Phụ nữ di cư trong nước – Hành trình gian nan tìm kiếm cơ hội

AAV – Nghiên cứu tổng quát của Tổ chức AAV về những thực tế khắc nghiệt mà các lao động nữ di cư phải đối mặt ở Việt Nam.

 [Trích]

… Tóm Tắt

Di cư trong nước đã trở thành một vấn đề phát triển, có ý nghĩa kinh tế-xã hội quan trọng đối với cả nông thôn và thành thị trong những năm gần đây ở việt Nam. Nghiên cứu này tập trung vào phân tích các lý do thúc đẩy và thu hút lao động nữ di cư, và tính dễ bị tổn thương của họ và khả năng tiếp cận các quyền cơ bản tại nơi đến. Kết quả nghiên cứu chính được xây dựng dựa trên một cuộc khảo sát quy mô nhỏ với phụ nữ lao động di cư và một số cơ quan chính quyền/đoàn thể tại TP uông bí (Quảng Ninh), quận Dương Kinh (Hải Phòng), và quận Gò vấp (TP HCM). Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận giới và cách tiếp cận dựa trên quyền là phương pháp tiếp cận để phân tích. Nghiên cứu đưa ra một số kết quả chính sau đây. Tiếp tục đọc “Phụ nữ di cư trong nước – Hành trình gian nan tìm kiếm cơ hội”

Opening borders and barriers

Nature 527, S80–S82 (12 November 2015) doi:10.1038/527S80a
Published online
11 November 2015

Collaboration may result in higher impact science, but are government initiatives the best way to promote such international and interdisciplinary connections?

Kavli Institute

Tea time at Kavli Institute allows for an organized and informal exchange of collaborative ideas.

Nature – An American physicist, a Japanese mathematician and a German cosmologist walk into a lab; what do you get? Based on recent outcomes, you’ll get ground-breaking science. And lately, governments have begun paying heed to evidence1 that suggests international, multidisciplinary collaborations such as these will yield high-impact results.

Policymakers from diverse countries, including China, Japan, Australia, Chile and Germany, have sought to foster excellent science and technological innovation — and reap the associated economic benefits — by promoting collaboration across borders and disciplines, and setting up specialist centres with the necessary resources (see ‘Conduits to collaboration’).

Study Looks at Renewable Energy in Germany and Texas

Dec 29, 2015

renewablenergyworld – A report published by Stanford’s Steyer-Taylor Center for Energy Policy and Finance looks at three of the world’s largest economies and largest energy jurisdictions in an attempt to compare their approaches to ramping up renewable energy.  Included in the report is a comparison of electricity rates in Germany to those in Texas and California as well a discussion of how renewables contribute to overall costs.

The report compares Germany, the world’s fourth largest economy and an aggressive adopter of renewable energy, with the states of California and Texas.  California and Texas are the world’s 8th and 12th largest economies respectively, and are both leaders in the U.S. with respect to wind and solar deployment. Tiếp tục đọc “Study Looks at Renewable Energy in Germany and Texas”

Despite $28 Billion Drop in Global Private Infrastructure Investment in Energy, Transport, and Water, Strong Showing of Renewable Energy Projects

Worldbank.org – WASHINGTON, December 15, 2015—Despite a sharp decline in private investment in energy, transport, and water infrastructure in developing countries in the first six months of 2015, investment in renewable energy projects, mainly solar, rose to nearly half of the total investment — the highest level ever as a share of total investment, according to an update released today by the World Bank Group’s Private Participation in Infrastructure Database.

Total private infrastructure investments for the energy, transport, and water sectors  in 139 emerging economies dropped by more than half, from $53 billion in first six months of 2014 to $25 billion in the first six months of 2015, mainly due to a decline in the number of projects in Brazil, China, and India. Investments in other countries remained steady.
Tiếp tục đọc “Despite $28 Billion Drop in Global Private Infrastructure Investment in Energy, Transport, and Water, Strong Showing of Renewable Energy Projects”

What Africa can learn from Asian supply chains

Published on Tuesday, 15 December 2015

A woman sells coffee beans in Viet Nam.
A woman sells coffee beans in Viet Nam.

blogs.ADB.org – At this week’s 10th World Trade Organization (WTO) Ministerial Conference in Nairobi, Kenya, trade ministers are trying to advance 15 years of Doha Development Agenda talks to reduce trade barriers. The real issue, however, is whether African economies can follow East Asia’s success in global supply chains amid “new normal” growth and rising inequality.

Global supply chains refer to the geographical location of stages of production (design, production, marketing, and service activities) in a cost-effective manner and linked by trade in intermediate inputs and final goods. For instance, the Toyota Prius—a hybrid electric mid-size hatchback car—for the US market was designed in Japan and is presently assembled there, but some parts and components are made in Southeast Asia and the People’s Republic of China (PRC).
Tiếp tục đọc “What Africa can learn from Asian supply chains”

Việt Nam: Kiểm soát sáp nhập – Điểm lại Chống độc quyền Châu Á Thái Bình Dương 2015

English: The Asia-Pacific Antitrust Review 2015 – Vietnam: Merger Control

Theo Luật Cạnh tranh của Việt Nam (Vietnam’s Competition Law – VCL), tập trung kinh tế bao gồm sáp nhập, hợp nhất và mua lại công ty, và tạo ra các liên doanh. Kể từ khi Luật Cạnh tranh ra đời năm 2005, Cục Quản lý cạnh tranh của Việt Nam (Vietnam Competition Authority – VCA) chưa chính thức từ chối bất kỳ đề nghị nào về tập trung kinh tế được đề xuất. Tuy nhiên, điều này không nhất thiết có nghĩa vấn đề này của luật cạnh tranh được bỏ qua ở Việt Nam.

Theo báo cáo của VCA, từ năm 2011, Cục Quản lý cạnh trạnh tiếp nhận và xử lý trung bình ba đến bốn hồ sơ thông báo về tập trung kinh tế mỗi năm. Ngoài ra, VCA đang giám sát chặt chẽ hoạt động mua bán và sáp nhập ở trên thị trường bằng cách hợp tác với các cơ quan cấp phép và quản lý việc thay đổi cấu trúc của doanh nghiệp để đảm bảo tất cả các hoạt động tập trung kinh tế được kiểm soát một cách đúng đắn bởi cơ quan quản lý cạnh tranh. Đáng chú ý, ngày 22/12/2014, Thủ tướng đã ban hành Quyết định 2327/QĐ-TTg (Quyết định 2327), cho hưởng miễn trừ để sáp nhập giữa hai liên minh thẻ duy nhất, dẫn đến độc quyền trong thị trường liên quan. Điều đáng chú ý đây là trường hợp miễn trừ đầu tiên được Thủ tướng cho phép sau 10 năm thi hành Luật Cạnh tranh.

Trong phần này, chúng tôi sẽ xem xét lại cách thức kiểm soát sáp nhập theo Luật Cạnh tranh, tập trung cụ thể vào việc áp dụng quy định miễn trừ. Chúng tôi sẽ bình luận về chính sách kiểm soát   sáp nhập ở Việt Nam thông qua tình huống sáp nhập của Liên minh Thẻ, và đề xuất một số giải pháp ít được biết đến mà các nhà đầu tư có thể cân nhắc trong các giai đoạn đầu để đạt được các thỏa thuận.

Tổng quan về cơ chế tập trung kinh tế Tiếp tục đọc “Việt Nam: Kiểm soát sáp nhập – Điểm lại Chống độc quyền Châu Á Thái Bình Dương 2015”

Đường vô xứ ngàn hoa nát như tương

04/10/2015 09:11 GMT+7

TTTừ Bình Thuận, Đắk Lắk, Đắk Nông, Khánh Hòa… gần như mọi ngả đường đến Lâm Đồng đều nát như tương.

Đường vào Đà Lạt tan nát gây ảnh hưởng đến cuộc sống người dân. Trong ảnh: một vụ tai nạn do đường đầy ổ voi - Ảnh: L.Thiên
Đường vào Đà Lạt tan nát gây ảnh hưởng đến cuộc sống người dân. Trong ảnh: một vụ tai nạn do đường đầy ổ voi – Ảnh: L.Thiên

Mặt đường chằng chịt ổ gà, ổ voi. Oái oăm thay, cũng tuyến đường đó nhưng bên kia tỉnh bạn, đường đẹp như… mơ.

Tình trạng trên xảy ra ở những tuyến quốc lộ 28B, 55 (Lâm Đồng đi Bình Thuận), 27 (Lâm Đồng đi Đắk Lắk), 28 (Lâm Đồng đi Đắk Nông), tỉnh lộ 723 (Lâm Đồng đi Khánh Hòa)…

Nhiều năm qua, quốc lộ 55 từ huyện Bảo Lâm (tỉnh Lâm Đồng) về huyện Hàm Thuận Bắc (tỉnh Bình Thuận) trở thành nỗi khiếp sợ của nhiều người dân. Gần 20km mặt đường hầu như biến dạng. Tiếp tục đọc “Đường vô xứ ngàn hoa nát như tương”

Lạ lùng khu chợ hàng rào…

22/11/2015 08:52 GMT+7

TTMột khu chợ có một không hai ở Sài Gòn, mọi hoạt động mua bán, trao đổi đều thông qua các song sắt nhỏ của một hàng rào cao hơn 2m.

Buôn bán luôn tay, cánh mày râu cũng buôn bán giỏi không kém chị em phụ nữ
Buôn bán luôn tay, cánh mày râu cũng buôn bán giỏi không kém chị em phụ nữ

Người dân ở đây đã gọi nó với cái tên thân mật là “chợ hàng rào”.

Chợ hàng rào được hình thành tại Khu công nghiệp Pou Yuen trên đường số 7, P.Tân Tạo, Q.Bình Tân. Với chiều dài đường bờ rào kéo dài hơn 1km, mọi hoạt động mua bán, trao đổi ở đây luôn nhộn nhịp, đặc biệt là vào lúc chiều muộn.

Khách hàng của khu chợ đặc biệt này chủ yếu là công nhân của khu công nghiệp, cứ mỗi giờ tan ca họ lại tập trung dọc hàng rào để mua đồ ăn và những vật dụng cần thiết. Tiếp tục đọc “Lạ lùng khu chợ hàng rào…”

Không thể “câu giờ” hơn nữa với các DNNN

Phan Minh Ngọc – Thứ Năm,  3/12/2015, 08:25 (GMT+7)


Tổng nợ phải trả của 781 doanh nghiệp Nhà nước nắm 100% vốn điều lệ trong năm 2014 đã lên tới 1.740.375 tỉ đồng, tăng 12,2% so với năm 2013, tương đương 44,2% GDP tính bằng tiền đồng theo giá hiện hành của Việt Nam năm 2014. Ảnh: T.L

(TBKTSG) – Trong “Báo cáo tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2014 của các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp của Nhà nước” do Chính phủ báo cáo Quốc hội, có những con số “khổng lồ” về quy mô nợ phải thu và nợ phải trả.

Cụ thể, nợ phải trả của 119 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là các tập đoàn, tổng công ty và công ty mẹ lên tới 1.567.063 tỉ đồng tính đến năm 2014 (tăng 8% so với năm 2013). Ngoài ra, 662 DNNN là các công ty TNHH một thành viên độc lập với tổng nợ phải trả là 173.312 tỉ đồng (tăng 74% so với năm 2013). Như vậy, tổng nợ phải trả của 781 doanh nghiệp Nhà nước nắm 100% vốn điều lệ này đã lên tới 1.740.375 tỉ đồng, tăng 12,2% so với năm 2013. Tiếp tục đọc “Không thể “câu giờ” hơn nữa với các DNNN”

Khóc thét giữa phố vì phải nhịn… “xả”

12/12/2015 06:30 GMT+7

TTO – “ Con gái tôi khóc thét khi tôi tìm mãi không thấy nhà vệ sinh công cộng” – chị Đoàn Thu Hoài bức xúc. Còn nhiều bạn đọc khác thú nhận đôi khi mình phải xả bậy… vô tường.

Nhà vệ sinh trong công viên Hoàng Văn Thụ - Ảnh: Tài Phong
Nhà vệ sinh trong công viên Hoàng Văn Thụ – Ảnh: Tài Phong

Vòng quanh nhiều tuyến đường trong thành phố, đỏ mắt chúng tôi mới tìm thấy một nhà vệ sinh công cộng. Tuy nhiên cái mọi người thường thấy là chữ ” cấm đái”, “cấm đái bậy”, “cấm tiểu bậy”… trên tường rào nhiều căn nhà, trường học, cơ quan, cột điện gần nhà dân.

Trên địa bàn TP.HCM có 208 nhà vệ sinh công cộng (NVSCC), theo số liệu của Sở Giao thông vận tải TP.HCM. Thấy gì qua con số 208 nhà vệ sinh công cộng trên 8 triệu dân? Tiếp tục đọc “Khóc thét giữa phố vì phải nhịn… “xả””

Sơn La còn 313 bản vùng cao chưa có điện lưới quốc gia

ĐIÊU CHÍNH TỚI (TTXVN/VIETNAM+) LÚC : 07/12/15 14:47

(Ảnh minh họa: Ngọc Hà/TTXVN)

 
Theo thống kê của Công ty Điện lực Sơn La, hiện còn 313 bản, với tổng số gần 36.400 hộ đồng bào dân tộc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa của tỉnh Sơn La chưa có điện lưới quốc gia.

Ủy ban Nhân dân tỉnh Sơn La đã chỉ đạo các ngành chức năng, các huyện phối hợp với ngành điện rà soát lại hệ thống lưới điện, các bản và số hộ chưa có điện trên địa bàn toàn tỉnh. Tiếp tục đọc “Sơn La còn 313 bản vùng cao chưa có điện lưới quốc gia”

Thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực cho tăng trưởng bền vững tại Việt Nam

24 Tháng 11 Năm 2014

Image

Bấm vào đây để xem đồ họa thông tin về đánh giá của WB và OECD về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.

 WB – Hà Nội, ngày 24/11/2014 – Việt Nam cần lựa chọn con đường nâng cao năng suất lao động dựa trên sáng tạo nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, một báo cáo nghiên cứu chung giữa Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) được công bố hôm nay nhấn mạnh.

Báo cáo Đánh giá Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo tại Việt Nam nghiên cứu các yếu tố, mối quan hệ và động lực chính thúc đẩy hệ thống đổi mới sáng tạo tại Việt Nam cũng như các cơ hội để Chính phủ có thể hỗ trợ thêm thông qua chính sách. Tiếp tục đọc “Thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực cho tăng trưởng bền vững tại Việt Nam”

Cải thiện vệ sinh môi trường tại các thành phố ven biển ở Việt Nam

27 Tháng 7 Năm 2015
  Image

Sông Cầu Rào ở thành phố Đồng Hới trước và sau khi được cải tạo trong dự án.

 Ngân hàng Thế giới

Tóm tắt

WB – Dự án Vệ sinh môi trường các thành phố ven biển thực hiện thoát nước, xây dựng các công trình thu gom và xử lý nước thải và chất thải rắn, và thực hiện một chương trình nâng cao năng lực toàn diện. Trên 800.000 dân sẽ được hưởng lợi, trong đó 250.000 sẽ được hưởng lợi từ việc giảm nhẹ úng lụt. Trên 800.000 dân được hưởng lợi từ dịch vụ xử lý chất thải rắn, 65.000 học sinh được sử dụng công trình vệ sinh sạch đẹp hơn, và 8.452 hộ gia đình được vay vốn từ quỹ quay vòng phục vụ cải tạo công trình vệ sinh trong gia đình. Tiếp tục đọc “Cải thiện vệ sinh môi trường tại các thành phố ven biển ở Việt Nam”

Các đô thị hiệu quả đóng vai trò then chốt giúp Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thu nhập cao

Axel van Trotsenburg's picture
Also available in: English

Quá trình đô thị hóa nhanh chóng là một điểm nhấn quan trọng trong quá trình phát triển của Việt Nam trong những thập kỷ qua. Năm 1986 dân số đô thị của Việt Nam chỉ là dưới 13 triệu người; hiện nay con số đó đã là 30 triệu. Các thành phố đã trở thành trụ cột phát triển mạnh mẽ, tăng trưởng kinh tế của khu vực đô thị cao gấp hai lần mức bình quân của cả nước, đóng góp trên một nửa tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

Các khu vực đô thị ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng, và điều đó không có gì đáng ngạc nhiên. Một thực tế được thừa nhận trên phạm vi toàn cầu là nếu quản lý tốt, quá trình đô thị hoá sẽ góp phần làm tăng năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế nhờ hiệu ứng tập trung, chẳng hạn như thị trường lao động sẽ có quy mô lớn hơn và hoạt động hiệu quả hơn, chi phí giao dịch thấp hơn và tri thức được lan tỏa dễ dàng hơn. Tuy nhiên, khi quan sát cụ thể hơn, có thể thấy đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay cần những thay đổi lớn về tư duy để đảm bảo rằng quá trình này sẽ đóng góp toàn diện vào mục tiêu trở thành nước thu nhập cao. Tiếp tục đọc “Các đô thị hiệu quả đóng vai trò then chốt giúp Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thu nhập cao”

Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản: Động lực cho tăng trưởng thương mại – 2 kỳ

Kỳ I: Cánh cửa mới cho hàng Việt

07:06 | 26/07/2015

BCTHiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) là hiệp định thương mại tự do song phương đầu tiên kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO. Với các nội dung toàn diện về tự do hóa thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư…, VJEPA mở ra những cánh cửa mới cho hàng hóa Việt Nam vào thị trường Nhật Bản.

Hàng thủy sản Việt có nhiều cơ hội vào thủy sản Nhật nhờ VJEPA

VJEPA mở cửa cho hàng Việt

Tại cuộc tọa đàm “Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện VJEPA giai đoạn 2015- 2019 và cơ hội cho doanh nghiệp”, ông Hà Duy Tùng- Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tài chính- cho biết, VJEPA (có hiệu lực từ ngày 1/10/2009) đã, đang và sẽ tạo động lực thúc đẩy hợp tác kinh tế hai nước. Theo đó, về tổng thể, vào năm cuối của lộ trình giảm thuế (2026), tức là sau 16 năm thực hiện VJEPA, Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan đối với 90,64% số dòng thuế, trong đó xóa bỏ thuế quan ngay tại thời điểm VJEPA có hiệu lực đối với 29,14% số dòng thuế. Tiếp tục đọc “Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản: Động lực cho tăng trưởng thương mại – 2 kỳ”