Dân ca Dân nhạc VN – Dân ca Hrê (H’rê)

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Hoa, mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Hrê.

Dân tộc Hrê còn có tên gọi khác là Chăm Rê, Chom Krẹ, Lùy. Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me, ngữ hệ Nam Á.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Hrê ở Việt Nam có dân số 127.420 người, cư trú tại 51 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Hrê cư trú tập trung tại các tỉnh: Quảng Ngãi (115.268 người, chiếm 90,5% tổng số người Hrê tại Việt Nam), Bình Định (9.201 người), Kon Tum (1.547 người), Đắk Lắk (341 người), Gia Lai (128 người),

Người Hrê làm lúa nước từ lâu đời, kỹ thuật canh tác lúa nước của người Hrê tương tự như vùng đồng bằng Nam Trung bộ. Người Hrê chăn nuôi trước hết nhằm phục vụ các lễ cúng bái, riêng trâu còn được dùng để kéo cày, bừa. Nghề đan lát, dệt khá phát triển, nhưng nghề dệt đã bị mai một qua mấy chục năm gần đây. Tiếp tục đọc “Dân ca Dân nhạc VN – Dân ca Hrê (H’rê)”

Dân ca Dân nhạc VN – Dân ca Hoa

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Hà Nhì, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Hoa.

Dân tộc Hoa (Trung văn giản thể: 华; Trung văn phồn thể: 華) là những người gốc Trung Hoa định cư ở Việt Nam và đa số có quốc tịch Việt Nam. Các tên gọi khác: Khách Trú, người Hán, người Tàu, Ba Tàu. Nếu xếp theo phân loại của nước Trung Hoa hiện thời thì họ là dân tộc Hán. Đây là một trong các dân tộc tại Việt Nam có dân số giảm trong 10 năm (1999-2009) theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam. Tiếp tục đọc “Dân ca Dân nhạc VN – Dân ca Hoa”

Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Hà Nhì

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Gié Triêng, mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Hà Nhì hôm nay.

Người Hà Nhì (tên tự gọi: Haqniq, tiếng Hán: 哈尼族 Hānízú, Cáp Nê tộc), tên gọi khác: U Ní, Xá U Ní là một trong 54 dân tộc sống trên đất nước Việt Nam.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Hà Nhì ở Việt Nam có dân số 21.725 người, cư trú tại 32 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Hà Nhì cư trú tập trung tại các tỉnh: Lai Châu (13.752 người, chiếm 63,3% tổng số người Hà Nhì tại Việt Nam), Lào Cai (4.026 người), Điện Biên (3.786 người), gồm 3 nhóm địa phương: Cồ Chồ, Là Mi và Hà Nhì Đen. Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Hà Nhì”

Dân Ca Dân Nhạc VN – Dân Ca Gié Triêng

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Giáy, mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Gié Triêng hôm nay.

Người Gié Triêng còn được biết qua các tên: Đgiéh, Ta Reh, Giảng Rây, Pin, Triêng, Treng, Ta Liêng, Ve, La-Ve, Bnoong, Ca Tang. Có thể cùng là một dân tộc với người Talieng tại Lào. Dân tộc này thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Gié Triêng ở Việt Nam có dân số 50.962 người, cư trú tại 29 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Gié Triêng cư trú tập trung tại các tỉnh: Kon Tum (32.644 người, chiếm 62,1% tổng số người Gié Triêng tại Việt Nam), Quảng Nam (19.007 người, chiếm 37,3% tổng số người Gié Triêng tại Việt Nam), ngoài ra còn có tại Đắk Lắk (78 người) và một số ít ở các tỉnh khác. Tiếp tục đọc “Dân Ca Dân Nhạc VN – Dân Ca Gié Triêng”

Các câu lạc bộ ca Huế chưa tìm được hướng đi

TTH.VNThở dài là câu trả lời tôi nhận được khi hỏi thăm về hoạt động của CLB Ca Huế thính phòng (Bảo tàng Văn hóa Huế) và CLB Ca Huế Nguyễn Thị Lợi (tư gia nhà nghiên cứu Bửu Ý).

 Rời rạc

Nghe tôi hỏi thăm tình hình hoạt động của CLB Ca Huế thính phòng, nghệ sĩ đàn tranh Lệ Hoa thở dài: “Khó lắm em ơi, CLB chỉ vận hành bằng niềm đam mê mà không có kinh phí”.

Không gian Ca Huế thính phòng

Nhớ những ngày đầu, rất đông nghệ sĩ hào hứng đến với CLB để được biểu diễn trong một không gian Ca Huế đúng nghĩa. Thế nhưng, không gian này giờ không còn “xôm tụ” như xưa, khi nghệ sĩ còn vướng bận nỗi lo cơm áo. Có những đêm phải nghỉ vì không huy động được nghệ sĩ. Nhiều đêm, chương trình biểu diễn rời rạc khi nhạc công chỉ mỗi mình nghệ sĩ đàn tranh (trong khi dàn nhạc Ca Huế thường có 5 cây ngũ tuyệt). Người ca cũng chỉ vài nghệ sĩ tâm huyết còn trụ lại. Nghệ sĩ Lệ Hoa bộc bạch: “Có những đêm, nhạc công chỉ mình tôi đánh đàn vẫn phải chơi. Chỉ vài lần đóng cửa, khán giả sẽ không đến nữa. ”. Tiếp tục đọc “Các câu lạc bộ ca Huế chưa tìm được hướng đi”

Múa cung đình vào lớp học

TTHVào chiều thứ 4 hàng tuần, các em học sinh khối 4 và 5 Trường tiểu học Cứ Chánh, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy lại í ới nhau đi học múa cung đình. Lớp học do nhà trường phối hợp với Chi đoàn Nhà hát Nghệ thuật truyền thống cung đình Huế giảng dạy hai năm nay.

 
Các em học sinh Trường tiểu học Cư Chánh học múa cung đình

Chúng tôi có mặt tại Trường tiểu học Cư Chánh đúng vào lúc các em đang chuẩn bị vào buổi học. Niềm vui khi tham gia lớp học hiện rõ trên từng gương mặt, một số em tranh thủ ôn lại một số động tác trước khi vào buổi học mới. Ngô Hồng Minh, học sinh lớp 5/1, bày tỏ: “Con tham gia học múa cung đình từ năm học lớp 4, rất thích môn học này nên con chưa nghỉ buổi nào. Trước đây con không biết, nhưng giờ con biết Nhã nhạc cung đình Huế là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, rất cần được bảo tồn và phát huy”. Tiếp tục đọc “Múa cung đình vào lớp học”

Người Jing (Kinh) trên đất Trung Hoa, 500 năm lưu lạc vẫn tự hào hai tiếng Việt Nam

NN – Trong vùng Tam Đảo thuộc tỉnh Quảng Tây, bên Tàu có ba làng người Việt, gọi là Jing (Kinh). Tài liệu tại địa phương cho biết họ đã rời Việt Nam và định cự tại đây khoảng 500 năm. Tuy nhiên, đồng bào Việt vẫn giữ gần như hầu hết các nét đặc thù của dân tộc Việt mặc dù áp lực đồng hóa thường trực của văn hóa Trung Hoa.

Bác sĩ Lê Văn Lân đã đi thăm tận nơi 3 làng Việt bên Tầu vẫn được sống như tự trị ở vùng duyên hải Quảng Tây. Tên ba làng đó là Ô Vĩ, Vu Đầu, Sơn Tâm, thuộc huyện Giang Bình, quen gọi là Kinh Tộc tam đảo. Dân trong ba làng vẫn giữ tiếng nói, kiểu ăn mặc, phong tục Việt, vẫn ăn tết, hát dân ca cổ truyền, dùng đàn bầu, đàn nhị, sáo, trống, cồng. Đồ ăn của họ thì cơm vẫn là chính, dùng nước mắm, lại có xôi chè, bánh tráng nướng, bún riêu, bún ốc. Họ vẫn dùng chữ nôm, và dĩ nhiên cũng nói tiếng Tầu địa phương.

Tiếp tục đọc “Người Jing (Kinh) trên đất Trung Hoa, 500 năm lưu lạc vẫn tự hào hai tiếng Việt Nam”

Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Giáy

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Gia Rai, mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Giáy hôm nay.

Dân tộc Giáy ở Việt Nam thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái còn có các tên gọi khác bao gồm: Nhắng, Dẳng, Pâu Thìn, Pú Nà, Cùi Chu, Xạ. Người Giáy ở Lào Cai nói nhẹ nhàng, tự gọi tên dân tộc mình là Pú Dáy, tiếp đó là Cấn Dẳng, là tiếng gọi của người Tày, người Kinh chúng ta gọi lớ Dẳng thành Nhắng. Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Giáy”

Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Gia Rai (Jrai)

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Ê Đê, mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Gia Rai (Jrai) hôm nay.

Người Gia Rai hay Jrai, là một dân tộc nói tiếng Gia Rai thuộc hệ ngôn ngữ Nam Đảo. Người Gia Rai còn có các tên gọi khác là người Giơ Rai, Chơ Rai, Tơ Buăn, Hơbau, Hdrung, Chor hay Gia Lai.

Người Gia Rai là một nhánh lớn của tộc người Rang Đê cổ hay còn gọi là người Ê Đê cổ được ghi chép khá nhiều trong các bia ký Chăm Pa, sự tấn công của đế quốc Mông Cổ, sau này là Nam Tiến của người Việt đã đẩy bộ phận người Chăm Pa lên vùng bình nguyên Cheo Reo hòa hợp với người Ê Đê cổ tạo ra nhóm tộc người tự gọi là Anak Jarai tức con cái của Jarai. Trong văn hóa và tính cách của người Gia Rai có nhiều yếu tố Chăm Pa trung đại so với người Ê Đê chịu ảnh hưởng đứt gãy của yếu tố Lâm Ấp Chăm Pa cổ đại. Người Gia Rai còn giữ được yếu tố ngôn ngữ Rang Đê cổ đó là ngôn ngữ đa âm hơn so với người Ê Đê láng giềng. Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Gia Rai (Jrai)”

Truyện Kiều: Từ văn học tới Điện ảnh – Một phương thức diễn dịch nghệ thuật đầy thử thách

                                    ( Truyện Kiều qua góc nhìn Điện ảnh )

chi-em-thuy-kieu

  1. Đối với một tác phẩm kinh điển lớn của văn học dân tộc như Truyện Kiều, các phương thức diễn dịch nghệ thuật tất yếu sẽ phải nảy sinh (Âm nhạc, Hội họa, Điêu khắc, Sân khấu, Điện ảnh, v.v). Đó cũng là điều đã xảy ra đối với nhiều tác phẩm văn học lớn của thế giới (Các vở kịch của Shakespeare, các tiểu thuyết của Stendhal, Dostoievski, Liev Tolstoi, v.v.). Riêng việc “diễn dịch” bằng điện ảnh là gây nhiều tranh cãi và thu hút sự quan tâm lớn nhất, bởi quy mô thực hiện và sức ảnh hưởng sâu rộng trực tiếp đến xã hội, như nhà điện ảnh học nổi tiếng người Pháp G. Sadoul đã khẳng định: Tiếp tục đọc “Truyện Kiều: Từ văn học tới Điện ảnh – Một phương thức diễn dịch nghệ thuật đầy thử thách”

Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Ê Đê

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Dao, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Ê Đê.

Dân tộc Ê Đê có tên tự gọi: Anăk Ê Ðê. Các tên gọi khác: Ra Ðê (hay Rhađê), Ê Đê Êgar, Ðê. Các nhóm địa Phương: Kpă, Adham, Krung, Mđhur, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, Arul, Hwing, Ktlê, Êpan. Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia (ngữ hệ Nam Ðảo). Ngôn ngữ Ê Đê được ký âm bằng chữ Latinh.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Ê Đê ở Việt Nam có dân số 331.194 người, cư trú tại 59 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Ê Đê cư trú tập trung tại tỉnh: Đắc Lắc (298.534 người, chiếm 17,2% dân số toàn tỉnh và 90,1% tổng số người Ê Đê tại Việt Nam), Phú Yên (20.905 người), Đắc Nông (5.271 người), Khánh Hòa (3.396 người). Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Ê Đê”

Dân Ca Dân Nhạc VN – Dân Ca Dao

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Cơ Tu, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Dao.

Người Dao (các tên gọi khác: Mán, Đông, Trại, Dìu Miền, Kim Miền, Lù Gang, Làn Tẻn, Đại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn, Sơn Đầu v.v) là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc ở Việt Nam với số dân là 751.067 người (2009). Ở Việt Nam, người Dao tuy có dân số không đông nhưng các bản làng của họ trải rộng tại các miền rừng núi phía Bắc (Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Tuyên Quang,…) đến một số tỉnh trung du như: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình và miền biển Quảng Ninh (người Dao Thanh Y). Tiếp tục đọc “Dân Ca Dân Nhạc VN – Dân Ca Dao”

Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Cơ Tu

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Cờ Lao, mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Cơ Tu hôm nay.

Người Cơ Tu (còn gọi là người Ca Tu, Gao, Hạ, Phương, Ca-tang) là một dân tộc nói ngôn ngữ thuộc ngữ tộc Môn-Khmer. Dân tộc này có dân số khoảng trên 76 nghìn người.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Cơ Tu ở Việt Nam có dân số 61.588 người, cư trú tại 38 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Cơ Tu cư trú tập trung tại các tỉnh: Quảng Nam (45.715 người, chiếm 74,2% tổng số người Cơ Tu tại Việt Nam), Thừa Thiên-Huế (14.629 người, chiếm 23,8% tổng số người Cơ Tu tại Việt Nam), Đà Nẵng (950 người), Sài Gòn ((54 người). Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Cơ Tu”

Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Cờ Lao

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo “Dân ca K’ho (Cơ Ho)”, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn “Dân ca Cờ Lao”.

Dân tộc Cờ Lao, còn có các tên gọi khác: Ke Lao, Klau (tiếng Trung Hoa: 仡佬族 hay người Ngật Lão) là một dân tộc ít người. Họ là một trong số 54 dân tộc Việt Nam và 56 dân tộc Trung Hoa được công nhận một cách chính thức.

Tổng số người Cờ Lao tại hai quốc gia này khoảng 438.200-594.000 người (theo các nguồn khác nhau). Dân tộc Cờ Lao chủ yếu sinh sống tại khu vực phía tây tỉnh Quý Châu, Trung Hoa. Một số ít sinh sống tại các tỉnh Quảng Tây,Vân Nam, Tứ Xuyên. Tại Việt Nam, có khoảng 1.500 người sinh sống tại các huyện Đồng Văn và Hoàng Su Phì thuộc tỉnh Hà Giang. Tín ngưỡng chính là đa thần, thờ phụng tổ tiên. Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Cờ Lao”

Dân ca dân nhạc VN – Dân ca K’Ho (Cơ Ho)

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Cống, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Dân ca K’Ho (Cơ Ho) của Dân tộc K’Ho (Cơ Ho).

Dân tộc K’Ho, còn có các tên khác như: Cơ Ho, Cờ Ho, Kơ Ho, Srê, Nộp, Cơ Dòn, Chil, Lạt (Lạch), T’ring.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người K’Ho ở Việt Nam có dân số 166.112 người, cư trú tại 46 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người K’Ho cư trú tập trung tại các tỉnh: Lâm Đồng (145.665 người, chiếm 12,3% dân số toàn tỉnh và 87,7% tổng số người K’Ho tại Việt Nam), Bình Thuận (11.233 người), Khánh Hòa (4.778 người), Ninh Thuận (2.860 người), Đồng Nai (792 người), Sài Gòn (247 người). Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca K’Ho (Cơ Ho)”