Kỳ cuối: Đâu là “chiếc nôi” chữ quốc ngữ?

21/04/2014 07:30 GMT+7

TTHiện một số nhà nghiên cứu cũng như các bậc nhân sĩ, thức giả đã đặt vấn đề về nơi khai sinh ra loại chữ viết này.

Kỳ 1: Thuở ban đầu của chữ quốc ngữ Kỳ 2: Hai bức thư và tập lịch sử nước An Nam Kỳ 3: Ai có công đầu với chữ quốc ngữ?

VzpxxlCQ.jpgPhóng to
Thầy Trần Đình Trắc (phải) và nhà nghiên cứu Võ Ngọc Liễn ở Bình Định – Ảnh: H.V.M.

Những luận cứ khác nhau bước đầu đã được đưa ra, nhưng câu trả lời xác đáng vẫn còn ở phía trước…

Hội An – Thanh Chiêm?

“Từ những năm 1960-1970, khi nghĩ về di tích Nước Mặn với việc hình thành chữ quốc ngữ, một số nhân sĩ, trí thức ở Bình Định chúng tôi đã nghĩ việc làm sao để đánh động nhà chức trách tổ chức ngày cả nước kỷ niệm chữ quốc ngữ hằng năm, nhưng vẫn chưa làm được vì chiến tranh. Mình sở hữu được loại chữ viết vô cùng tiện dụng, khoa học như vậy mà không có ngày quốc ngữ thì thấy thiếu sót quá, đáng tiếc quá…”

Ông TRẦN ĐÌNH TRẮC

Tiếp tục đọc “Kỳ cuối: Đâu là “chiếc nôi” chữ quốc ngữ?”

Dấu vết của những cuộc dịch chuyển tộc người

08/11/2012 09:00 GMT+7

TTLý giải về hiện tượng những đảo thổ ngữ lạ giữa một cộng đồng có giọng nói phổ thông, nhiều người thường lý giải là do nước uống, do thổ nhưỡng, do môi trường khắc nghiệt, vùng đầu sóng ngọn gió, ăn to nói lớn…

Một số lý giải khác, như trường hợp làng Mỹ Lợi, thì cho rằng người Quảng đã ra Huế định cư và bảo lưu giọng Quảng của mình suốt 4-5 trăm năm nay (những họ lâu đời nhất ở Mỹ Lợi có gia phả đều đã 16-17 đời). Thế nhưng, rõ ràng những cách trả lời này mang nhiều kiến giải của dân gian hơn là khoa học. Trong khi khoa học, tức các nhà ngôn ngữ trên thế giới, đã lý giải hiện tượng này một cách đầy đủ và khá sâu sắc.

6QACz6iy.jpgPhóng to
Cuốn sách đoạt giải thưởng Sách hay 2012 của tác giả Hồ Trung Tú

Tiếp tục đọc “Dấu vết của những cuộc dịch chuyển tộc người”

Con đường lên nắm quyền của Ngô Đình Diệm, 1945-54 (3 Phần)

Con đường lên nắm quyền của Ngô Đình Diệm, 1945-54 (P1)

Posted on by NCQT

ngo-dinh-diem1

Nguồn: Edward Miller “Vision, Power and Agency: The Ascent of Ngô Ðình Diệm, 1945–54“, Journal of Southeast Asian Studies, 35 (3), October 2004, pp 433–458.

Biên dịch: Hoài Phi & Vy Huyền

Tóm lược: Bài viết này phản bác lại những diễn giải hiện có về Ngô Ðình Diệm bằng cách xem xét những hoạt động của ông trong vòng một thập kỷ trước khi ông trở thành lãnh đạo của miền Nam Việt Nam vào năm 1954. Ngô Ðình Diệm đã chủ động tìm cách nắm quyền trong những năm đó, và ông thành công chủ yếu nhờ nỗ lực của chính mình và của những đồng minh người Việt của ông. Cùng thời gian đó, ông và em trai là Ngô Ðình Nhu cũng phác thảo ra viễn kiến đặc biệt về quá trình hiện đại hoá, so rõ cho chúng ta thấy chiến lược xây dựng quốc gia ở miền Nam Việt Nam sau năm 1954. Tiếp tục đọc “Con đường lên nắm quyền của Ngô Đình Diệm, 1945-54 (3 Phần)”

Hoà Thượng Thạch Liêm, chúa Nguyễn Phúc Chu và chùa Thiên Mụ

Nguyễn Hữu Vinh biên soạn

Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Dù trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung.  Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ”.

Tiếp tục đọc “Hoà Thượng Thạch Liêm, chúa Nguyễn Phúc Chu và chùa Thiên Mụ”

Ancient tombs reflect cultural exchange


Cross-cultural gravesite: A local resident takes care of tomb of Banjiro, in 1665, in her garden in Hoi An.

VNN – The tombs of families of Japanese traders who died in Hoi An in the 17th century have been cared for by generations of local people. They have become a cross-cultural project for researchers from the two countries. Hoai Nam reports.

Vietnamese and Japanese cultural researchers from Hoi An’s Centre for Cultural Heritage Management Preservation and Japanese universities have been seeking the families of three Japanese traders who died and were buried in Hoi An in the 17th century.

Their tombs, which have been preserved by local people in Cam Chau Commune, attracts Japanese residents and tourists. Tiếp tục đọc “Ancient tombs reflect cultural exchange”

Chùa Hà Trung và sư Tạ Nguyên Thiều

Nguyễn Hữu Vinh

Huế không thiếu những ngôi chùa nổi tiếng, không phải vì chùa tọa lạc ở nơi  phong cảnh nên thơ, mà vì các chùa đã đóng vai trò quan trọng trong công việc hoằng pháp giáo lý Phật giáo trong suốt thời gian dài trong quá khứ. Quần thể chùa chiền ở Huế đa số đều tập trung vào các vùng lân cận thành phố, phân bố rãi rác về phía Tây Nam của kinh thành. Ðây là dải đất ven bờ sông Hương,  phong cảnh thiên nhiên hữu tình, sông núi hiền hòa nên sự có mặt của các ngôi chùa này là điều dễ hiểu. Nhưng có một ngôi chùa rất xưa, không nằm trong dải đất ven bờ sông Hương, núi Ngự hữu tình này và đã bị lãng quên trong suốt thời gian dài. Ðó là chùa Hà Trung.

Chùa Hà Trung

Từ chùa Thiên Mụ ven theo tả ngạn sông Hương lần đi về thành phố, tạt ngang chùa Báo Quốc, xong hướng về hướng Nam dọc theo quốc lộ 1,  đi khoảng 30 km, dần dần sẽ đến vùng gió cát vi vu thơm mùi nước mặn biển cả. Ðó là vùng kề cận đầm Hà Trung phá Tam Giang. Tiếp tục đọc “Chùa Hà Trung và sư Tạ Nguyên Thiều”

Bắc di cư: Dân Công giáo tị nạn từ miền Bắc và vai trò của họ tại Việt Nam CH, 1954-1959

Posted on by The Observer – NCQT

Nguồn: Peter Hansen (2009). “Bac Di Cu: Catholic Refugees from the North of Vietnam, and Their Role in the Southern Republic, 1954–1959”, Journal of Vietnamese Studies, Vol. 4, No. 3, pp. 173 -211.

Biên dịch và Hiệu đính: Đỗ Hải Yến

Gia Kiệm, một thị trấn khoảng tám mươi ngàn dân, nằm cách thành phố Hồ Chí Minh chừng năm mươi kilômét về phía Bắc, trên đường đến Đà Lạt. Thị trấn nổi bật bởi sự phồn thịnh và quy củ, nhưng điểm đặc biệt nhất là sự phong phú của các nhà thờ Công giáo vốn nằm rải rác trên trục đường chính, chỉ cách nhau vài trăm mét. Gia Kiệm không phải là một cộng đồng lâu đời. Trên thực tế, trước năm 1954, đó còn chưa phải là một ngôi làng. Nhưng vào năm đó, Giám mục Thaddeus Lê Hữu Từ đã chọn Gia Kiệm làm nơi tái định cư cho hàng ngàn dân Công giáo bỏ chạy vào Nam từ Giáo khu Phát Diệm của ông ở miền Bắc. Dân Công giáo từ các giáo khu khác ở miền Bắc như Bùi Chu và Thanh Hóa nhanh chóng gia nhập đoàn giáo dân của Lê Hữu Từ tại Gia Kiệm. Tên của các giáo xứ mới thành lập tại Gia Kiệm gợi nhắc gốc gác miền Bắc của họ: Phát Hải, Thanh Sơn, Phúc Nhạc, Ninh Phát, Kim Thượng, v.v…[1] Tiếp tục đọc “Bắc di cư: Dân Công giáo tị nạn từ miền Bắc và vai trò của họ tại Việt Nam CH, 1954-1959”

Người Jing (Kinh) trên đất Trung Hoa, 500 năm lưu lạc vẫn tự hào hai tiếng Việt Nam

NN – Trong vùng Tam Đảo thuộc tỉnh Quảng Tây, bên Tàu có ba làng người Việt, gọi là Jing (Kinh). Tài liệu tại địa phương cho biết họ đã rời Việt Nam và định cự tại đây khoảng 500 năm. Tuy nhiên, đồng bào Việt vẫn giữ gần như hầu hết các nét đặc thù của dân tộc Việt mặc dù áp lực đồng hóa thường trực của văn hóa Trung Hoa.

Bác sĩ Lê Văn Lân đã đi thăm tận nơi 3 làng Việt bên Tầu vẫn được sống như tự trị ở vùng duyên hải Quảng Tây. Tên ba làng đó là Ô Vĩ, Vu Đầu, Sơn Tâm, thuộc huyện Giang Bình, quen gọi là Kinh Tộc tam đảo. Dân trong ba làng vẫn giữ tiếng nói, kiểu ăn mặc, phong tục Việt, vẫn ăn tết, hát dân ca cổ truyền, dùng đàn bầu, đàn nhị, sáo, trống, cồng. Đồ ăn của họ thì cơm vẫn là chính, dùng nước mắm, lại có xôi chè, bánh tráng nướng, bún riêu, bún ốc. Họ vẫn dùng chữ nôm, và dĩ nhiên cũng nói tiếng Tầu địa phương.

Tiếp tục đọc “Người Jing (Kinh) trên đất Trung Hoa, 500 năm lưu lạc vẫn tự hào hai tiếng Việt Nam”

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – 6 kỳ

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay: Tại sao lại là Johnathan Hạnh Nguyễn ?

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – Kỳ 2: Vào dinh xin chữ ký tổng thống

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – Kỳ 3: Phần thưởng nóng

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – Kỳ 4: Vận động viện trợ nhân đạo, xúc tiến đầu tư…

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – Kỳ 5: Mở đường kiều hối

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – Kỳ 6: Giữ đường bay bằng mọi giá

***

06:21 AM – 18/05/2015 TN

Trong lịch sử hàng không dân dụng VN có một Việt kiều đã chấp nhận mạo hiểm, dám đánh đổi mạng sống của mình để mở đường bay quan trọng, tạo một lối mở ra thế giới cho đất nước từ 30 năm trước…

Lễ đón chuyến bay đầu tiên VN9033 từ TP.HCM đáp xuống Manila vào ngày 9.9.1985 - Ảnh: T.L
Lễ đón chuyến bay đầu tiên VN9033 từ TP.HCM đáp xuống Manila vào ngày 9.9.1985 – Ảnh: T.L

Bây giờ có thể nói việc mở đường bay không quá khó khi mà VN đã gia nhập nhiều tổ chức, bình thường hóa quan hệ với nhiều nước trên thế giới. Chỉ cần có lượng khách đi lại khá thường xuyên là có thể… bay!

Nhưng vào những năm đầu thống nhất đất nước, việc mở đường bay, đặc biệt là bay thẳng đến những nước được gọi là “phía bên kia” không hề dễ dàng chút nào. Phần vì chúng ta chưa thật sự chủ động mở cửa, phần vì lệnh cấm vận của Mỹ còn thắt chặt. Việc ký kết các hiệp định hàng không, mở đường bay thẳng vì thế luôn đối mặt với nhiều khó khăn. Tiếp tục đọc “Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – 6 kỳ”

Tản mạn về từ Hán Việt thời – thì (phần 6.2)

Nguyễn Cung Thông

nguyencungthong@yahoo.com

Image14

Trong tiến trình hội nhập với đà tiến hóa của văn minh hiện đại, chúng ta cần phải nhìn lại một cách khác quan vài đặc tính của tư duy người Việt Nam qua các tập tục từ ngàn xưa và phản ánh qua ngôn ngữ cận đại, trọng tâm của loạt bài này. Có hiểu quá trình cấu tạo các khái niệm về thời gian như chữ thời thì mới hy vọng phần nào hiểu được tại sao người Việt Nam thường đi đến các buổi họp mặt (như làm việc, giỗ, tiệc trà, đám cưới …)  không theo đúng thời hạn và sau đó là tìm ra các phương pháp cải cách lề lối suy nghĩ không hợp thời như vậy.

Các tính tốt hay tích cực như tinh thần cộng đồng, giúp đỡ lẫn nhau (Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn) thì ráng giữ lấy, còn một số tư duy không phù hợp với thời đại nữa thì cần phải xem lại như ‘chứng bệnh’ giờ cao-su (giờ dây thun). Tiếp tục đọc “Tản mạn về từ Hán Việt thời – thì (phần 6.2)”

Việt Nam-Trung Quốc chính thức ký kết Hiệp định về thác Bản Giốc

DT – Việt Nam và Trung Quốc vừa chính thức ký kết Hiệp định khai thác tài nguyên du lịch thác Bản Giốc và Hiệp định về tự do đi lại của tàu thuyền ở cửa sông Bắc Luân.

Với việc ký kết 2 văn kiện pháp lý quan trọng này, Việt Nam và Trung Quốc đã chính thức khép lại hoàn toàn những tranh chấp do lịch sử để lại, mở ra một thời kỳ hợp tác mới giữa hai nước.

Thác Bản Giốc (Ảnh: Trương Cộng Hòa)>
Thác Bản Giốc (Ảnh: Trương Cộng Hòa)

Khu vực thác Bản Giốc và cửa sông Bắc Luân là những khu vực rất nhạy cảm, có lịch sử tranh chấp lâu đời và dư luận hai nước Việt Nam, Trung Quốc đặc biệt quan tâm. Nhiều năm qua, các khu vực này đã được đưa ra bàn bạc trong nhiều vòng đàm phán của Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc Việt Nam-Trung Quốc nhưng chưa giải quyết được. Ngay sau khi hoàn thành phân giới cắm mốc trên đất liền năm 2008, Việt Nam và Trung Quốc nhất trí giải quyết tổng thể các khu vực tồn đọng trong đó có 2 khu vực này bằng giải pháp “cả gói”, dựa trên nguyên tắc công bằng hợp lý, tôn trọng các dấu tích lịch sử, ưu tiên ổn định đời sống cư dân biên giới, phù hợp các văn bản pháp lý do lịch sử để lại. Tiếp tục đọc “Việt Nam-Trung Quốc chính thức ký kết Hiệp định về thác Bản Giốc”

Vụ Nhân Văn Giai Phẩm từ góc nhìn của Đại tá Công an

Được đăng bởi nguyentrongtao
và VANDANVIET.COM

NTT: Nhà văn Lê Hoài Nguyên tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo dõi văn nghệ sĩ và văn hóa) đã gửi tới NTT.ORG một chuyên luận dài về Nhân Văn Giai Phẩm, và chúng tôi đã đăng làm 5 kỳ từ đầu tháng 8/2010, được nhiều trang mạng đăng lại. Nay tác giả đã chỉnh sửa lại bài viết của mình và nhờ NTT.ORG đăng lại trọn vẹn bài viết này. Các bạn hãy đọc nó như đọc một “góc nhìn” về sự thật.

VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM MỘT TRÀO LƯU DÂN CHỦ, MỘT CUỘC CÁCH TÂN VĂN HỌC KHÔNG THÀNH

LÊ HOÀI NGUYÊN


I – Mấy vấn đề có tính phương pháp luận

Hiện nay còn tồn tại nhiều cách đánh giá về vụ Nhân Văn-Giai Phẩm. Có người cực đoan cho rằng cốt lõi đây là vụ án chính trị phản động không dính líu gì đến văn học, mà chỉ có một số anh em văn nghệ sĩ bị lôi kéo vào, Đảng và nhà nước đã không xử án văn nghệ sĩ (1). Người thì cho là một vụ án văn học, thuần túy oan sai về văn học, để đàn áp văn nghệ sĩ, nhà nước đã biến một vụ việc văn học thành một vụ án chính trị. (2).Tât nhiên là để bảo vệ các khuynh hướng, để đánh giá đúng thực chất của Nhân Văn Giai Phẩm không phải dễ dàng, mà phản bác hoàn toàn cũng cần hết sức thận trọng. Tiếp tục đọc “Vụ Nhân Văn Giai Phẩm từ góc nhìn của Đại tá Công an”

Hòa hợp – hòa giải cần đôi mắt mới

(TNO) Thời điểm để đặt ra câu chuyện hòa hợp, hòa giải dân tộc đã trôi qua từ lâu. Vấn đề này hiện nay cần được nhìn nhận dưới những góc độ khác. Nhận định này được Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh, nhà ngoại giao lão thành, nguyên thành viên đoàn đàm phán Hiệp định Paris 1973 chia sẻ với Thanh Niên Online.

>> Hòa hợp tạo ra sức mạnh cho dân tộc

Hòa hợp - hòa giải cần đôi mắt mới - ảnh 1
Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh – Ảnh: Trường Sơn

Ông Huỳnh lý giải: Lúc đầu đàm phán Paris, tư tưởng của ta là giành thắng lợi, buộc Mỹ rút, lập chính phủ liên hiệp và sau đó chính phủ sẽ đoàn kết toàn dân. Điều này có nghĩa là toàn dân Việt Nam dù phe này phe kia, tập hợp ba lực lượng: lực lượng cách mạng, lực lượng đối địch, lực lượng thứ ba cũng sẽ đoàn kết lại dưới sự lãnh đạo của chính phủ liên hiệp. Lúc đó chưa có khái niệm hòa hợp dân tộc. Tiếp tục đọc “Hòa hợp – hòa giải cần đôi mắt mới”

Bí ẩn mồ chôn tập thể lớn nhất Sài Gòn

VEKhu vực vòng xoay Dân Chủ (quận 10 và 3) từng là nơi chôn 1.831 người già, trẻ bị vua Minh Mạng ra lệnh xử tử trong cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi 180 năm trước.

Ngã sáu Công trường Dân Chủ, đường 3/2, Cách Mạng Tháng 8 là khu vực sầm uất tại TP HCM với nhà cao tầng san sát, xe cộ tấp nập. Nhưng ít người biết trước đây nó từng là nghĩa địa lớn nhất Sài Gòn với tên gọi “đồng mồ mả”. Đây cũng là vị trí được cho là có ngôi mộ tập thể (Mả Ngụy) gần 2.000 người già, trẻ, trai, gái bị xử tử vì tội phản nghịch trong cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi vào năm 1833-1835 dưới thời vua Minh Mạng.

bi-n-mo-chon-tap-the-lon-nhat-sai-gon

Bản đồ người Pháp vẽ năm 1878, Sài Gòn tập trung chủ yếu hai bên đường Impériale (nay là Hai Bà Trưng) về phía rạch Thị Nghè và từ đường Chasseloup Laubat (nay là Nguyễn Thị Minh Khai) về hướng sông Sài Gòn và rạch Bến Nghé. Phía còn lại của hai con đường này là ranh giới của một khu vực rộng lớn gần như không có người ở, được họ đặt tên là Đồng Mả Mồ (Đồng Tập Trận).

Tiếp tục đọc “Bí ẩn mồ chôn tập thể lớn nhất Sài Gòn”

Báo Mỹ: Việt Tân đã giết hại hàng loạt nhà báo gốc Việt để bịt miệng

Phóng sự điều tra của chương trình truyền hình Frontline:
Tiếng Anh: Terror in Little Saigon

http://www.pbs.org/wgbh/pages/frontline/terror-in-little-saigon/

Tiếng Việt:

(TNO) Tổ chức Việt Tân mà tiền thân là “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” đã lập ra một đội sát thủ bí mật tên K-9 để ám sát hàng loạt nhà báo gốc Việt có những bài viết chỉ trích tổ chức này trong giai đoạn 1981-1990, theo phóng sự điều tra phát trên chương trình truyền hình nổi tiếng Frontline tối ngày 3.11.2015 (giờ Mỹ).

Nhà báo Duong Trong Lam bị tổ chức ám sát K-9 của nhóm Mặt trận, tiền thân của tổ chức phản động Việt Tân, bắn chết ở San Francisco (Mỹ) năm 1981
Nhà báo Duong Trong Lam bị tổ chức ám sát K-9 của nhóm Mặt trận, tiền thân của tổ chức phản động Việt Tân, bắn chết ở San Francisco (Mỹ) năm 1981

Trong giai đoạn 1981-1990, Việt Tân đã giết chết 5 nhà báo gốc Việt, đốt phá tòa soạn ngay trên đất Mỹ và đe dọa bất kỳ ai dám thách thức mưu đồ tái khởi động chiến tranh Việt Nam của họ. Ngày 3.11.2015 (giờ Mỹ), chương trình truyền hình nổi tiếng Frontline và trang tin điều tra ProPublica cho phát sóng và đăng tải bài phóng sự điều tra Khủng bố ở Little Saigon do nhà báo điều tra Mỹ A.C.Thompson thực hiện. Tiếp tục đọc “Báo Mỹ: Việt Tân đã giết hại hàng loạt nhà báo gốc Việt để bịt miệng”