam Kỳ 3: Ai có công đầu với chữ quốc ngữ?

VzpxxlCQ.jpgPhóng to
Thầy Trần Đình Trắc (phải) và nhà nghiên cứu Võ Ngọc Liễn ở Bình Định – Ảnh: H.V.M.

Những luận cứ khác nhau bước đầu đã được đưa ra, nhưng câu trả lời xác đáng vẫn còn ở phía trước…

Hội An – Thanh Chiêm?

“Từ những năm 1960-1970, khi nghĩ về di tích Nước Mặn với việc hình thành chữ quốc ngữ, một số nhân sĩ, trí thức ở Bình Định chúng tôi đã nghĩ việc làm sao để đánh động nhà chức trách tổ chức ngày cả nước kỷ niệm chữ quốc ngữ hằng năm, nhưng vẫn chưa làm được vì chiến tranh. Mình sở hữu được loại chữ viết vô cùng tiện dụng, khoa học như vậy mà không có ngày quốc ngữ thì thấy thiếu sót quá, đáng tiếc quá…”

Ông TRẦN ĐÌNH TRẮC

Tiếp tục đọc “Kỳ cuối: Đâu là “chiếc nôi” chữ quốc ngữ?”

Family planning in Vietnam Running deer

A draft population law looks ill-considered and discriminatory

Dấu vết của những cuộc dịch chuyển tộc người

08/11/2012 09:00 GMT+7

TTLý giải về hiện tượng những đảo thổ ngữ lạ giữa một cộng đồng có giọng nói phổ thông, nhiều người thường lý giải là do nước uống, do thổ nhưỡng, do môi trường khắc nghiệt, vùng đầu sóng ngọn gió, ăn to nói lớn…

Một số lý giải khác, như trường hợp làng Mỹ Lợi, thì cho rằng người Quảng đã ra Huế định cư và bảo lưu giọng Quảng của mình suốt 4-5 trăm năm nay (những họ lâu đời nhất ở Mỹ Lợi có gia phả đều đã 16-17 đời). Thế nhưng, rõ ràng những cách trả lời này mang nhiều kiến giải của dân gian hơn là khoa học. Trong khi khoa học, tức các nhà ngôn ngữ trên thế giới, đã lý giải hiện tượng này một cách đầy đủ và khá sâu sắc.

6QACz6iy.jpgPhóng to
Cuốn sách đoạt giải thưởng Sách hay 2012 của tác giả Hồ Trung Tú

Tiếp tục đọc “Dấu vết của những cuộc dịch chuyển tộc người”

Những chữ cái bị kỳ thị

03/05/2012 03:44 GMT+7

TTBảy chữ cái bị kỳ thị và bốn chữ cái được dùng lậu là cách nói của tiến sĩ Lê Vinh Quốc về bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành. Như một cách gợi mở vấn đề, Tuổi Trẻ xin được giới thiệu cùng bạn đọc.

Phóng to

Bảng chữ cái tiếng Việt theo mẫu tự Latin gồm 29 chữ đã được chính thức thừa nhận từ lâu. Tuy nhiên, sự phát triển của tiếng Việt hiện hành trong thời đại công nghệ thông tin đã làm bộc lộ một số vấn đề cần giải quyết để nó được hoàn thiện hơn.

Tiếp tục đọc “Những chữ cái bị kỳ thị”

Các ngày lễ hội Việt Nam và các Ngày Quốc Tế của Liên Hợp Quốc

Những ngày lễ ở Việt Nam được nghỉ

Nguồn: wikipedia

Các ngày lễ sau người lao động được nghỉ và hưởng nguyên lương:[1]

Tên gọi Ngày tháng Ý nghĩa Số ngày nghỉ
Tết Dương Lịch Ngày 1 /1 Ngày lễ Tết Quốc tế của hầu hết các quốc gia. 1
Tết Nguyên Đán ngày cuối tháng Chạp đến
mồng 4 tháng Giêng (Âm lịch)[2]
Tết cổ truyền của dân tộc. 5
Giỗ Tổ Hùng Vương 10 tháng 3 (Âm lịch) Tưởng nhớ đến công ơn dựng nước của các Vua Hùng. 1
Ngày Thống nhất đất nước 30 tháng 4 Kết thúc Chiến tranh Việt Nam. 1
Ngày Quốc tế Lao động 1 tháng 5 Kỷ niệm ngày của người lao động toàn thế giới. 1
Ngày Quốc khánh 2 tháng 9 Kỷ niệm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập. 1

Tiếp tục đọc “Các ngày lễ hội Việt Nam và các Ngày Quốc Tế của Liên Hợp Quốc”

Con đường lên nắm quyền của Ngô Đình Diệm, 1945-54 (3 Phần)

Con đường lên nắm quyền của Ngô Đình Diệm, 1945-54 (P1)

Posted on by NCQT

ngo-dinh-diem1

Nguồn: Edward Miller “Vision, Power and Agency: The Ascent of Ngô Ðình Diệm, 1945–54“, Journal of Southeast Asian Studies, 35 (3), October 2004, pp 433–458.

Biên dịch: Hoài Phi & Vy Huyền

Tóm lược: Bài viết này phản bác lại những diễn giải hiện có về Ngô Ðình Diệm bằng cách xem xét những hoạt động của ông trong vòng một thập kỷ trước khi ông trở thành lãnh đạo của miền Nam Việt Nam vào năm 1954. Ngô Ðình Diệm đã chủ động tìm cách nắm quyền trong những năm đó, và ông thành công chủ yếu nhờ nỗ lực của chính mình và của những đồng minh người Việt của ông. Cùng thời gian đó, ông và em trai là Ngô Ðình Nhu cũng phác thảo ra viễn kiến đặc biệt về quá trình hiện đại hoá, so rõ cho chúng ta thấy chiến lược xây dựng quốc gia ở miền Nam Việt Nam sau năm 1954. Tiếp tục đọc “Con đường lên nắm quyền của Ngô Đình Diệm, 1945-54 (3 Phần)”

Nữ tiến sĩ của buôn làng

Ký sự

Hoàng Thiên Nga- Thiên Linh

          Trò chuyện, hoặc cùng đi điền dã với Tuyết Nhung Buôn Krông là dịp may đầy thú vị đối với bất kỳ ai có niềm say mê về nghiên cứu văn hóa tộc người, muốn tìm hiểu sâu về vẻ đẹp tinh tế của xã hội mẫu hệ Tây Nguyên. Bởi, nữ tiến sĩ người Ê đê Bih này chính là người đã “ tắm mình trong hơi ấm mẫu hệ” ấy.

Ts Tuyết Nhung ( áo trắng) về buôn
Ts Tuyết Nhung ( áo trắng) về buôn

Tiếp tục đọc “Nữ tiến sĩ của buôn làng”

Hoà Thượng Thạch Liêm, chúa Nguyễn Phúc Chu và chùa Thiên Mụ

Nguyễn Hữu Vinh biên soạn

Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Dù trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung.  Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ”.

Tiếp tục đọc “Hoà Thượng Thạch Liêm, chúa Nguyễn Phúc Chu và chùa Thiên Mụ”

Gìn giữ tiếng Việt nơi xứ người – 7 kỳ

Tiếng nước tôi, xin giấu vào lòng

Gìn giữ tiếng Việt nơi xứ người – Kỳ 2: Sao Mai ở Berlin

Gìn giữ tiếng Việt nơi xứ người – Kỳ 3: Cho và nhận

“Sự tích chú Cuội” giữa lòng Warsaw

Nối lại nhịp cầu

Một đề án dở dang

Để “tiếng nước tôi” vang mãi nơi xa…


Tiếng nước tôi, xin giấu vào lòng

16/11/2013 09:05 GMT+7

TTNửa thế kỷ qua, hành trình gieo chữ Việt cho người Việt trên đất Thái Lan đã trải qua biết bao nhiêu thăng trầm. Nhớ lại những tháng ngày gian nan đi học, đi dạy phải giấu giấu giếm giếm, nhiều thầy cô không giấu được những giọt nước mắt hạnh phúc…

Cô giáo Đào Thanh Tẻo (phải) và một cô giáo dạy tiếng Việt ở Đài Loan - Ảnh: Nguyễn KhánhPhóng to
Cô giáo Đào Thanh Tẻo (phải) và một cô giáo dạy tiếng Việt ở Đài Loan – Ảnh: Nguyễn Khánh

Thương nhớ “tiếng nước tôi…”

Bà Đào Thanh Tẻo giờ đã ngoại ngũ tuần. Người phụ nữ thấp đậm, gương mặt tươi tắn, nói tiếng Thái sõi hơn tiếng Việt, khiến phần lớn người gặp bà lần đầu đều lầm tưởng bà là người Thái Lan. Ở lớp bồi dưỡng cho giáo viên dạy tiếng Việt ở nước ngoài tại Hà Nội những ngày tháng 10-2013, bà Tẻo tự nhận là “nói tiếng Việt kém trôi chảy nhất”. Nhưng ít ai biết đó là cô giáo đặc biệt trên đất Thái. Trong câu chuyện lan man với cô giáo Tẻo, chúng tôi mới vỡ lẽ người phụ nữ này đã phải nhiều năm trời giấu thân phận mình dưới vỏ bọc của một người Thái Lan…

Tiếp tục đọc “Gìn giữ tiếng Việt nơi xứ người – 7 kỳ”

Ancient tombs reflect cultural exchange


Cross-cultural gravesite: A local resident takes care of tomb of Banjiro, in 1665, in her garden in Hoi An.

VNN – The tombs of families of Japanese traders who died in Hoi An in the 17th century have been cared for by generations of local people. They have become a cross-cultural project for researchers from the two countries. Hoai Nam reports.

Vietnamese and Japanese cultural researchers from Hoi An’s Centre for Cultural Heritage Management Preservation and Japanese universities have been seeking the families of three Japanese traders who died and were buried in Hoi An in the 17th century.

Their tombs, which have been preserved by local people in Cam Chau Commune, attracts Japanese residents and tourists. Tiếp tục đọc “Ancient tombs reflect cultural exchange”

Chùa Hà Trung và sư Tạ Nguyên Thiều

Nguyễn Hữu Vinh

Huế không thiếu những ngôi chùa nổi tiếng, không phải vì chùa tọa lạc ở nơi  phong cảnh nên thơ, mà vì các chùa đã đóng vai trò quan trọng trong công việc hoằng pháp giáo lý Phật giáo trong suốt thời gian dài trong quá khứ. Quần thể chùa chiền ở Huế đa số đều tập trung vào các vùng lân cận thành phố, phân bố rãi rác về phía Tây Nam của kinh thành. Ðây là dải đất ven bờ sông Hương,  phong cảnh thiên nhiên hữu tình, sông núi hiền hòa nên sự có mặt của các ngôi chùa này là điều dễ hiểu. Nhưng có một ngôi chùa rất xưa, không nằm trong dải đất ven bờ sông Hương, núi Ngự hữu tình này và đã bị lãng quên trong suốt thời gian dài. Ðó là chùa Hà Trung.

Chùa Hà Trung

Từ chùa Thiên Mụ ven theo tả ngạn sông Hương lần đi về thành phố, tạt ngang chùa Báo Quốc, xong hướng về hướng Nam dọc theo quốc lộ 1,  đi khoảng 30 km, dần dần sẽ đến vùng gió cát vi vu thơm mùi nước mặn biển cả. Ðó là vùng kề cận đầm Hà Trung phá Tam Giang. Tiếp tục đọc “Chùa Hà Trung và sư Tạ Nguyên Thiều”

Bắc di cư: Dân Công giáo tị nạn từ miền Bắc và vai trò của họ tại Việt Nam CH, 1954-1959

Posted on by The Observer – NCQT

Nguồn: Peter Hansen (2009). “Bac Di Cu: Catholic Refugees from the North of Vietnam, and Their Role in the Southern Republic, 1954–1959”, Journal of Vietnamese Studies, Vol. 4, No. 3, pp. 173 -211.

Biên dịch và Hiệu đính: Đỗ Hải Yến

Gia Kiệm, một thị trấn khoảng tám mươi ngàn dân, nằm cách thành phố Hồ Chí Minh chừng năm mươi kilômét về phía Bắc, trên đường đến Đà Lạt. Thị trấn nổi bật bởi sự phồn thịnh và quy củ, nhưng điểm đặc biệt nhất là sự phong phú của các nhà thờ Công giáo vốn nằm rải rác trên trục đường chính, chỉ cách nhau vài trăm mét. Gia Kiệm không phải là một cộng đồng lâu đời. Trên thực tế, trước năm 1954, đó còn chưa phải là một ngôi làng. Nhưng vào năm đó, Giám mục Thaddeus Lê Hữu Từ đã chọn Gia Kiệm làm nơi tái định cư cho hàng ngàn dân Công giáo bỏ chạy vào Nam từ Giáo khu Phát Diệm của ông ở miền Bắc. Dân Công giáo từ các giáo khu khác ở miền Bắc như Bùi Chu và Thanh Hóa nhanh chóng gia nhập đoàn giáo dân của Lê Hữu Từ tại Gia Kiệm. Tên của các giáo xứ mới thành lập tại Gia Kiệm gợi nhắc gốc gác miền Bắc của họ: Phát Hải, Thanh Sơn, Phúc Nhạc, Ninh Phát, Kim Thượng, v.v…[1] Tiếp tục đọc “Bắc di cư: Dân Công giáo tị nạn từ miền Bắc và vai trò của họ tại Việt Nam CH, 1954-1959”

Người Jing (Kinh) trên đất Trung Hoa, 500 năm lưu lạc vẫn tự hào hai tiếng Việt Nam

NN – Trong vùng Tam Đảo thuộc tỉnh Quảng Tây, bên Tàu có ba làng người Việt, gọi là Jing (Kinh). Tài liệu tại địa phương cho biết họ đã rời Việt Nam và định cự tại đây khoảng 500 năm. Tuy nhiên, đồng bào Việt vẫn giữ gần như hầu hết các nét đặc thù của dân tộc Việt mặc dù áp lực đồng hóa thường trực của văn hóa Trung Hoa.

Bác sĩ Lê Văn Lân đã đi thăm tận nơi 3 làng Việt bên Tầu vẫn được sống như tự trị ở vùng duyên hải Quảng Tây. Tên ba làng đó là Ô Vĩ, Vu Đầu, Sơn Tâm, thuộc huyện Giang Bình, quen gọi là Kinh Tộc tam đảo. Dân trong ba làng vẫn giữ tiếng nói, kiểu ăn mặc, phong tục Việt, vẫn ăn tết, hát dân ca cổ truyền, dùng đàn bầu, đàn nhị, sáo, trống, cồng. Đồ ăn của họ thì cơm vẫn là chính, dùng nước mắm, lại có xôi chè, bánh tráng nướng, bún riêu, bún ốc. Họ vẫn dùng chữ nôm, và dĩ nhiên cũng nói tiếng Tầu địa phương.

Tiếp tục đọc “Người Jing (Kinh) trên đất Trung Hoa, 500 năm lưu lạc vẫn tự hào hai tiếng Việt Nam”