Một ngày của Nâu

04/06/2023 – 07:51

AG –   Nâu là tên tôi đặt cô ngựa 10 tuổi của ông Chau Da, ở ấp Vĩnh Lập, xã Vĩnh Trung (TX. Tịnh Biên, tỉnh An Giang). Hôm tôi về xứ núi, Nâu đã có một ngày làm việc rất vất vả, trong cái nắng hầm hập hè biên giới, thi thoảng lại chuyển sang lâm râm những giọt mưa đầu mùa…

Sáng sớm, ông Chau Da đưa Nâu ra khỏi nhà, bắt đầu hành trình mưu sinh quen thuộc. Tiếng vó ngựa lộc cộc lạc lõng giữa dòng xe cộ hiện đại. Tuy nhiên, với người dân xã Vĩnh Trung, hình ảnh này đã quen thuộc vô cùng, bởi vì đây là nơi duy nhất trong tỉnh An Giang có tập tục nuôi ngựa kéo xe, phần lớn do đồng bào dân tộc thiểu số Khmer duy trì mấy chục năm nay.

Tiếp tục đọc “Một ngày của Nâu”

Nậm Củm bây giờ có khác xưa?

BDT – Sỹ Hào – 15:30, 19/03/2021

Sau 7 năm, chúng tôi mới có dịp trở lại Nậm Củm, một trong 5 bản có đồng bào dân tộc Mảng sinh sống tập trung của huyện Mường Tè (Lai Châu), nơi đã từng có việc: “nhà khá nhất bản chỉ có cây đu đủ”. Diện mạo Nậm Củm bây giờ đã mang sắc màu nông thôn mới, nhưng đời sống người dân cơ bản vẫn nghèo, nhiều tệ nạn vẫn còn âm ỉ …

>> Bài liên quan: Ở nơi nhà có cây đu đủ được coi là giàu nhất bản

Bản Nậm Củm nép mình bên dòng suối Nậm Sì Lường (Ảnh chụp ngày 1/3/2021)

Tiếp tục đọc “Nậm Củm bây giờ có khác xưa?”

Political Apologies Across Cultures

politicalapologies.com

In the past decades, there has been a considerable rise in the number of apologies offered by states for injustices and human rights violations. But are such gestures a viable reconciliatory tool and do they have a universal potential to redress injustice or restore harmony? Or do people across cultures have different notions about what political apologies mean, what purpose they serve, or how they can or should be expressed?

In this five year project funded by the European Research Council, we bring scholarship on transitional justice together with cross-cultural psychology and anthropology to address these questions and to investigate how political apologies are viewed across cultures. The overall objective is to understand whether political apologies can be a universal reconciliation tool, or whether a tailored approach based on cultural variation is more appropriate.

The Value and Meaning of Political Apologies across Cultures

A central idea behind political apologies is that collectivities such as states can and should take responsibility or express remorse for past wrongdoings, and that this will help restore justice or promote harmony. But are such notions regarding collective moral responsibility and collective guilt shared across cultures? And is there a similar understanding about the function and meaning of political apologies across cultures? The aim of this subproject is to analyze whether key assumptions regarding political apologies hold across cultures, or whether this varies as a function of cross-cultural differences in key values (collectivism and individualism) and norms (face and honor). For this, we rely upon an interdisciplinary and mixed-methods approach using in-depth interviews, vignette studies, and surveys. Data have been collected using community samples (incl. people aged 18 and above from both urban and rural regions with mixed educational backgrounds) across 33 countries.

PRELIMINARY SURVEY

FIELD SURVEY

IN-DEPTH INTERVIEWS

VIGNETTE STUDY

LARGE-SCALE SURVEY

The Expression and Reception of Political Apologies across Cultures

Over the past years, there has been considerable debate about the role of political apologies in reconciliation processes. Although some have heralded such gestures as a meaningful step, others have described them as political rituals that may be appropriate in some (cultural) contexts but not in others, as people may have different notions about what they mean, what purpose they serve, or how they should be expressed. What has been lacking, however, is a systematic analysis of how political apologies are expressed and received across the world. In this subproject, we aim to fill this gap by mapping and comparing the political apologies that have been made across the world, and by analyzing whether there are universals in how they are valued, expressed, and interpreted or whether this varies as a function of cross-cultural differences in key values (collectivism and individualism) and norms (face and honor). For this, we rely on a broad range of methods, varying from content analyses and in-depth interviews to (experimental) surveys. Data have been collected using community samples (incl. people aged 18 and above from both urban and rural regions with mixed educational backgrounds) across 32 countries. The Political Apologies Database is available on this website under the Database page. 


THE POLITICAL APOLOGIES DATABASE

CASE STUDIES: EL SALVADOR, REPUBLIC OF KOREA, AND THE UNITED KINGDOM

LARGE-SCALE MULTI-COUNTRY EXPERIMENTAL SURVEY

The Expression and Reception

Em vui – Một cách tiếp cận truyền thông mới

Tia sáng – 18/6/2023 – BẢO NHƯ

Ở trường tôi có em Cháng T.G 14 tuổi là một học sinh năng động, học tập tốt, ngoan và được các bạn trong trường bầu làm liên đội trưởng.

12 tập phim hoạt hình “Hành trình của Mỷ” được đông đảo các em chờ đón theo dõi.

“Ở trường tôi có em Cháng T.G 14 tuổi là một học sinh năng động, học tập tốt, ngoan và được các bạn trong trường bầu làm liên đội trưởng. Vậy mà chỉ sau dịp nghỉ tết Nguyên Đán, em G đã bỏ học để lấy chồng, một thanh niên cùng xóm. Nhà trường đã báo cáo chính quyền xã can thiệp nhưng em nhất quyết không đi học nữa để ở nhà lấy chồng. Một buổi chiều đầu năm, chúng tôi đến vận động em G đi học. Trước mái nhà em nhỏ bé, sân vườn ướt không có nổi một chỗ khô ráo để bước chân vào… Tôi hỏi ‘sao em không đi học’, em đáp ‘em cũng muốn học nhưng gia đình em bắt em lấy chồng’ vì con gái học nhiều làm gì, vì học thì cũng ăn ngô, không học cũng ăn ngô’”…

 “Lấy chồng từ thuở mười ba”, câu chuyện của giáo viên trong một xã của huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang kể lại cho chúng ta thấy, kết hôn trẻ em là một thực tế phổ biến ở nhiều tỉnh miền núi trong cả nước. Thậm chí, tỉ lệ tảo hôn ở một số tộc người như người H’mông, Cơ Lao, Mảng… vẫn lên tới 50%, các em đều rời bỏ ghế nhà trường sau khi kết hôn. 

Tiếp tục đọc “Em vui – Một cách tiếp cận truyền thông mới”

Con đường Facebook

Mai Thanh Hải – Nguyễn Độc Lập

13/11/2022 06:34 GMT+7

TN Bản Máy là xã biên giới thuộc H.Hoàng Su Phì, Hà Giang. Đây là xã nằm trong danh sách đặc biệt khó khăn, do ở địa bàn hẻo lánh, đi lại khó khăn, thời tiết khí hậu khắc nghiệt, kinh tế chủ yếu tự cung tự cấp.

Xã Bản Máy có 4 thôn bản, trong đó cụm Mã Tẻn là khó khăn nhất. Từ trung tâm xã, chỉ có cách đi xe máy (thời tiết nắng ráo) hoặc đi bộ (trời mưa, mùa đông mây mù), với quãng đường gần 7 km mới tới trung tâm của thôn là điểm trường mầm non Mã Tẻn (thuộc Trường mầm non Bản Máy), nằm cách đường biên khoảng 300 m theo đường chim bay. Từ vị trí này có thể nhìn rõ người, xe bên Trung Quốc.

Mã Tẻn nằm trên vùng núi cao, mây mù bao phủ nhiều tháng trong năm – NGUYỄN ĐỘC LẬP

Tiếp tục đọc “Con đường Facebook”

Cột mốc chủ quyền đặc biệt: Lai Châu – Cuối trời Tây Bắc (4 bài)

Cột mốc chủ quyền đặc biệt:

Lai Châu – Cuối trời Tây Bắc: Nóc nhà biên cương

Mai Thanh Hải – 06/02/2023 08:25 GMT+7

TN – Gần 80 năm sau ngày lập nước, Lai Châu vẫn là tỉnh khó khăn, đi lại xa xôi vất vả và có mật độ dân số thấp nhất toàn quốc. Trong 7 tỉnh biên giới phía bắc, Lai Châu có chiều dài đường biên thứ 3, nhưng sự khó khăn trong quản lý, bảo vệ biên giới thì vẫn… đứng đầu cả nước.

Qua một đêm, tôi tới TP.Lai Châu (tỉnh Lai Châu), thêm nửa ngày nữa mới tới huyện lỵ Mường Tè và lên Đồn biên phòng Pa Vệ Sử (đóng ở xã Pa Vệ Sử, H.Mường Tè, Lai Châu), nghỉ qua đêm để sáng hôm sau lên mốc 42 – nóc nhà biên cương, đi lại khó khăn vất vả nhất toàn quốc.

Mốc “3 ngày 2 đêm”

Đại tá Nguyễn Văn Hưng, Chính ủy Bộ đội biên phòng (BĐBP) Lai Châu, bảo: Ở Lai Châu, có 2 cột mốc cao nhất nhì VN là mốc 79 và 42. Mốc 79 tuy cao nhất (2.880,69 m) nhưng đi lại vẫn dễ hơn so với mốc 42 (2.856,5 m); bộ đội đi tuần tra, thường là đi bộ 3 ngày 2 đêm…

Cán bộ, chiến sĩ BĐBP Đồn Pa Vệ Sử tặng lương thực, thực phẩm cho gia đình ông Vàng Và Sừ (người La Hủ) dọc đường lên mốc 42 Tiếp tục đọc “Cột mốc chủ quyền đặc biệt: Lai Châu – Cuối trời Tây Bắc (4 bài)”

Toilet Gods and Demons in Japan

toilet-guru.com

In Japanese folklore there are both toilet gods and toilet demons. The toilet gods are household deities, the toilet demons are water demons. Let’s look at the gods first, then the demons.

Toilet Gods

There is only very limited livestock on Japan farms. Human waste has traditionally been collected in cesspits and used as fertilizer. This meant that there was a risk of falling into a cesspit and possibly drowning. Protection was needed against this dreadful fate. Also, since the collected waste was used for fertilizer, the toilet was connected with fertility in general.

The kawaya no-kami or toilet god was asked for help. Special rituals at the new year asked for the kawaya no-kami to bring a good harvest. Keeping the toilet clean was thought to lead to more attractive children.

The specific name and rituals associated with the toilet god vary with location. The name is Takagamisama around Nagano, Setchinsan in Hiroshima, Kamu-taka on Ishigaki Island, Sechinbisan in Ōita, and Usshimasama in Ehime. In some places the family sit in front of the toilet on a straw mat and eat a rice cake, in other places they would put an offering of food into the toilet.

In far northern Japan the Ainu people believed that their toilet god, the Rukar Kamuy, would be the first deity to provide help in times of danger. The Rukar Kamuy is one of many Kamuy or household gods. There is Apasamn Kamuy the husband and wife god and goddess who keep evil spirits out of the house entrance. Cisepannokianpa Kamuy and Cisepennokianpa Kamuy, the husband and wife god and goddess of the eaves of the roof, protect the house from earthquakes and typhoons. Cisekor Kamuy, a male god, sits in the east corner of the house and watches over everything. He is the husband of Apehuci Kamuy, the goddess of fire. Colpep Kamuy is the god of containers, thanks are given to this god when containers are retired.

Tiếp tục đọc “Toilet Gods and Demons in Japan”

Ý kiến của một người làm điện ảnh về việc phục dựng hệ thống thủy văn ‘Thành Cổ Loa’

 

TS. toán học Nguyễn Ngọc Chu vừa có bài viết rất đáng chú ý: KHÔNG NÊN PHỤC DỰNG TOÀN BỘ HỆ THỐNG THUỶ VĂN ‘THÀNH CỔ LOA’ (https://www.facebook.com/chu.nguyenngoc/posts/2981018015364942), ông cho biết: “Nghe tin UBND TP. Hà Nội chủ trương lập dự án “Bảo tồn phục dựng hào, hệ thống thủy văn tại Khu di tích Cổ Loa” với chi phí 1.480 tỉ đồng mà lo sợ; và ông quả quyết : “Không thể tái tạo lại toàn bộ ‘Thành Cổ Loa’ vì không có đủ dữ liệu lịch sử tường minh. Đến nhà nghiên cứu ‘Thành Cổ Loa’ còn chưa phân biệt được rõ ràng: “ Ở hào rất khó phân biệt giai đoạn, nhưng nó có cả di tích cả hiện vật thời An Dương Vương (đá và ngói), có cả di tích thời Hán và sau Hán…” thì làm sao có thể khẳng định di tích được phục dựng đúng? (https://thanhnien.vn/hon-nghin-ti-dung-lai-he-thong-thuy…). Càng không nên phục dựng toàn bộ hệ thống thuỷ văn ‘Thành Cổ Loa’ vì tốn kém và vô nghĩa. Không nói về mặt chưa chính xác về lịch sử, thì việc tái tạo toàn bộ hệ thống thuỷ văn ‘Cổ Loa Thành’ không tạo nên sự kỳ vỹ của một “đại quốc” trong quá khứ, mà có thể có hiệu ứng ngược lại về “chiến luỹ” của một “tiểu cát cứ”. Thành quách, chiến hào, kênh mương bảo vệ ‘Thành Cổ Loa’có thể lớn cho triều đại cách đây vài ngàn năm, nhưng lại bé nhỏ thô sơ trong con mắt người đương đại. Đã là di tích lịch sử thì không thể phóng đại. Nên không thể phóng tác ‘Thành Cổ Loa’ thành pháo đài hùng vĩ như phim trường”.

Tiếp tục đọc “Ý kiến của một người làm điện ảnh về việc phục dựng hệ thống thủy văn ‘Thành Cổ Loa’”

3 ngôi đền thờ vua Hùng ở Sài Gòn

vnexpress.net

Ngoài đền thờ Vua Hùng ở Thảo Cầm Viên là di tích được xếp hạng để bảo tồn, thành phố còn có đền tưởng niệm lớn nhất Nam Bộ.

Đền thờ vua Hùng trong Thảo Cầm Viên

Đền thờ vua Hùng nằm cạnh quầy vé Thảo Cầm Viên (quận 1, TP HCM), do người Pháp xây dựng năm 1926. Công năng ban đầu của công trình là đền tưởng niệm những người Việt tử trận vì đi lính cho Pháp trong Thế chiến thứ nhất.

Sau năm 1954, khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, công trình được đổi tên thành đền Quốc Tổ Hùng Vương. Trong đó, ngoài việc thờ vua Hùng, còn thờ một số nhân vật lịch sử khác như Trần Hưng Ðạo, Tả quân Lê Văn Duyệt. Sau năm 1975, đền được đổi thành đền thờ Hùng Vương và giao cho Bảo tàng lịch sử Việt Nam – TP HCM trực tiếp quản lý.

Ngôi đền có bình đồ hình vuông, mang phong cách kiến trúc thời nhà Nguyễn với bộ mái chồng diêm, tạo thành ba tầng mái cong. Về tổng thể, công trình phảng phất tòa Minh lâu của lăng Minh Mạng ở Huế.

Mỗi tuần, đền mở cửa miễn phí cho khách đến thăm từ thứ 3 đến ngày chủ nhật. Ngày giỗ tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm, ở đây đều tổ chức lễ dâng hương.

Năm 2015, UBND TP HCM xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp thành phố cho công trình này. Ảnh: Quỳnh Trần
Năm 2015, UBND TP HCM xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp thành phố cho công trình này. Ảnh: Quỳnh Trần

Đền tưởng niệm các vua Hùng

Tiếp tục đọc “3 ngôi đền thờ vua Hùng ở Sài Gòn”

Rùa Hoàn Kiếm ở hồ Đồng Mô qua đời

tienphong.vn 24/04/2023 | 09:34

TPO – Cá thể rùa Hoàn Kiếm ở hồ Đồng Mô, một trong 3 cá thể rùa Hoàn Kiếm được ghi nhận chính thức trên thế giới đã qua đời, làm hẹp dần hy vọng khôi phục loài rùa quý hiếm nhất thế giới.

Nguồn tin của Tiền Phong xác nhận, cá thể rùa Hoàn Kiếm ở hồ Đồng Mô đã qua đời. Xác rùa nổi lên trên mặt hồ Đồng Mô hai ngày qua. Nguyên nhân cái chết của cá thể rùa cực kỳ quý hiếm này đang được các cơ quan chức năng làm rõ.

Theo một chuyên gia trong lĩnh vực bảo tồn, cá thể rùa Hoàn Kiếm ở hồ Đồng Mô có thể đã chết nhiều ngày trước khi nổi lên mặt nước, như chuyện từng xảy ra với cụ rùa Hồ Gươm cuối cùng. Cá thể này có chiều dài toàn thân 156cm, chiều dài mai rùa 98cm, chiều rộng mai rùa 76cm, cân nặng 93kg.

Theo nhận định, cá thể rùa Hoàn Kiếm bị chết nhiều khả năng chính là cá thể rùa đã được bẫy bắt thành công vào năm 2020. Khi đó, các nhà bảo tồn đã bẫy bắt thành công một cá thể rùa Hoàn Kiếm có cân nặng 86kg, chiều dài mai 99,5cm, rộng mai 75,5cm.

Tiếp tục đọc “Rùa Hoàn Kiếm ở hồ Đồng Mô qua đời”

An Giang: Đưa nghệ thuật múa Óc Eo vào trường học

Thứ tư, 26/04/2023 00:15 (GMT+7)

(ĐCSVN) – Đưa giáo dục di sản văn hoá tới học sinh, ngay tại khu di tích quốc gia đặc biệt Óc Eo – Ba Thê là một phương pháp rất hiệu quả để tuyên truyền, giáo dục truyền thống lịch sử văn hóa; giúp thế hệ trẻ nâng cao hiểu biết, thêm tự hào về di tích, thêm trân trọng tiền nhân và cùng ra sức giữ gìn các di tích của địa phương.

Điệu múa Óc Eo do diễn viên Trung tâm Văn hoá Nghệ thuật An Giang biểu diễn

Nghệ thuật múa Óc Eo

Theo một nghiên cứu của TS. Nguyễn Khánh Trung Kiên, Phó Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, khoảng 2.000 năm trước, vùng đất An Giang từng là thời kỳ phát triển rực rỡ của văn hóa Óc Eo, với sự xuất hiện của một “đô thị” quan trọng của quốc gia cổ Phù Nam vào đầu Công nguyên.

Nơi đây từng có một thời hoàng kim với những hoạt động kinh tế nông nghiệp và thương mại sôi động, là điểm dừng quan trọng của những tuyến hàng hải đường dài kết nối phương Đông và phương Tây.

Tiếp tục đọc “An Giang: Đưa nghệ thuật múa Óc Eo vào trường học”

Nước mắt của nữ diễn viên điện ảnh nổi tiếng bên một cơ ngơi hoang tàn

 

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Trong dịp Kỷ niệm 70 năm nền Điện ảnh CMVN, bên cơ ngơi hoang tàn của một Hãng phim truyện có thương hiệu từ lâu, khán giả quen thuộc của nền điện ảnh ấy đã được chứng kiến và ngậm ngùi trước những giọt nước mắt của vài diễn viên lớn tuổi – trong đó có nữ NSND nổi danh, người từng được tôn vinh trong vài Festival Film quốc tế hệ thống XHCN (tiêu biểu là LHF Mascơva).

T cận tôi cũng ngậm ngùi như chị. Và trước đó, đã có lần thậm chí muốn chảy máu mắt trước cảnh những vật dụng quý giá đối với người làm nghề phim truyện mà tôi từng phải “thuê chui” để làm phim ngoài Hãng, như mấy bộ quần áo lính Pháp, lính khố đỏ, vài khẩu Muscơtông… bị ném ra sân!

Tiếp tục đọc “Nước mắt của nữ diễn viên điện ảnh nổi tiếng bên một cơ ngơi hoang tàn”

Sự thật về đạo “Bà cô Dợ” – 2 kỳ

Sự thật về đạo “Bà cô Dợ”: Kỳ 1: Những hệ lụy khi mê muội

Báo Sơn La – thứ hai, ngày 19/12/2022 – 11:10

Năm 2017, tại bản Huổi Luông, xã Mường Lèo, huyện Sốp Cộp, xuất hiện một tổ chức tôn giáo lạ mang tên “Bà cô Dợ”. Tổ chức này đã lợi dụng niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào, tuyên truyền, tập hợp lực lượng thành lập “Nhà nước Mông”, gây phức tạp về an ninh, trật tự và tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa, xã hội của một bộ phận quần chúng nhân dân trên địa bàn.

Bản Huổi Luông, xã Mường Lèo.
Tiếp tục đọc “Sự thật về đạo “Bà cô Dợ” – 2 kỳ”