Hiện nay còn 22% hộ gia đình nông thôn chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh, 31 triệu người dân nông thôn chưa được sử dụng nước sạch đạt chuẩn. Điều này không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.
Hiện nay còn 22% hộ gia đình nông thôn chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh
Thông tin trên được đưa ra tại Hội thảo về giải pháp tiếp cận nước sạch và vệ sinh an toàn cho phụ nữ và trẻ em nông thôn do Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phối hợp Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) tổ chức ngày 30/3 tại Hà Nội.
Hàng năm, tại Việt Nam có khoảng 20 nghìn ca tử vong do điều kiện vệ sinh không đảm bảo, 9.000 người tử vong do nguồn nước bị ô nhiễm… Vệ sinh môi trường yếu kém sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Mỗi năm, Việt Nam thiệt hại khoảng gần 800 triệu USD do tình trạng vệ sinh kém gây nên.
Ở trường tôi có em Cháng T.G 14 tuổi là một học sinh năng động, học tập tốt, ngoan và được các bạn trong trường bầu làm liên đội trưởng.
12 tập phim hoạt hình “Hành trình của Mỷ” được đông đảo các em chờ đón theo dõi.
“Ở trường tôi có em Cháng T.G 14 tuổi là một học sinh năng động, học tập tốt, ngoan và được các bạn trong trường bầu làm liên đội trưởng. Vậy mà chỉ sau dịp nghỉ tết Nguyên Đán, em G đã bỏ học để lấy chồng, một thanh niên cùng xóm. Nhà trường đã báo cáo chính quyền xã can thiệp nhưng em nhất quyết không đi học nữa để ở nhà lấy chồng. Một buổi chiều đầu năm, chúng tôi đến vận động em G đi học. Trước mái nhà em nhỏ bé, sân vườn ướt không có nổi một chỗ khô ráo để bước chân vào… Tôi hỏi ‘sao em không đi học’, em đáp ‘em cũng muốn học nhưng gia đình em bắt em lấy chồng’ vì con gái học nhiều làm gì, vì học thì cũng ăn ngô, không học cũng ăn ngô’”…
“Lấy chồng từ thuở mười ba”, câu chuyện của giáo viên trong một xã của huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang kể lại cho chúng ta thấy, kết hôn trẻ em là một thực tế phổ biến ở nhiều tỉnh miền núi trong cả nước. Thậm chí, tỉ lệ tảo hôn ở một số tộc người như người H’mông, Cơ Lao, Mảng… vẫn lên tới 50%, các em đều rời bỏ ghế nhà trường sau khi kết hôn.
1,3 tỷ đồng là số tiền mà người dân làng Hưng Giáo, xã Tam Hưng (huyện Thanh Oai, Hà Nội) đã ủng hộ để biến ao nước tù, chứa nhiều loại rác thải trong làng thành bể bơi miễn phí rộng 1.100 m2.
Báo cáo tóm tắt: Tại đây: Sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh niên tại một số tỉnh và thành phố ở Việt Nam
Các thông điệp chính
Mặc dù tỷ lệ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần được báo cáo trong các nghiên cứu tài liệu có sẵn là tương đối thấp, quan điểm chung cho rằng vấn đề sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội đều đang gia tăng ở Việt Nam, đặc biệt trong trẻ em và thanh thiếu niên.
Kỳ vọng và áp lực lớn từ gia đình và nhà trường về việc học tập tốt, về các chuẩn mực xã hội (bao gồm cả kết hôn sớm) thường đặt các em gái vào vị thế bất lợi so với các em trai, và sự tăng tiếp xúc với Internet là những yếu tố nguy cơ tiềm tàng đối với sức khỏe tâm lý xã hội, dẫn đến tình trạng cô lập xã hội, lo lắng, buồn phiền, lo âu, trầm cảm, cảm giác tuyệt vọng và trong một số trường hợp là tự tử.
Các yếu tố bảo vệ bao gồm môi trường gia đình gắn kết, mạng lưới xã hội và bạn bè tốt, giáo viên hỗ trợ và có tấm gương để noi theo; gia đình có nền tảng kinh tế – xã hội tốt cũng như sự sẵn có của các dịch vụ cũng giúp giảm nhẹ các gánh nặng lên trẻ em, từ đó giúp giải tỏa những căng thẳng tiềm ẩn.
Trong khi các dịch vụ sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội mới được cung ứng thông qua các trung tâm bảo trợ và công tác xã hội, các bệnh viện tâm thần và các phòng ham vấn tâm lý học đường, chất lượng và độ bao phủ của các dịch vụ này còn giới hạn và thường tập trung vào những rối loạn tâm thần nặng.
Trong tương lai, điều then chốt là đẩy mạnh và nâng cao số lượng và chất lượng nguồn nhân lực cũng như số lượng và loại hình dịch vụ, đặc biệt là những dịch vụ hướng đến các vấn đề sức khỏe tâm thần không phải thể nặng.
Nâng cao nhận thức của tất cả các cấp về sức khỏe tâm lý xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên cũng là một việc làm cần thiết, và tất cả những điều này không thể được thực hiện nếu không có khung chính sách, phân bổ ngân sách hợp lý và sự hợp tác giữa các ban ngành khác nhau
Thousands of visually impaired students have been able to improve their English skills thanks to the dedication of staff at a free language centre in Hà Nội. Founded in 2011, Vietnam and Friends offers free classes to help students gain more confidence.
Sau ca mổ thành công tách cặp song sinh dính nhau ở Bệnh viện Nhi đồng TPHCM ngày 15/7, một số người hỏi tôi rằng, liệu đã đến lúc cần thiết phải đẩy mạnh sàng lọc dị tật thai nhi trước sinh, để ngăn chặn sự ra đời của những “đứa trẻ khuyết tật”?
Phá thai nhi dị tật là một vấn đề phân cực trong nhiều xã hội. Ảnh: The New York Times
Phá thai nhi dị tật là một vấn đề phân cực. Những người ủng hộ cho rằng, “đứa trẻ khiếm khuyết” không chỉ rắc rối vì dị tật bẩm sinh trong suốt cuộc đời, mà còn để lại gánh nặng kinh tế cũng như tinh thần vô cùng nặng nề cho cả gia đình và xã hội. Ngược lại, những người chống phá thai cho rằng, việc từ chối sinh con tàn tật là một hành vi vô nhân đạo, bởi trong trường hợp đó, người phụ nữ mang thai đã phân loại đứa con của mình theo thang đo của sự hoàn hảo và quyết định đứa trẻ nào không có quyền được sống.
Bản thân tôi khi siêu âm dị tật thai nhi, đặc biệt với những dị tật nghiêm trọng, sẽ luôn nhận được câu hỏi theo lẽ tự nhiên, rằng có nên giữ thai để sinh ra một “đứa trẻ khiếm khuyết” hay phá bỏ? Với tôi đó là những tình huống khó xử về đạo đức!
HÀ NỘI – Sắp phải đi làm sau 6 tháng nghỉ thai sản, Nhung, 31 tuổi, tìm chỗ gửi con, nhưng với đồng lương phụ bếp eo hẹp, gửi tư không thể, trường công không nhận.
Giữa những cánh cửa im lìm trong một dãy trọ cấp bốn ở thôn Nhuế, Kim Chung, huyện Đông Anh, Hà Nội trưa 8/3, duy nhất cửa phòng của Vũ Thị Nhung mở, nơi cô đang cho con ăn bột. Bé Bơ, hơn 5 tháng tuổi, ăn loáng hết đĩa bột. Nết ăn, nết ngủ của con khiến Nhung bớt phần nào nỗi lo đi gửi trẻ những ngày sắp tới. Nhưng người mẹ quê Ba Vì, Hà Nội còn nhiều trăn trở khác.
Nhung là phụ bếp trong khu công nghiệp, lương 4,2 triệu đồng một tháng. Chồng cô là đầu bếp chính, tổng lương cả hai vợ chồng được hơn chục triệu. “Đi gửi trường tư có mà hết lương nhỉ?”, Nhung nhắc không dưới ba lần trong cuộc nói chuyện với phóng viên.
Nhung, 31 tuổi đang tập cho con gái 5 tháng tuổi ăn dặm, ti sữa ngoài để sắp tới đi làm, trong căn phòng trọ ở thôn Nhuế, Đông Anh, hôm 8/3. Ảnh: Phan Dương
October 19, 2022—Recently, nutrition research has been linking both hunger and obesity to the same problem—diets high in sugar and refined starch. Experts from Harvard T.H. Chan School of Public Health commented in an October 5, 2022, Washington Post article about the growing consensus that the kind of food people eat is more important for healthy weight than the number of calories consumed.
“That puzzled me for many years—how could it be that people who were hungry or didn’t seem to have enough money to buy enough food could be more overweight or obese than people who had lots of resources,” said Walter Willett, professor of epidemiology and nutrition. “There are multiple lines that connect poverty, food insecurity, and obesity,” he said. “One of the most important connections is just simply poor food quality.”
A recent study led by David Ludwig, professor in the Department of Nutrition, and co-authored by Willett, explained a mechanism linking hunger and obesity: insulin. Foods like fries and sugary cereals cause insulin to spike, which causes people to feel hungrier and gain weight. The process is similar to the way that hormonal signals spur pregnant women and growing teenagers to eat more, Ludwig said. This phenomenon suggests that conventional wisdom around addressing weight issues should be upended, according to the authors.
“How long do you stick with a paradigm that’s based ultimately on eat less and move more, in one form or another, when it’s not working?” Ludwig said.
Parents and pregnant women globally are exposed to aggressive marketing for baby formula milk, according to a report launched jointly by two UN agencies on Tuesday.
How marketing of formula milk influences our decisions on infant feeding, the first report in a series by the World Health Organization (WHO) and the UN Children’s Fund (UNICEF), draws on interviews with parents, pregnant women, and health workers in eight countries.
More than half of those surveyed acknowledged that they had been targeted by formula milk companies.
Invasive marketing
UNICEF and WHO maintain that the $55 billion formula milk industry uses systematic and unethical marketing strategies to influence parents’ infant feeding decisions and exploitative practices that compromise child nutrition and violate international commitments.
“This report shows very clearly that formula milk marketing remains unacceptably pervasive, misleading and aggressive,” said WHO Director-General Tedros Adhanom Ghebreyesus, calling for regulations on exploitative marketing to be “urgently adopted and enforced to protect children’s health.”
The report found not only that industry marketing techniques include unregulated and invasive online targeting, but also sponsored advice networks and helplines; offered promotions and free gifts; and influenced health workers’ training and recommendations.
Barriers to breastfeeding
The report underlines that the industry often delivers misleading and scientifically unsubstantiated information to parents and health workers and also violates the International Code of Marketing of Breast-milk Substitutes – a landmark public health agreement to protect mothers from aggressive marketing by the baby food industry.
Having surveyed 8,500 parents and pregnant women, and 300 health workers globally, the report found that exposure to formula milk marketing reached 84 per cent of all women surveyed in the United Kingdom; 92 per cent in Viet Nam and 97 per cent in China – increasing their likelihood of choosing formula feeding.
“False and misleading messages about formula feeding are a substantial barrier to breastfeeding, which we know is best for babies and mothers,” said UNICEF Executive Director Catherine Russell.
the major drivers of food insecurity and malnutrition: conflict, climate extremes and economic shocks, combined with growing inequalities…..
despite progress in some regions, global trends in child undernutrition – including stunting and wasting, deficiencies in essential micronutrients, and overweight and obesity in children, continue to be of great concern.
The 2022 edition of The State of Food Security and Nutrition in the World (SOFI) highlights the intensification of the major drivers of food insecurity and malnutrition: conflict, climate extremes and economic shocks, combined with growing inequalities.
Digital technology has caused the biggest changes to teenage life in many decades. Typical American teenagers spend about half of their waking hours on their smartphones. They are on the phones when they are alone at home and when they are hanging out with friends.
Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của trẻ em là một chủ đề gây nhiều tranh cãi trên thế giới. Ở Việt Nam, vấn đề này đang được tranh luận trong quá trình sửa đổi bổ sung Bộ Luật Hình sự. Một số người tranh luận rằng phương thức tiếp cận “cứng rắn với tội phạm” là cần thiết để trừng phạt trẻ em nhằm phòng ngừa tình trạng phạm tội tiếp diễn.
Tuy nhiên, nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng do trẻ em còn đang trong giai đoạn phát triển, việc gán cho trẻ em và đối xử với trẻ em như những tội phạm ở độ tuổi nhỏ có thể tác động tiêu cực nghiêm trọng đến sự phát triển và khả năng cải tạo, phục hồi thành công của trẻ.
Đề xuất giảm độ tuổi tối thiểu chịu trách nhiệm hình sự không phù hợp với bằng chứng cho thấy não bộ của trẻ em còn chưa phát triển đầy đủ về cấu trúc và chức năng, có tác động đến khả năng ra quyết định và gia tăng xu hướng trẻ em có những hành vi liều lĩnh ở tuổi chưa thành niên. Khoa học cũng chỉ ra rằng trẻ em sẽ có khả năng “từ bỏ” được những hành vi này.
Nếu trẻ em có thể bị ảnh hưởng tiêu cực bởi những nhóm có ý đồ xấu dẫn đến vi phạm pháp luật, thì cũng có nghĩa là trẻ em có khả năng rất lớn ảnh hưởng tích cực để làm những việc tốt nếu trẻ em được đưa vào chương trình phục hồi, giáo dưỡng phù hợp thay vì bị trừng phạt một cách khắc nghiệt.
Theo thống kê của UNICEF, dù vẫn còn nhiều trẻ em đang chịu những sự thiếu thốn nhất định, nhưng Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu to lớn, đa phần trẻ em Việt Nam hiện được hưởng cuộc sống chất lượng hơn thế hệ đi trước.
Báo cáo “Trẻ em Việt Nam” của UNICEF Việt Nam cập nhật số liệu đến cuối tháng 4/2022 cho thấy, chỉ trong một thời gian khá ngắn, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ to lớn về chăm sóc cho 26 triệu trẻ em và người vị thành niên.
Thành tựu kinh tế và phát triển con người tăng lên nhanh chóng chỉ trong hơn 2 thập kỷ cũng được phản ánh trong các chỉ số phúc lợi dành cho trẻ em. Hầu hết trẻ em được đi học tiểu học và trung học cơ sở, được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe đầy đủ và có thể sống thọ hơn cha mẹ mình.
Ly-Et was enrolled in a school accommodating deaf children. The headmaster remembers her arrival.
STORY HIGHLIGHTS
The Quality Improvement of Primary Education for Deaf Children Project developed new sign language gestures and trained deaf teachers, mentors, and caregivers.
Expanded sign language facilitated the integration of deaf children in Vietnam into the mainstream and special education.
The success of the project makes it suitable for expansion around the country and to older students.
Lo Mu Du Ly-Et was born in 2010 to deaf parents belonging to the Cil (K’ho) ethnic group in the central highland province of Lam Dong in Vietnam. Ly-Et’s parents’ deafness was considered a burden to their families, but they overcame that stigma, raised a family together, and wanted their child to have opportunities that had been unavailable to them.
Born deaf, growing up with linguistic barriers, and as a result, a sense of isolation and loneliness, Nguyen Thi Ngoc Anh didn’t give up. Instead she rose to the challenge and became a primary education teacher – and a fighter for a future without language barriers where deaf children can develop equally to those who can hear.