State President Nguyen Xuan Phuc on April 23 delivered a speech at the virtual Leaders Summit on Climate hosted by the US.VNA Friday, April 23, 2021 21:24
The virtual Leaders Summit on Climate hosted by the US (Photo: VNA)Hanoi (VNA) – State President Nguyen Xuan Phuc on April 23 delivered a speech on the economic opportunities of climate change at the Leaders Summit on Climate which is held virtually on April 22-23, at the invitation of US President Joe Biden.
Following is the full text of the remarks of President Nguyen Xuan Phuc.
President Joe Biden,
Excellencies,
Ladies and gentlemen,
I thank President Biden for inviting me and other leaders to this very important Summit.
I welcome the United States’ return to the Paris Agreement. I believe that the renewed leadership and strong commitment that President Biden espoused during the opening session, combined with our shared efforts, will lead us on the path towards achieving the goals of the Paris Agreement.
Mr. President,
Climate change is undoubtedly a major existential threat to many countries and to our planet. In Vietnam, last year alone, extreme weather has taken hundreds of lives and reversed decades of progress in poverty reduction. The Mekong Delta, our rice bowl and the home to 20 million Vietnamese, is suffering immensely from sea level rise, especially towards the end of this century.
(KTSG) – Điện mặt trời hiện chiếm hơn 4% tổng sản lượng điện cả nước và dự kiến sẽ góp trên 9% tổng sản lượng năm 2021. Với nhiều GW điện mặt trời và điện gió được bổ sung thêm, Việt Nam đang nhanh chóng trở thành nước đi đầu tại Đông Nam Á về năng lượng sạch. Điện mặt trời áp mái phần lớn đến từ doanh nghiệp thương mại và công nghiệp. Ảnh: H.P
Hệ thống năng lượng của Việt Nam đang thay đổi đáng kể trong hai năm qua, nhờ hàng tỉ đô la Mỹ từ nhà đầu tư tư nhân. Tăng từ 20 MW điện mặt trời đầu năm 2019 đến gần 20.000 MW – là một con số chưa từng có.
Tất nhiên, mở rộng quy mô nhanh là cần thiết để Việt Nam đạt được mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu – theo Thỏa thuận Paris, giảm thải 27% lượng khí nhà kính vào năm 2030. Thành tựu về năng lượng sạch của Việt Nam đem đến nhiều lợi ích gồm tăng khả năng cạnh tranh toàn cầu, là điểm đến cho đầu tư nước ngoài. Nhiều chuyên gia tin rằng các hành động bảo vệ khí hậu trong thập kỷ này có vai trò thiết yếu để thúc đẩy vị thế chính trị và kinh tế của quốc gia.
Theo đó, Việt Nam nên mừng cho thành công gần đây, nhưng cũng nên thấy rằng còn nhiều điều cần làm nếu muốn cải thiện hơn nữa sức hấp dẫn trên bản đồ chính trị và kinh tế quốc tế – đặc biệt khi ngành năng lượng đang trải qua những thay đổi lớn.
Liệu Việt Nam có nắm bắt được cơ hội khổng lồ này để không chỉ đáp ứng mục tiêu về khí hậu mà còn củng cố vị trí về chính trị và kinh tế trên toàn cầu?
Lĩnh vực tư nhân đang thúc đẩy sự bùng nổ năng lượng sạch – và còn khao khát nhiều hơn nữa Lĩnh vực tư nhân đóng vai trò không thể thiếu trong bức tranh năng lượng sạch của Việt Nam. Đó là hàng trăm công ty đang đầu tư và phát triển các nhà máy năng lượng tái tạo – thậm chí đầu tư cho đường dây truyền tải và phân phối điện, cùng hàng ngàn doanh nghiệp đang mua điện tái tạo để tiêu thụ trực tiếp.
Trong số hơn 9.300 MW điện mặt trời mái nhà năm 2020, ước tính 85% đến từ doanh nghiệp thương mại và công nghiệp. Điển hình, theo khảo sát hơn 100 công ty của Chương trình Thúc đẩy đầu tư năng lượng sạch (CEIA(*)), nhu cầu dùng điện sạch của doanh nghiệp lên tới hơn 1.000 MW và họ đang chờ đợi chương trình thí điểm DPPA – Thỏa thuận mua bán điện trực tiếp được ban hành.
Bởi DPPA cho phép các giao dịch mua bán điện mặt trời và điện gió diễn ra trực tiếp giữa bên phát điện với bên dùng điện công nghiệp. Nhiều công ty cam kết hành động vì khí hậu đang thực hiện nhanh và mạnh hơn bao giờ hết, đồng thúc đẩy bởi nhu cầu của người tiêu dùng và các quỹ tuyên bố sẽ không đầu tư nếu như công ty không có hành động thuyết phục để bảo vệ chính mình và thế giới khỏi các rủi ro khí hậu.
Đó là hơn 1.000 công ty toàn cầu đang đặt ra các mục tiêu giảm phát thải thông qua sáng kiến Mục tiêu khoa học (SBTi), và một ví dụ khác là toàn bộ các ngành thống nhất về mục tiêu giảm carbon trong Hiến chương Liên hiệp quốc Hành động vì khí hậu trong ngành công nghiệp thời trang.
Các công ty có chuỗi cung ứng sâu và rộng ở Việt Nam, như Nike, Walmart, H&M, Apple và IKEA, yêu cầu các nhà sản xuất chuỗi cung ứng của họ có hành động giảm carbon từ quá trình vận hành.
Có thể thấy, các công ty toàn cầu lớn nhất từ nhiều lĩnh vực đang đưa yếu tố giảm phát thải và hành động vì khí hậu vào các quyết định lập kế hoạch và đầu tư. Nếu một quốc gia do dự trong việc giảm carbon trong lưới điện hoặc không quan tâm đến việc mở ra các lựa chọn mua bán năng lượng sạch cho người dùng năng lượng, thì có khả năng cao các công ty lớn sẽ xem xét dịch chuyển hoạt động hoặc chuỗi cung ứng của họ sang một quốc gia khác có nhiều nỗ lực hơn.
Thực tế, một nhóm gồm 29 thương hiệu thời trang và nhà sản xuất gần đây đã gửi thư tới nguyên Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, nhấn mạnh những lợi ích cạnh tranh của các chính sách hỗ trợ năng lượng sạch và thúc giục triển khai thí điểm DPPA, một chương trình vốn được mong đợi từ lâu bởi các công ty muốn mua điện sạch với số lượng lớn.“Việc thực thi chương trình thí điểm DPPA sẽ cho phép ngành công nghiệp ở Việt Nam đạt được mục tiêu 100% năng lượng tái tạo trước các nước khác trong khu vực nhiều năm, giúp Việt Nam có lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ khi các công ty đưa ra quyết định về nguồn cung cấp sản phẩm”, nhóm đề nghị.
Nhu cầu về điện sạch là rất lớn và cần được đưa vào quy hoạch phát triển điện lực quốc gia nếu Chính phủ muốn đặt mục tiêu cho Việt Nam trở thành một trung tâm lớn của nhiều ngành công nghiệp.Thêm lựa chọn, cạnh tranh về chi phí và hợp tácMay mắn thay, Việt Nam không phải là nơi đầu tiên đối mặt với thách thức cải thiện cấu trúc thị trường điện để giải quyết nhu cầu năng lượng sạch.
Các nguyên tắc và hướng tiếp cận chính đã được thực hiện hiệu quả tại nhiều thị trường mà Chính phủ và các bên liên quan tại Việt Nam có thể dựa vào để xây dựng, với ba trụ cột chính: thêm lựa chọn (cho người tiêu dùng điện), cạnh tranh về chi phí, và hợp tác.
Lựa chọn
Giống như người tiêu dùng của mọi sản phẩm, người mua điện tìm kiếm cho mình nhiều lựa chọn mua bán. Ví dụ, điện mặt trời mái nhà phù hợp với nhiều doanh nghiệp. Thỏa thuận mua bán điện (PPA), hay chương trình DPPA sắp tới là cần thiết cho các công ty trong nhiều lĩnh vực đang tìm kiếm năng lượng sạch.Chính phủ Việt Nam có thể hỗ trợ cải thiện các lựa chọn của người tiêu dùng điện bằng việc đảm bảo các chính sách và cơ chế chính sách như PPA, DPPA trở nên thường trực và là nền tảng lâu dài trong quy hoạch phát triển điện quốc gia. Hơn nữa, khi thị trường điện bán lẻ cạnh tranh sắp được khởi động, các lựa chọn cho năng lượng sạch cần được ưu tiên bởi tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các cơ quan quản lý của Bộ Công Thương.
Cạnh tranh về chi phí
Rõ ràng năng lượng tái tạo ngày càng rẻ hơn so với các nguồn điện truyền thống và thị trường điện Việt Nam cần tạo ra một sân chơi bình đẳng cho nguồn điện mới. Điều tích cực là các bước quan trọng đang được thực hiện theo hướng này tại Việt Nam, như cơ chế đấu giá được lên kế hoạch cho năm 2021 và thí điểm DPPA sẽ cho phép người mua điện trong công nghiệp đàm phán trực tiếp với nhà máy phát điện. Điều này cũng sẽ cung cấp cho nhà sản xuất điện và người tiêu dùng nhìn thấy rõ ràng hơn các chi phí như sản xuất và truyền tải điện.
Hợp tác
Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện ngày càng tăng, dự kiến hơn 8% mỗi năm trong thập kỷ tới, Việt Nam cần khoảng 130 tỉ đô la Mỹ đầu tư vào cơ sở hạ tầng ngành điện. Việt Nam đã đưa ra nhiều tín hiệu tích cực, gồm Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, trong đó cho phép tư nhân đầu tư vào cơ sở hạ tầng điện, sẽ rất cần thiết cho nhu cầu này.Tuy nhiên, Việt Nam khó có thể bắt kịp với nhu cầu đó nếu thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa Nhà nước và tư nhân. Điều này đúng đối với các nhà đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng và cả người tiêu dùng, đặc biệt là các công ty tiêu thụ điện lớn tại Việt Nam, các đơn vị có mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính và có khả năng chi trả cho năng lượng sạch.Khi người tiêu dùng điện có thêm nhiều cơ hội lựa chọn năng lượng sạch với các tiếp cận thuận tiện, giá hợp lý – và Chính phủ tạo ra một môi trường thị trường minh bạch, cạnh tranh – Việt Nam sẽ đến lúc giữ vị trí dẫn đầu về năng lượng sạch và hành động vì khí hậu trong khu vực, đồng thời củng cố vị thế ảnh hưởng của quốc gia trong nhiều năm tới.
Tác giả (1 ) Evan Scandling là Giám đốc của Allotrope Partners và là đồng lãnh đạo Chương trình thúc đẩy đầu tư năng lượng sạch Việt Nam (CEIA Việt Nam). (2) Tiến sĩ Đào Thu Hằng là chuyên gia năng lượng bền vững của Viện Tài nguyên thế giới và đồng lãnh đạo CEIA Việt Nam. (3) Alex Perera là Phó giám đốc Chương trình Năng lượng toàn cầu của Viện Tài Nguyên thế giới và là đồng lãnh đạo CEIA toàn cầu.(*) Chương trình Thúc đẩy đầu tư năng lượng sạch (CEIA) là một sáng kiến đa quốc gia kéo dài nhiều năm do Phòng thí nghiệm Năng lượng tái tạo quốc gia Mỹ (NREL), Viện Tài nguyên thế giới (WRI), và Allotrope Partners đồng sáng lập và thực hiện, hoạt động thông qua hợp tác công – tư thúc đẩy các giải pháp năng lượng sạch tại các thị trường mới nổi trên thế giới.
DT – Nuôi tôm sinh thái kết hợp với bảo vệ rừng được tỉnh Cà Mau phấn đấu mở rộng diện tích lên đến 20 ngàn ha trong năm 2020.
Nuôi tôm sinh thái đem lại hiệu quả kinh tế bền vững cho các hộ dân tại Cà Mau. Ảnh Trọng Linh.
Rừng và tôm
ĐBSCL, tháng 5 nắng nóng oi bức, chúng tôi lặn lội về vùng nuôi tôm sinh thái dưới tán rừng ở huyện Ngọc Hiển (Cà Mau) được chứng kiến cuộc chuyển đổi tư duy ở đây. Đến nơi đây, cái nắng nóng đã dịu hẳn đi khi chúng tôi ẩn mình vào trong những cánh rừng đang nuôi tôm sinh thái và được nghe những câu chuyện thành công trong cuộc chuyển đổi này.
Nông nghiệp, nông thôn bị lợi dụng, cày xới như thế nào?
Điện mặt trời áp mái nhà như một ‘cơn lốc’ tràn qua khắp các vùng nông nghiệp, nông thôn Nam Trung bộ và Tây Nguyên, chiếm đất sản xuất và gây nhiều hệ lụy…
Đầu năm 2020, Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời tại Việt Nam, gần như ngay lập tức, các nhà đầu tư khắp cả nước, như nằm chờ sẵn, chui lên từ đất lên, đồng loạt xuất hiện ở Nam Trung bộ và Tây Nguyên, biến nhiều diện tích đất chăn nuôi, trồng trọt, trang trại, thủy sản, thủy lợi, nông thôn… thành những dự án điện mặt trời và bằng mọi giá hoàn thành công trình, thực hiện mua bán điện với giá cực kỳ ưu đãi của Chính phủ mang lại hiệu quả, lợi nhuận lớn cho nhà đầu tư. Nhưng đổi lại các dự án điện mặt trời cũng tàn phá khủng khiếp các vùng sản xuất nông nghiệp, nông thôn.
Nhóm phóng viên Báo Nông nghiệp Việt Nam đã đi sâu tìm hiểu vạch trần những chiêu trò núp bóng nông nghiệp, nông thôn để thực hiện các dự án sai phạm, trục lợi chính sách. Cũng như sự làm ngơ, thiếu trách nhiệm, đùn đẩy trách nhiệm của các cơ quan, ban, ngành và chính quyền một số địa phương khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên như thế nào?…
Hệ thống Điện mặt trời áp mái nhà trải dài hàng cây số tại huyện Chư Prông, Gia Lai.
Các mô hình điều tiết là sự tổ chức các hoạt động cần thiết khác nhau để cung cấp điện cho người tiêu dùng cuối cùng. Theo truyền thống, bốn hoạt động chính được xác định là: sản xuất (phát điện), truyền tải, phân phối và cung cấp. Tuy nhiên, nhiều hoạt động khác có thể được nhấn mạnh và phát triển mọt cách độc lập, chẳng hạn khi vận hành hệ thống (độc lập với truyền tải) hoặc đo đạc (độc lập với phân phối).
Mô hình điều tiết là gì?
Việc xác định mức độ phù hợp của việc phân tách mạng lưới độc quyền của các công ty thực hiện các hoạt động cạnh tranh có tầm quan trọng lớn khi thảo luận về các mô hình quản lý.
*On the boil newsletter co-founded by 2 girls with a dream to see Vietnam become a leader in the fight against climate change. The newsletter delivers the information in a digestible format,
Global climate change and sustainability news?
Updates on the environment and sustainability projects in Vietnam?
Inspiring stories of climate leaders and their projects?
From Zero to hero, the various case of Vietnam’s renewable energy
In January, a humble “S-shaped” country in South East Asia became the talk of the town. Having been “chasing the sun”, Vietnam saw a boom in rooftop solar installations at the end of 2020. It beat all forecasts, even that of Bloomberg, who made an entire podcast episode featuring Vietnam’s race to green energy.
Before we get to the real meat of what happened, let us first take a step back to look at the whole relationship between energy and climate, and why moving to green energy matters.
All living things on the planet contain carbon [insert Sir. David Attenborough‘s voiceover here]. When organisms died hundreds of millions of years ago, their remains got buried deep under layers of sediment and rock. Under high heat and pressure, they were slow-cooked into carbon-rich deposits we now call fossil fuels, i.e. coal, oil and natural gas.
Fast forward to the 18th century. The Industrial Revolution unlocked the huge potential of fossil fuels as an abundant source of energy. Since then, fossil fuels have rapidly established themselves as the major source of power, supplying about 84% of global energy in 2019.
Now back to Chemistry 101: when we burn fossil fuels for energy, the carbon atoms (C) that have been stored away for millennia meet with oxygen (O), releasing an enormous amount of CO2. Unsurprisingly, 81% of total CO2 emissions from 1959 to 2019 comes from burning oil, coal, and natural gas. This is bad news for our friend Earth, as CO2 is a long-lived greenhouse gas capable of trapping heat from sunlight, causing global warming.
The answer is no…if 1) we move away from fossil fuels and into low-carbon, renewable energy (RE) and 2) we reduce energy consumption and increase energy efficiency. In this issue, we’ll zoom in on the first solution.
From 1965 to 2019, the share of renewables (e.g. solar, wind, hydropower) in the energy mix almost doubled from 6% to 11%. This seems…puny compared to that of fossil fuels. On the bright side, the recent net-zero emission targets set by the world’s major economies as well as big corporates in an effort to slow climate change are expected to accelerate renewables’ growth.
Vietnam is also encouraging a shift from fossil fuel to renewables, in order to meet its CO2 emission mitigation target.
Our summers are already about 20% longer than they used to be, and if the climate crisis continues unabated then northern hemisphere summers could cover nearly half of the year by 2100, making them more than twice as long as they were in the 1950s. And unlike their counterparts of the 1950s, future summers will be more extreme, with heatwaves and wildfires more likely.
Researchers used historical climate data to measure how much the seasons have changed already. They defined summer as the onset of temperatures in the hottest 25% for that time period and winter as the onset of the coldest 25% of temperatures. Their results, published in Geophysical Research Letters, show that the average northern hemisphere summer has grown from 78 to 95 days between 1952 and 2011, while winter has shrunk from 76 to 73 days. Spring and autumn have contracted too.
soha – Tháng 11 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc quyết định ban hành nghị quyết số 120. Bản nghị quyết còn có tên gọi đặc biệt khác: “Thuận thiên”, về Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo lời kể của vị giáo sư “cây lúa” Võ Tòng Xuân, 2 chữ “thuận thiên” ấy được bắt đầu từ một cuộc trò chuyện ngắn ngủi trên bàn ăn giữa Thủ tướng và ông. Một điều ít ai biết, GS Võ Tòng Xuân đã ấp ủ nó để được “thưa” suốt 30 năm.
4 năm sau cuộc gặp ấy, trong cuộc trò chuyện với chúng tôi, ông lão 80 tuổi tóc bạc phơ vẫn ngày ngày cần mẫn với công việc nghiên cứu, giảng dạy cho hàng nghìn sinh viên nông nghiệp. Và vẫn tự hào khi nhắc về 80 năm cuộc đời trăn trở cho con đường “thuận thiên”…
Bắt đầu cuộc trò chuyện này, tôi muốn biết từ khi nào “thuận thiên” xuất hiện trong suy nghĩ của giáo sư, thưa ông?
GS Võ Tòng Xuân: Khi 15.000 hecta vùng đất thấp ngập mặn, lúa chết sạch, Sóc Trăng bà con kêu thấu trời xanh.
Một thời Việt Nam ta tự hào vì 9 con rồng đổ mình ra biển Đông, nhưng đến thập kỷ 1960 con rồng Ba Thắc (Sóc Trăng) thực sự đã chết. Thập kỷ 1980 thì tới lượt con rồng Ba Lai (Bến Tre) mười mấy cây số đều bị lấp, không còn đủ chảy nước chảy thành một lòng sông…
Khi ấy, tôi nói đùa với đồng nghiệp: “Cửu Long mất hai, giờ chẳng lẽ đổi tên đồng bằng ta là Thất Long sao?”. Nhưng nói xong, chỉ thấy nhói tận tâm.
Suốt một thời gian dài từ 2000 đến nay, tôi đã chứng kiến ĐBSCL trải qua những mùa khô và hạn hán khốc liệt như thế đấy! Đi đến đâu, gặp bất kỳ người nông dân nào, cũng chỉ nước mắt và lời kêu than không thể nào đau lòng hơn.
Cho đến một buổi sáng tháng 3/2010, tôi tình cờ đọc trực tuyến trên tờ Bangkok Post bản tin về Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo ngồi giữa thửa ruộng Vân Nam. Xung quanh bốn bề đất nứt như gót chân người, không còn lấy một giọt nước.
Dưới bức ảnh, Thủ tướng Ôn Gia Bảo nhắn: “Tôi không dám vào viếng một nhà nông dân nào. Vô đó, tôi chắc chắn họ không còn nước mời tôi uống”.
Ngày 25/3/2010, tôi đi viếng vùng nhiễm mặn Sóc Trăng cũng thấy tình trạng cạn khô như vậy.
Khi đó tôi mới vỡ lẽ.
Vỡ lẽ về điều gì, thưa ông?
GS Võ Tòng Xuân: Suốt thời gian dài, chúng ta nói, thượng nguồn Trung Quốc xây đập thuỷ điện chằng chịt, chặn đứng nguồn nước Mê Kông gây hạn hán, ngập mặn. Việt Nam, Thái Lan, Campuchia nhiều năm nay vẫn kiện cáo, đòi mở đập để “giải cứu” cây lúa miền dưới.
Nhưng thực tế không phải vậy!
Rõ ràng lúc Việt Nam đang gặp hạn thì trên Vân Nam họ cũng thế! Từ sau năm 2015, mực nước sông Mê Kông mùa khô liên tục rơi xuống còn 1.600 m3 – 1.800 m3/s, trong khi trước đây nó từng đạt 40.000 m3/s vào mùa mưa và 2000 m3/s vào mùa khô.
Chúng ta kiện, chúng ta đòi mở nước nhưng Trung Quốc họ đã không còn đủ nước cho cả đất nước họ nữa rồi. Mà cho là có năm dư, khi xuống tới đường ranh Thái Lan – Lào, hàng ngày hàng nghìn trạm bơm vẫn lấy nước đổ vào cho vùng hạn Đông Bắc Thái Lan thì đến lượt Việt Nam liệu có còn nước không?
Đó là tình hình chung thế giới! Và cái biến đổi khí hậu nó đã xảy ra hàng chục năm nay, trên toàn bộ Trái Đất, chứ đâu phải đến tận bây giờ ông trời mới bắt Việt Nam gồng gánh nỗi đau này?
Có thời điểm vì sợ thiếu lương thực, Bộ Nông nghiệp và Hải Quan đề nghị nước ta tạm ngưng xuất khẩu gạo. Hơn một tháng trời, nước ngoài không đợi được, họ liền quay sang Thái Lan mua gạo.
Lúc đó, tôi lên tiếng khẳng định luôn: “Nước ta không bao giờ thiếu lúa gạo!”.
Để chứng minh điều này, tôi đã đi dọc các tỉnh ven biên giới Campuchia. Ở đó, khoảng 1,2 triệu hecta đất vùng nước ngọt quanh năm, nước mặn không thể ngập tới, cây lúa vẫn phát triển tốt, thậm chí còn cho năng suất rất cao.
Chỉ duy khoảng 15.000 hecta ở vùng ven biển của mấy ông nông dân “cãi trời”, chính quyền đã cảnh báo nhưng vẫn chăm chăm làm lúa thì giờ mới than trời kêu đất.
Truyền thông không nhìn thấy được bức tranh toàn cảnh nên đã gây ra rất nhiều hiểu lầm.
Tháng 9/2017, tôi được mời tham dự Hội nghị về Phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu tại Cần Thơ, do Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì. Nhân dịp này tôi mới rút ruột rút gan ra trình bày với Thủ Tướng:
“Nông dân miền Tây mình đang mắc vòng kim cô rất lớn! Thưa Thủ tướng…”
Thủ tướng thấy lạ bèn hỏi lại: “Kim cô gì thầy? Nhờ thầy nói rõ!”
“Kim cô chính là lúa.”.
Tôi giải thích tiếp: “Giờ này chúng ta thặng dư nhiều lúa rồi nhưng Nhà nước cứ buộc nông dân trồng lúa, vùng mặn cũng phải làm. Đó chính là ta đi ngược với thiên nhiên, chống thiên nhiên.”
Thủ tướng hỏi: “Chống như thế nào thầy?”
“Ở các vùng mặn, mùa nắng ruộng chỉ có nước mặn, đáng lẽ người ta phải nuôi tôm, nuôi cá, sinh lời… lại bắt người ta trồng lúa. Đó là không thuận thiên…”
Lúc ấy, Thủ tướng vỡ lẽ.
Kết thúc kỳ họp, Thủ Tướng đồng ý dùng 2 chữ “thuận thiên” làm tôn chỉ cho nghị quyết mới.
Tháng 11/2017 thì nghị quyết 120 do Chính phủ ban hành đã nhấn mạnh tầm quan trọng của 2 chữ “Thuận thiên”.
Bởi khi ấy, nếu nông dân tiếp tục “cãi trời”, ĐBSCL sẽ đi vào thế khó. Thuận thiên thì không những biến nguy thành cơ mà còn là cơ hội “vàng” cho Tây Nam Bộ vươn lên làm giàu.
Trước Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Giáo sư đã bao giờ đề cập đến con đường “thuận thiên” này lần nào khác?
GS Võ Tòng Xuân: Thú thật, hơn 50 năm “ăn nằm” với cây lúa, tôi chưa bao giờ thôi nghĩ về nó.
Thời kỳ đất nước giải phóng, chúng ta đề ra chính sách đảm bảo an ninh lương thực, chú trọng việc trồng lúa.
Tại kỳ họp thứ 1 Quốc hội Khóa VII (1981-1987) do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng chủ trì, Chánh phủ báo cáo đã mở rộng sản xuất lương thực vùng Đồng Tháp Mười và vùng lúa Tứ Giác Long Xuyên.
Đến lúc đại biểu Quốc Hội tham luận, tôi đăng ký xin thưa: “2 vùng vừa báo cáo không chỉ không cho kết quả như ý muốn mà còn làm nãn lòng nhân dân”.
Bởi thời điểm đó, những vùng này đất rất phèn, cây tràm đã sống thành rừng mà giờ ta lại chỉ đạo phá rừng, trồng lúa.
Mọi người cứ nghĩ Nam Bộ “cò bay thẳng cánh” thì đâu đâu cũng trồng lúa được. Không phải! Đó là cưỡng trời, là đi ngược thiên nhiên. Bao nhiêu vốn đầu tư nhưng sẽ không lấy lại được bao nhiêu!
Nghe xong, chủ tịch Phạm Văn Đồng nhìn tôi, trách: “Tại sao đến giờ đồng chí mới nói?”.
Lúc đó, tôi thưa: “Dạ! Đây là dịp đầu tiên cháu mới có được môi trường Quốc hội để phát biểu”. Sau đó, ông cười rồi lập tức kêu Ông Phan Xuân Đợt (Bộ trưởng Lâm Nghiệp bấy giờ) và ông Nguyễn Đăng (nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp) đưa ra phương án, nhanh chóng sửa sai vấn đề này ngay.
Đến cuối năm 1989, nước ta bắt đầu xuất khẩu gạo. Ngặt cái, trồng lúa ở miền Bắc thì cứ như chống giặc vậy! Vụ đông xuân thì chống rét, hạ chống hạn, thu đông thì chống bão lũ… Lúc đó tôi mới thấy sao nông dân mình khổ quá! Suốt đời cứ chống, đi đánh thế thì bao giờ mới có ăn. Tôi liền nghĩ đến phương án giảm trồng lúa.
Năm 1990, tôi đổi tên “Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển lúa” của mình thành “Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Canh tác”. Trong những lần ra nước ngoài, tôi vận động Australia giúp kinh phí chi Viện Lúa Quốc tế (IRRI) và Canada tài trợ chương trình nghiên cứu khoa học. Về nước tôi mời các khoa Nông nghiệp của đại học Việt Nam thành lập Mạng Lưới nghiên cứu hệ thống canh tác xoay quanh cây lúa cho từng vùng. Chủ yếu là để giảm bớt một, hai vụ lúa nhằm luân canh cây trồng khác hoặc nuôi tôm, cá.
Nhưng cuối cùng dự án đó mãi mãi không thực hiện được…
Sang kỳ họp Quốc hội thứ 8, tôi tiếp tục đề cập vấn đề cắt giảm nhu cầu trồng lúa, chuyển sang canh tác cây ăn quả, thâm canh tôm, cá giá trị cao. Lúc đó, một đại biểu Quốc Hội đứng lên phản bác rất gay gắt: “Mình là con người, con người phải ăn cơm ăn gạo, chỉ có con khỉ mới ăn quả”.
Vậy đó, họ nói tôi như thế đó!
Tôi về, đi ra đồng thì ông nông dân vẫn hỏi: “Bây giờ mình dư nhiều gạo, xuất khẩu nhiều quá rồi, sao nhà nước còn khuyến khích trồng lúa?”. Có lúc tôi không biết trả lời họ câu hỏi đó sao cho phải…
Một đời người nghiên cứu về cây lúa nhưng năm lần bảy lượt ông lại ủng hộ quan điểm Việt Nam không nên tiếp tục trồng nhiều lúa. Điều đó có mâu thuẫn quá không, thưa ông?
GS Võ Tòng Xuân: Đúng! Đúng là có lúc tôi từng mâu thuẫn như thế!
Thời điểm năm 1975, chính sách đảm bảo an ninh lương thực khiến dân ta không có lựa chọn nào ngoài chuyện trồng lúa. Miền Bắc thì tập trung lo đê điều, Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ thì thuỷ lợi, ngọt hoá. Hơn 70% kinh phí nhà nước cấp cho ngành nông nghiệp khi ấy chỉ để xây thủy lợi, làm lúa nước.
Dân phá rừng trồng lúa, thậm chí nhà nào có vườn hoa đẹp phải cuốc lên, có vườn trái cây đều đào gốc, trồng rau, khoai. Nhiều gia đình thèm có một cái cây ăn trái lắm, phải lén đắp mô ở trong ruộng, chỗ này một ít, chỗ kia một ít để có cây nhãn, cây xoài ăn chơi.
Bởi khi ấy, chúng ta còn quá ám ảnh cái đói sau 2 cuộc thế chiến! Cái chính sách an ninh lương thực là cần thiết. Nhưng suốt 30 năm, từ khi chúng ta đủ ăn, dư ăn và xuất khẩu gạo rồi, chúng ta vẫn duy trì chính sách ấy, vẫn trồng lúa mọi nơi, thậm chí còn tốn nhiều tiền để ngọt hóa vùng mặn để trồng thêm.
Nếu tôi vì bản thân mình thì tôi đã nhắm mắt cho qua. Nhưng không phải! Tôi đã chứng kiến nhiều câu hỏi không biết trả lời thế nào từ những nông dân như thế rồi.
Đúng như ý nguyện của Bác Hồ “Nông dân ta giàu thì nước ta giàu”, tôi nghĩ đã đến lúc nhà nước ta, các doanh nghiệp và cả người nông dân đều cần thay đổi.
Con đường thay đổi đó thực hiện như thế nào?
GS Võ Tòng Xuân: Trước đây, người Việt hay có quan niệm: “Không học thì đi làm nông dân”. Bởi ngày xưa, ông bà ta chỉ làm nông theo hình thức tự phát, kinh nghiệm, bắt chước.
Nhưng giờ Việt Nam đã qua cái thời “thất học ra đồng”! Chúng ta có rất nhiều cơ sở để tri thức hoá người nông dân như các nước châu Âu.
Nói vậy không phải là bắt ông nông dân phải đi học đại học, cao đẳng. Mà ông ấy chỉ cần qua các lớp đào tạo do doanh nghiệp, nhà nước địa phương tổ chức nhằm làm sao cho nguyên liệu do nông dân làm ra đạt đủ tiêu chuẩn yêu cầu thì xem như đã qua lớp và được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện “hành nghề ”.
Thứ hai, trong tương lai gần, với tình trạng hạn mặn và sạt lở diễn ra mạnh mẽ ở ĐBSCL như hiện nay, để phát triển toàn diện thì cần phải giảm lúa gạo. Tại vùng ven biên giới Campuchia, là vùng luôn luôn có đủ nước ngọt và không bị nước mặn xâm nhập, thì chúng ta nên thiết kế 1.2 triệu hecta lúa, trồng 2-3 vụ/năm để đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu một phần.
Còn những tiểu vùng gần biển thì nên trồng lúa vào mùa mưa, mùa nắng có thể kết hợp nước mặn với nước ngọt trộn lại để nuôi tôm, nuôi cá thâm canh hoặc chuyển đổi cơ cấu cây trồng chịu mặn. Vùng giữa thì bắt đầu lên liếp đất để hạn chế nước mặn và có rảnh mương dự trữ nước trong mùa mưa để tưới cho cây trồng trong mùa nắng.
Thứ 3, nhà nước cần nắm được các khuynh hướng nông nghiệp trên thế giới. Từ đó, tạo điều kiện liên kết vùng, nông dân-nông dân (dồn điền -PV), nông dân-doanh nghiệp, doanh nghiệp-doanh nghiệp để sản xuất trên diện tích lớn bằng cơ giới và công nghệ 4.0.
Ngược lại, phía doanh nghiệp phải được đào tạo thành nhà doanh nhân giỏi, là đơn vị tiên phong trong chế biến sản phẩm có thương hiệu, năng nổ khám phá và sẵn sàng tìm đầu ra cho sản phẩm.
Cuối cùng là công cuộc chiếm lĩnh thị trường 100 triệu dân trong nước. Sự thật là những năm qua, ngành nông nghiệp đang dần chiếm được tình cảm của người tiêu dùng Việt bởi những sản phẩm an toàn vệ sinh, ngon, hấp dẫn, không kém sản phẩm ngoại nhập.
Vậy trong 3 năm thực hiện nghị quyết 120, con đường “thuận thiên” ấy đã để lại cho chúng ta tín hiệu đáng mừng như thế nào rồi, thưa GS?
GS Võ Tòng Xuân: Nông dân các tỉnh ven biển ĐBSCL đã và đang phấn khởi với những vùng chuyển đổi mà Đảng và Nhà nước quy hoạch mới, hàng ngàn hecta lúa-tôm đã đem lại lợi tức gấp 4-5 lần trồng lúa độc canh trước đây.
Bến Tre ngoài cây dừa đã trồng thêm cây ăn trái như bưỡi, xoài, sầu riêng bằng bón phân hữu cơ sinh học chống mặn tốt. Trên các cánh đồng lúa bát ngát ở Châu Đốc (An Giang), Tháp Mười (Đồng Tháp) cũng bắt đầu nhen nhóm những vườn xoài, chuối. Nhiều doanh nghiệp như Vinamit, vua chuối Út Huy, công ty Cỏ May (Đồng Tháp), Trung An (Cần Thơ),… đã áp dụng nông nghiệp “sạch”, chiếm lĩnh thị trường thế giới bằng con đường “chất lượng thắng số lượng.”
Năm 2020, bất chấp đại dịch Covid-19 chúng ta đã xác lập nhiều kỷ lục khi sản phẩm nông nghiệp Việt Nam đã vươn xa tới gần 190 thị trường thế giới, xuất khẩu nông sản đạt mốc 41,2 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay.
Nhiều loại quả như vải thiều, chôm chôm, thanh long, vú sữa, xoài, nhãn… đã có mặt tại những thị trường khó tính nhất như Mỹ, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc…, giá trị còn tăng gấp 20-30 lần so với trong nước.
Về gạo, khối lượng gạo xuất khẩu giảm 3,5% nhưng tăng 9,3% về giá trị, trong đó gạo chất lượng cao chiếm 85% gạo xuất khẩu. Một khoảng thời gian, chúng ta đã vượt hẳng qua Thái Lan. Như hôm qua (ngày 22/2), tôi vừa xem giá gạo thì Việt Nam đạt 536 USD/ tấn, cao hơn hẳng nước bạn.
Đó đều là tín hiệu đáng mừng!
Và từ năm 2020 trở đi, với điều kiện thuận lợi của Hiệp định Thương mại tự do EVFTA, CPTPP… nông sản Việt vào thị trường EU không bị đánh thuế, thì chúng ta có quyền hy vọng con đường đến top 15 nền nông nghiệp hàng đầu thế giới.
Ở tuổi 81 này, GS còn điều gì trăn trở cho cuộc sống và nền nông nghiệp Việt Nam?
GS Võ Tòng Xuân: Năm 1991, tôi sang Mỹ, có dịp gặp một vài anh bạn người Việt gốc Hoa làm chủ chuỗi siêu thị Á Châu. Ngồi nghe tâm sự, các anh ấy đều nói:“Bây giờ thầy phải làm thế nào đi thầy? Tụi con thèm bán gạo Việt lắm mà Việt Nam không có giống gạo ngon nào, siêu thị tụi con toàn phải mua gạo Thái Lan”.
Câu hỏi ấy cứ theo tôi mãi!
Năm 2019, khi Hồ Quang Cua – sinh viên của tôi, lai tạo thành công “giống gạo ngon nhất thế giới” ST25, tôi mới có thể tự tin giới thiệu với các siêu thị Á Châu.
80 năm cuộc đời, tôi đã đặt chân đến trên 80 nước để mang về những cải tiến cho nền nông nghiệp Việt Nam. Tôi vui khi hoàn thành được những hoài bão. Nhưng sẽ càng hạnh phúc hơn nhiều nếu đi đâu đâu trên khắp thế giới này tôi đều thấy nông sản Việt Nam, thấy người ta hào hứng lựa chọn nó, tôi hay tưởng tượng đến những nụ cười sung sướng của người nông dân đã và đang sản xuất nguyên liệu an toàn, chất lượng để cung cấp cho nhà doanh nghiệp, cùng nhau làm ra những sản phẩm có thương hiệu nổi trội.
Đó là những người tiếp tay làm nên sự giàu có của chính họ và của đất nước Việt Nam.
Bây giờ, mỗi ngày tôi vẫn làm việc bình thường. Nói chuyện với bạn hôm nay, lát nữa sẽ về Cần Thơ để mai gặp sinh viên. Kế hoạch cuối tuần này thì lên Nhà máy đường Gia Lai tính chuyện hợp tác với người dân tộc tại Huyện Eatun trồng cây mía,… Ngày nào còn sức khỏe và trí óc minh mẫn, ngày ấy tôi sẽ còn truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng cho thế hệ sau bấy lâu.
Như Khổng Tử, Trang Tử, Lão Tử của ngày xưa mong muốn tìm người tiếp nối. Tôi chỉ mong một mai sẽ có đôi mắt thay tôi nhìn ngắm những cánh đồng Việt Nam phát triển thế nào…
Washington [US], March 1 (ANI): Raising concerns over the dipping water-levels of the Mekong River and upstream dams in China, Principal Deputy Assistant Secretary of State for East Asian and Pacific Affairs Ambassador Atul Keshap points out that upstream dams in China that exacerbate droughts are hurting the communities and ecosystems that have relied for countless generations on the Mekong River’s natural flood pulse.
Speaking at the Indo-Pacific conference on Strengthening Transboundary River Governance, Keshap on Saturday (local time) said the conference report launched at the event is excellent and summarizes our work examining the challenges facing the Mekong River basin and its ties to the economies, livelihoods, and culture of nearly 70 million people.
“We remain concerned just as we were in October during the conference–that record droughts and the upstream dams in China that exacerbate them are hurting the communities and ecosystems that have relied for countless generations on the Mekong River’s natural flood pulse,” he said as reported by the Frontier Post.
Two sand-mining boats with dredgers extract sand from the Tra On River, only 100 meters away from the shore, in Vinh Long Province, Vietnam, February 23, 2021. Photo: Chi Hanh / Tuoi Tre
Despite facing furious opposition from local residents, a big barge equipped with dredgers is publicly extracting sand off the Tra On River in Vinh Long Province, located in Vietnam’s Mekong Delta.
The barge has mined sand on the river for a few days, residents of My An Village in the province’s Binh Minh Town, said in a report to Tuoi Tre (Youth) newspaper on Tuesday.
As witnessed by Tuoi Tre, a massive boat numbered LA-07135 appeared at the junction of the Hau River and the Tra On River.
It was accompanied by another boat with registration number BTr-7402, with a perceived load capacity of hundreds of cubic meters of sand.
On the morning of May 21, 2000, I woke up to a scene I had never witnessed before.
Nguyen Trong Binh
An endless stream of people driving motorbikes and cars from various provinces in the Mekong Delta like Hau Giang, Soc Trang, Bac Lieu, Ca Mau, and An Giang flooded the roads near my sister’s house in Vinh Long Province: They had come to see the inauguration of the My Thuan Bridge.
I was one of them.
Excited at the prospect of seeing the country’s first cable-stayed bridge, one that spans the Tien River, a major branch of the Mekong, to link Vinh Long and Tien Giang, I had gone to my sister’s house, eight kilometers from the bridge, the previous day, and got up early the next day for the inauguration.
The deployment of battery energy storage systems (BESS) is rapidly increasing throughout the world. This technology presents many opportunities for increasing contributions of variable renewable energy technologies, providing ancillary services, enabling energy access to remote areas, and increasing resilience during grid power outages. At the same time, BESS has not been widely deployed and operated in many contexts. The use of BESS requires codes and standards similar to those for other inverter-based technologies but may also necessitate special safety considerations in specific contexts. As countries in Asia consider the inclusion of BESS in their power systems to meet policy objectives, renewable energy goals, increase resilience, and expand energy access, there is an opportunity to learn from the experiences of other regions and jurisdictions that have developed more advanced storage markets and practices.
This report presents global best practices of codes, standards, and interconnection procedures developed to support the safe and reliable deployment of BESS. Several relevant case studies highlight current efforts to ensure safe operation of BESS and showcase potential pathways for adoption of relevant codes and standards. Specifically, this report is intended to support the Thailand Office of Energy Regulatory Commission (OERC) and other stakeholders in their efforts to develop technical codes and standards to govern the installation and operation of BESS; it may also be utilized as a guide for other countries as interest in the deployment of BESS technologies continues to grow. Coupled with well-defined regulatory objectives, market incentives, permitting procedures, and technical review processes, the adoption of technical codes and standards that govern the design, construction, installation, and operation of BESS can help provide regulatory certainty, as well as reduce barriers to investment. Such codes and standards also ensure BESS deployment will meet national, regional, and local goals, while maintaining a reliable grid, and ensuring public safety.
Finally, a robust BESS market can support the increased adoption of variable renewable energy generation technologies to meet Thailand’s energy portfolio goals. This report has been prepared by the National Renewable Energy Laboratory (NREL) with support from the U.S. Agency for International Development (USAID) Regional Development Mission for Asia, and in collaboration with USAID Clean Power Asia.
Lĩnh vực công nghiệp là lĩnh vực tạo ra phát thải khí nhà kính (GHG) lớn nhất trên toàn cầu. Ở Đông Nam Á, công nghiệp cũng là một trong những nguồn phát thải khí nhà kính lớn nhất. Cùng với mức tăng trưởng kinh tế và sản lượng công nghiệp đáng kể được dự báo tại từ Đông Nam Á trong vài thập kỷ tới, việc sử dụng năng lượng và phát thải khí nhà kính liên quan đến các ngành công nghiệp được dự báo là sẽ tăng đáng kể nếu các quốc gia không có các chính sách và chiến lược quyết liệt để giảm thải khí nhà kính.
Lĩnh vực tư nhân có tiềm năng trọng yếu trong việc thúc đẩy các hành động giảm thải các-bon trong công nghiệp. Đối với nhiều công ty và các thương hiệu mà lượng phát thải từ chuỗi cung lớn hơn nhiều lần so với lượng phát thải từ việc vận hành của chính công ty, thì rõ ràng để làm được hành động có ý nghĩa, các công ty sẽ phải tận dụng sức mua và làm việc với chuỗi cung ứng của họ. Tuy nhiên, theo tổ chức CDP, chỉ có 29% nhà cung cấp của các hãng báo cáo về lượng khí thải giảm tuyệt đối trong năm 2019, rõ ràng là người mua và các nhà cung cấp của họ ở Đông Nam Á và các khu vực khác phải nỗ lực nhiều hơn nữa.
Trong báo cáo này, đầu tiên, chúng ta phân tích việc sử dụng năng lượng công nghiệp ở 5 nước tiêu thụ năng lượng lớn ở Đông Nam Á là: Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam. Các chương tiếp theo của báo cáo thảo luận về các khía cạnh khác nhau của việc nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính trong linh vực công nghiệp ở Đông Nam Á thông qua tính bền vững của chuỗi cung ứng. Chúng ta thảo luận về các rào cản chính trong quá trình giảm thải cácbon trong các chuỗi cung ứng, các thực hành hàng đầu để thúc đẩy chuỗi cung ứng công nghiệp các-bon thấp, và tầm quan trọng của các hệ thống đo lường hiệu suất và các chỉ số đánh giá cơ bản tương ứng (KPI) để thúc đẩy tính bền vững của chuỗi cung ứng. Các nghiên cứu điển hình về tính bền vững của chuỗi cung ứng tập trung vào lĩnh vực dệt may cũng như lĩnh vực sản xuất sản phẩm điện tử. Hai lĩnh vực này có chuỗi cung ứng lớn ở Đông Nam Á.
Dựa trên những thực hành quốc tế tốt nhất xác định trong nghiên cứu này, các công ty có thể đưa ra các hành động để giảm phát thải carbon trong chuỗi cung ứng bằng cách:
• Phát triển các mối quan hệ chặt chẽ hơn với các nhà cung cấp của họ thông qua các chương trình gắn kết với nhà cung cấp và giúp các nhà cung cấp thiết lập các hệ thống và chính sách quản lý bền vững của riêng nhà cung cấp, điều này sẽ giúp cho các nhà cung cấp đo lường và theo dõi lượng phát thải một cách có hệ thống.
• Là một phần của việc phát triển phương pháp quản lý dữ liệu cho nhà cung cấp, các công ty có thể tạo lập hoặc thuê các công ty bên ngoài vận hành hệ thống thu thập dữ liệu hoặc tận dụng chương trình báo cáo và công bố khí nhà kính hiện có.
• Đặt ra các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính và giảm các-bon cho chuỗi cung ứng.
• Chuyển tải các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính và giảm các-bon thành các mục tiêu cho các nhà cung cấp riêng lẻ của hãng có thể thực hiện được.
• Khuyến khích và hỗ trợ các nhà cung cấp chuyển đổi sang năng lượng tái tạo, đây là chìa khóa để đạt được các mục tiêu giảm khí thải phạm vi số 3. (Các phát thải gián tiếp khác phát sinh từ các hoạt động có liên quan trong chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng từ các nguồn mà doanh nghiệp không sở hữu hoặc kiểm soát.)
• Khuyến khích và hỗ trợ các nhà cung cấp xác định và thực hiện các cơ hội sử dụng năng lượng hiệu quả và áp dụng tiêu chuẩn quản lý năng lượng ISO 50001
• Thiết lập giá carbon nội bộ. Chương trình này sẽ cung cấp cho các công ty cơ hội để đánh giá rủi ro liên quan đến các quy định trong tương lai về giá các-bon bắt buộc, và do đó hướng tới việc xác định triển vọng tiết kiệm chi phí và doanh thu khi đầu tư vào các công nghệ mới về các-bon thấp và giảm các-bon trong các hoạt động kinh doanh.
• Cung cấp thông tin và tài liệu đào tạo cho các nhà cung cấp của hãng để hỗ trợ nỗ lực của các nhà cung cấp và xây dựng năng lực trong việc cải thiện hiệu suất năng lượng và chuyển đổi sang các-bon thấp.