Duy trì tục chém lợn trong lễ hội Ném Thượng

15/10/2015 12:37

(TNO) Trong công văn Sở VH-TT-DL Bắc Ninh vừa gửi Cục Văn hóa cơ sở, sở này cho biết tiếp tục duy trì phong tục chém lợn ở làng Ném Thượng, nhưng có điều chỉnh.

Le-hoi-chem-lon
Vẫn duy trì tục chém lợn trong lễ hội Ném Thượng

Sở VH-TT-DL cho biết, nghi lễ chém lợn sẽ được đưa từ sân đình vào một khu vực riêng kín đáo. Nhà tổ chức cũng sẽ không để nhân dân nhúng tiền vào máu lợn.

Đây cũng là nội dung đã được kết luận trong hội nghị ngày 16.9 vừa qua về lễ hội Ném Thượng. Để tăng cường hiệu lực công tác quản lý và tổ chức lễ hội, hội nghị thống nhất bảo tồn các nghi thức truyền thống, tuy nhiên có điều chỉnh để tránh gây phản cảm. Tiếp tục đọc “Duy trì tục chém lợn trong lễ hội Ném Thượng”

Những đợt sóng giao lưu ngôn ngữ Việt-Trung qua con đường Phật giáo – âm Hán Việt phạm hay phạn? (phần 1.1)

chunom.jpg (672×372)Nguyễn Cung Thông

nguyencungthong@yahoo.com

[Trích]

1. Âm phạn xuất hiện trong tiếng Việt

… Chữ phạn có gốc từ tiếng Sanskrit brahman 梵文 chỉ thần tối cao (tạo hoá) của Ấn Độ giáo, các âm dịch khác là 梵摩 phạm ma, 婆羅賀摩 bà la hạ mạ 梵覽摩 phạm lãm ma …v.v… Phạn có dạng cổ hơn là phạm, viết bằng bộ mộc 梵 (thanh mẫu tịnh 並 vận mẫu phàm 凡 hay đông 東 khứ/bình thanh, hợp/khai khẩu tam đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết…

… Phạn 梵 có các nghĩa như thanh tịnh (tốt lành), chữ/tiếng Bà La Môn (đọc nhanh thành *byam hay phàm) thuộc cổ Ấn Độ, Phật giáo từ cổ Ấn Độ (như phạn ngôn là kinh Phật, phạn cảnh là cảnh Phật, phạn học là Phật học …). VBL đã cho thấy cách dùng “làm phạn” tương ứng với cách dùng “hành phạn” (hay “phạn hành/phạm hành”) từng hiện diện trong kinh Pháp Hoa do pháp sư Cưu Ma-La-Thập (Kumarajiva 344-409) dịch sang tiếng Hán:… Tiếp tục đọc “Những đợt sóng giao lưu ngôn ngữ Việt-Trung qua con đường Phật giáo – âm Hán Việt phạm hay phạn? (phần 1.1)”

Chợt hiểu Tổ quốc đến xót xa… Về bài thơ “Gửi quần đảo Trường Sa” của Đỗ Nam Cao

GỬI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA

Trường Sa ư với ngày thường xa thật
Đảo ở đâu tôi có hỏi đâu mà
Điều khốn nạn là chỉ khi máu đổ
Đảo mới gần mới thật đảo của ta

Các anh cắm ngọn cờ Tổ quốc gió cuồn cuộn
Sóng lừng ngầu bọt bãi san hô
Kẻ muốn nhổ ngọn cờ khỏi ngực
Thì nhận đây dòng máu nóng hực ra

Chính lúc bấy giờ tôi mới hiểu Trường Sa
Hiểu đến xót xa
Tổ quốc là vỏ con ốc biển
Anh nâng niu cất gửi tặng quà Tiếp tục đọc “Chợt hiểu Tổ quốc đến xót xa… Về bài thơ “Gửi quần đảo Trường Sa” của Đỗ Nam Cao”

Những đợt sóng giao lưu ngôn ngữ Việt-Trung – vài vết tích sau thời nhà Minh trong từ điển Việt Bồ La (phần 1.4)

chunom.jpg (672×372)Nguyễn Cung Thông

nguyencungthong@yahoo.com

[Trích]

  1. “Lịch sự” nghĩa tiếng Việt và tiếng Hán

Lịch sự 歷事 là một cụm từ HV ghi nhận vào thời nhà Minh (1368-1661) chỉ chế độ thực tập để thi ra làm quan, nhà Thanh sau đó cũng áp dụng theo chương trình “Lịch Sự” như vậy trong hệ thống tuyển sinh (Quốc Tử Giám). Hoạt động này tương tự như khi các học sinh trung học đi làm lấy kinh nghiệm (bên Úc gọi là work experience, nhưng không có thi khảo hạch như chương trình “Lịch Sự”). Như vậy, nghĩa của lịch sự1 đã thay đổi vào thời VBL (1651) ở VN, dùng để chỉ biết lễ phép (cũng như đã học qua một khóa “Lịch Sự” trong “trường đời”) và mở rộng nghĩa thêm để chỉ con người biết điều, sành điệu, đẹp đẽ …v.v… Tiếp tục đọc “Những đợt sóng giao lưu ngôn ngữ Việt-Trung – vài vết tích sau thời nhà Minh trong từ điển Việt Bồ La (phần 1.4)”

TỘI ÁC HỒN NHIÊN

toul SlengMai An Nguyễn Anh Tuấn

Những đàn bồ câu hồn nhiên bay lượn và đậu yên bình cũng hồn nhiên như thế trước Hoàng cung dát vàng

Những con rắn thần Naga hồn nhiên rời bỏ chốn linh thiêng kiêng kỵ để hòa nhập với cộng đồng người nơi mỗi góc phố, công viên

Những anh xe lôi hồn nhiên nằm ngủ trong khoang xe đợi khách
Tiếp tục đọc “TỘI ÁC HỒN NHIÊN”

Nhân dân Trung Quốc và Chủ nghĩa bá quyền Đại Hán

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Giữa lúc những người lãnh đạo ở Trung Nam Hải đang “vừa ăn cướp vừa la làng”, vu cáo trắng trợn Việt Nam, xuyên tạc việc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam thì trên không ít báo chí, diễn đàn mạng như Sohu, Sina, weibo, Bưu điện Hoa Nam buổi sáng, Tân Hoa xã, v.v. của Trung Quốc, nhiều người dân bình thường và trí thức của đất nước này đã lên tiếng vạch rõ: “Đường lưỡi bò” là không thể chấp nhận, đã nghiêm khắc chỉ trích hành vi đối đầu ngạo mạn với các nước láng giềng ở Biển Đông của Trung Quốc, đồng thời đề nghị những người lãnh đạo TQ cần tôn trọng sự thật lịch sử cùng luật pháp quốc tế. ( như: GS Lý Lệnh Hoa- Trung tâm Thông tin Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc, biên tập viên Chu Phương- Tân Hoa Xã,  GS Hà Quang Hộ- Đại học Nhân dân Trung Quốc, GS Thượng Hội Bằng- Học viện Quan hệ Quốc tế Bắc Kinh, GS Trương Kỳ Phàm- Học viện Pháp luật Đại học Bắc Kinh, nhà báo Lý Tiểu Tinh…)

baby_cheongsam_becomes_fashionable_children_chothing_4.jpg (672×372)

Tiếp tục đọc “Nhân dân Trung Quốc và Chủ nghĩa bá quyền Đại Hán”

Hai “Quốc lễ” dân gian tiêu biểu của Việt Nam : Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ

Đã từ lâu, các hội phủ Giầy Nam Định, hội đền Đồng Bằng (Thái Bình), hội đền Bảo Lộc (Nam Định) và hội Kiếp Bạc (Hải Dương) được tổ chức vào mùa xuân và mùa thu đã trở thành những “Quốc lễ”- tiêu biểu nhất của lễ hội Việt Nam cổ truyền. Nhiều dòng khách hành hương đã tìm về những địa chỉ văn hoá này để cầu nguyện, bày tỏ lòng sùng kính…Nhưng, số người hiểu được nội dung tâm linh-lịch sử thật sự của chúng thì không phải là nhiều.

 Lễ hội Đền Đồng Bằng thờ vua Cha Bát Hải Đại Vương
Lễ hội Đền Đồng Bằng thờ vua Cha Bát Hải Đại Vương

Tiếp tục đọc “Hai “Quốc lễ” dân gian tiêu biểu của Việt Nam : Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ”

Hiểu Tổ Quốc đến xót xa…

Lần đầu tiên tôi được đọc thơ Đỗ Nam Cao, qua tập di cảo Thơ mang tên ông do nhà báo Nguyễn Thế Khoa (người sưu tầm, biên soạn) thay mặt gia đình Đỗ Nam Cao đưa tặng. Nhiều bài hay trong tập thơ đó, nhưng có một bài khiến tôi cứ nghẹn ngào mãi sau khi đọc- đó là bài :

GỬI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA 

Trường Sa ư với ngày thường xa thật
Đảo ở đâu tôi có hỏi đâu mà
Điều khốn nạn là chỉ khi máu đổ
Đảo mới gần mới thật đảo của ta
Tiếp tục đọc “Hiểu Tổ Quốc đến xót xa…”

Nhìn nhận lại môn lịch sử – Kỳ 5: Đâu chỉ có chống ngoại xâm

Thanh NiênTheo đánh giá của các nhà sử học, chương trình sử đang dạy trong trường phổ thông hiện nay vừa thừa lại vừa thiếu. Thừa những cái không cần thiết, thiếu một số nội dung cơ bản, tiêu biểu.


Học sinh lớp 10 Trường THPT Nguyễn Thái Bình (Q.Tân Bình, TP.HCM) trong một giờ học môn sử – Ảnh: Đào Ngọc Thạch Tiếp tục đọc “Nhìn nhận lại môn lịch sử – Kỳ 5: Đâu chỉ có chống ngoại xâm”

Lòng dân với lịch sử nhìn từ lăng Vua Hiệp Hòa

(LĐ) – Người dân tự nguyện xây lăng Vua Hiệp Hòa, sau khi hoàn thành, họ đã bàn giao lăng vua lại cho con cháu nhà vua thuộc phủ Văn Lãng – Nguyễn Phước tộc. Sự kiện xảy ra vào ngày 13-14.8.2013 tại Huế. Mộ của Vua Hiệp Hòa – như báo chí miêu tả – “bé hơn mộ dân thường” và hoang tàn, lạnh lẽo.

Lòng dân với lịch sử nhìn từ lăng Vua Hiệp Hòa
Toàn cảnh khu mộ Vua Hiệp Hòa. Ảnh: Lê Thanh Phong

Thậm chí, không có được một tấm biển chỉ đường đi vào mộ vua, ngay cả người dân Huế cũng không mấy ai biết được mộ Vua Hiệp Hòa. Nói rộng ra, không có nhiều người biết được lịch sử Việt Nam có một vị vua có tên Nguyễn Phúc Hồng Dật, niên hiệu Hiệp Hòa. Lịch sử có những uẩn khúc của nó và số phận của Vua Hiệp Hòa là một uẩn khúc.  Tiếp tục đọc “Lòng dân với lịch sử nhìn từ lăng Vua Hiệp Hòa”

Hoàn cảnh lịch sử dẫn đến tranh chấp chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa – Nguyên nhân và giải pháp

Hàn Nguyên Nguyễn Nhã

17 tháng 7, 2009

SH – Sự thực lịch sử về chủ quyền và những hoàn cảnh lịch sử dẫn đến sự tranh chấp cùng nguyên nhân xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đã quá rõ ràng, nên giải pháp phải là “cái gì của César phải trả lại cho César”. Bất kỳ chính quyền nào cũng như bất cứ người Việt Nam nào, dù khác chính kiến, đều coi trọng việc lấy lại Hoàng Sa về với Việt Nam và bảo toàn toàn vẹn Trường Sa. Lịch sử đã chứng minh dù có hàng ngàn năm bị lệ thuộc rồi cũng có ngày với sự kiên cường, bất khuất, cuộc đấu tranh sẽ thành công. – Hàn Nguyên Nguyễn Nhã

A- HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC CHÍNH QUYỀN TỈNH QUẢNG ĐÔNG (TRUNG HOA) KHẢO SÁT TRÁI PHÉP QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀO NĂM 1909 VÀ TIẾP TỤC XÂM PHẠM CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM Ở HOÀNG SA CHO ĐẾN NĂM 1930

Việt Nam bị Pháp xâm lược năm 1858, mất hết chủ quyền tự chủ ngoại giao theo Hiệp ước cuối cùng ký với Pháp năm 1884, nên đã không bảo vệ được chủ quyền của mình tại Hoàng Sa khi bị các nước khác xâm phạm. Tiếp tục đọc “Hoàn cảnh lịch sử dẫn đến tranh chấp chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa – Nguyên nhân và giải pháp”

Kitô giáo: Lịch sử truyền đạo

TĐH: Đây là một bài học lịch sử và văn hóa rất hữu ích và hiện nay vẫn là vấn đề rất lớn trên thế giới. Các bạn, nhất là các bạn Kitô giáo, nên bỏ một chút thời giờ đọc kỹ, để chúng ta còn biết lo cho đất nước chúng ta, cũng như những mâu thuẫn tôn giáo và chính trị tại nhiều nơi trên thế giới. Bài này đọc nghe có vẻ một chiều, Điều này có thể hiểu được, vì nói đến các tội lỗi gây ra do việc truyền đạo Kitô giáo, người viết thường rất căm phẫn. Tuy vậy, bức tranh tổng quát kể lại ở đây có thể nói là khá chính xác.

Ngày nay, việc truyền đạo Kitô giáo, với hỗ trợ tài chính và chính trị từ các nước Âu Mỹ, đe dọa sự tồn vong văn hóa và ổn định chính trị của nhiều dân tộc yếu kém trên thế giới. Các nhà truyền đạo Kitô giáo nên rất nhạy cảm về các tổn hại xã hội họ đã và đang gây ra.

Tinh thần Giêsu là hòa bình, hy sinh, thương khó, và tình yêu vô điều kiện, Người Kitô giáo, trong việc truyền đạo, thường đi ngược lại những điều Chúa Giêsu dạy. Rất tiếc!

Không có cách truyền đạo nào tốt bằng sống với tinh thần chúa Giêsu.

Bản dịch Việt: Minh Kiến

Nguyên bản tiếng Anh: PARTIAL HISTORY OF CHRISTIAN MISSIONARY ATROCITIES

Nguồn Việt: Thời Sự Phật Pháp
Lời mở đầu: Tiếp tục đọc “Kitô giáo: Lịch sử truyền đạo”

NGẪM VỀ CÔNG CUỘC LẤN BIỂN GIAN TRUÂN CỦA ÔNG CHA TA

    Nhân dịp một nhóm trí thức gồm giáo sư Hoàng Xuân Phú, nhà báo Nguyễn Đăng Quang, cô giáo Hiền Giang và kỹ sư Lã Dũng về Tiên Lãng thăm đại gia đình họ Đoàn sau khi hai anh em ruột Đoàn Văn Vươn và Đoàn Văn Quý được đặc xá ra tù ( xem bài viết cảm động của Nguyễn Đăng Quang về cuộc thăm hỏi này trên teu.bloge), tôi xin được gửi tới ông Vươn & ông Quý mấy dòng cảm nghĩ viết từ mấy năm trước…

Đêm 30 Tết, sắp tới Giao thừa, tôi chợt bâng khuâng xa xót nghĩ đến thân phận của những người trong gia đình ông Đoàn Văn Vươn… Lúc này, gia đình ông tan tác- người trong trại tạm giam, người vất vưởng tìm chỗ che mưa nắng, bàn thờ gia tiên bị vùi trong đống gạch vụn, bữa cơm tất niên ấm cúng đã trở thành ký ức… Nhưng, luật pháp sẽ công minh phán xử đúng – sai, và lịch sử sẽ công bằng xác định lại mọi giá trị… Tôi tin rằng, những người đã có công lấn biển, chinh phục biển từng được dân chúng coi là “anh hùng” của vùng Duyên hải Tiên Lãng sẽ không bị hắt hủi và lãng quên, bởi họ – giống như ông cha ta từ hàng ngàn hàng vạn năm nay đã đổ mồ hôi xương máu để tồn tại và làm giàu có thêm cho lãnh thổ Quốc gia, dù có gặp đủ thứ thiên tai nhân họa rồi cuối cùng cũng sẽ tìm cách đứng lên để khẳng định một “Chỗ đứng dưới mặt trời” – như tên một cuốn tiểu thuyết nước ngoài được dịch sang ta nửa thế trước… Tiếp tục đọc “NGẪM VỀ CÔNG CUỘC LẤN BIỂN GIAN TRUÂN CỦA ÔNG CHA TA”

Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc?

NCQT – Posted on by The Observer

500_tranh-tet

Tác giả: Nguyễn Hải Hoành

Tiếng ta còn thì nước ta còn!

Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm: 1- Đồng hóa tự nhiên, tức quá trình dân tộc A trong giao tiếp với dân tộc B, do chịu ảnh hưởng lâu dài của B mà A tự nhiên dần dần mất bản sắc của mình, cuối cùng bị B đồng hóa; đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người. 2- Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc nhỏ yếu hơn chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của một dân tộc lớn mạnh hơn; đây là một tội ác.

Đồng hóa dân tộc chủ yếu diễn ra dưới hình thức đồng hóa văn hóa, trong đó chủ thể đồng hóa thường là một nền văn hóa mạnh và tiên tiến (như đông dân hơn, kinh tế phát triển hơn, đã có chữ viết, có các hệ tư tưởng), đối tượng đồng hóa thường là nền văn hóa yếu và lạc hậu hơn. Đồng hóa ngôn ngữ là công cụ đồng hóa văn hóa thông dụng nhất, quan trọng nhất, hiệu quả nhất. Một dân tộc bị mất tiếng nói mẹ đẻ của mình và phải nói tiếng của một dân tộc khác thì không còn giữ được bản sắc dân tộc nữa. Tiếp tục đọc “Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc?”

Exhibition captures glimpse of Vietnamese history

Updated  August, 31 2015 17:02:12
 VNS
A painting scroll describing the landing of a boat bearing Japanese merchants in Hoi An harbour in the 17-18th century. The item was provided by the Kyushu National Museum in Japan. — Photo courtesy the Viet Nam National Museum of History

HA NOI (VNS) — Vietnamese history, dating from prehistoric times to the modern era, is being depicted at an exhibition set to open on September 1 at the Viet Nam National Museum of History.With 300 items on display, including photos, paintings and documents, the exhibition will offer a wide view of the country’s history over the last 500,000 years. Tiếp tục đọc “Exhibition captures glimpse of Vietnamese history”