Việt Nam củng cố vai trò lãnh đạo trong năng lượng tái tạo – liệu đã đủ?

thesaigontimes.vn
Evan Scandling (1) – Đào Thu Hằng (2) – Alex Perera (3)
Chủ Nhật,  18/4/2021, 08:57 
(KTSG) – Điện mặt trời hiện chiếm hơn 4% tổng sản lượng điện cả nước và dự kiến sẽ góp trên 9% tổng sản lượng năm 2021. Với nhiều GW điện mặt trời và điện gió được bổ sung thêm, Việt Nam đang nhanh chóng trở thành nước đi đầu tại Đông Nam Á về năng lượng sạch.
Điện mặt trời áp mái phần lớn đến từ doanh nghiệp thương mại và công nghiệp. Ảnh: H.P

Hệ thống năng lượng của Việt Nam đang thay đổi đáng kể trong hai năm qua, nhờ hàng tỉ đô la Mỹ từ nhà đầu tư tư nhân. Tăng từ 20 MW điện mặt trời đầu năm 2019 đến gần 20.000 MW – là một con số chưa từng có.

Tất nhiên, mở rộng quy mô nhanh là cần thiết để Việt Nam đạt được mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu – theo Thỏa thuận Paris, giảm thải 27% lượng khí nhà kính vào năm 2030. Thành tựu về năng lượng sạch của Việt Nam đem đến nhiều lợi ích gồm tăng khả năng cạnh tranh toàn cầu, là điểm đến cho đầu tư nước ngoài. Nhiều chuyên gia tin rằng các hành động bảo vệ khí hậu trong thập kỷ này có vai trò thiết yếu để thúc đẩy vị thế chính trị và kinh tế của quốc gia.

Theo đó, Việt Nam nên mừng cho thành công gần đây, nhưng cũng nên thấy rằng còn nhiều điều cần làm nếu muốn cải thiện hơn nữa sức hấp dẫn trên bản đồ chính trị và kinh tế quốc tế – đặc biệt khi ngành năng lượng đang trải qua những thay đổi lớn.

Liệu Việt Nam có nắm bắt được cơ hội khổng lồ này để không chỉ đáp ứng mục tiêu về khí hậu mà còn củng cố vị trí về chính trị và kinh tế trên toàn cầu?

Lĩnh vực tư nhân đang thúc đẩy sự bùng nổ năng lượng sạch – và còn khao khát nhiều hơn nữa
Lĩnh vực tư nhân đóng vai trò không thể thiếu trong bức tranh năng lượng sạch của Việt Nam. Đó là hàng trăm công ty đang đầu tư và phát triển các nhà máy năng lượng tái tạo – thậm chí đầu tư cho đường dây truyền tải và phân phối điện, cùng hàng ngàn doanh nghiệp đang mua điện tái tạo để tiêu thụ trực tiếp.

Trong số hơn 9.300 MW điện mặt trời mái nhà năm 2020, ước tính 85% đến từ doanh nghiệp thương mại và công nghiệp. Điển hình, theo khảo sát hơn 100 công ty của Chương trình Thúc đẩy đầu tư năng lượng sạch (CEIA(*)), nhu cầu dùng điện sạch của doanh nghiệp lên tới hơn 1.000 MW và họ đang chờ đợi chương trình thí điểm DPPA – Thỏa thuận mua bán điện trực tiếp được ban hành. Bởi DPPA cho phép các giao dịch mua bán điện mặt trời và điện gió diễn ra trực tiếp giữa bên phát điện với bên dùng điện công nghiệp. Nhiều công ty cam kết hành động vì khí hậu đang thực hiện nhanh và mạnh hơn bao giờ hết, đồng thúc đẩy bởi nhu cầu của người tiêu dùng và các quỹ tuyên bố sẽ không đầu tư nếu như công ty không có hành động thuyết phục để bảo vệ chính mình và thế giới khỏi các rủi ro khí hậu.

Đó là hơn 1.000 công ty toàn cầu đang đặt ra các mục tiêu giảm phát thải thông qua sáng kiến Mục tiêu khoa học (SBTi), và một ví dụ khác là toàn bộ các ngành thống nhất về mục tiêu giảm carbon trong Hiến chương Liên hiệp quốc Hành động vì khí hậu trong ngành công nghiệp thời trang.

Các công ty có chuỗi cung ứng sâu và rộng ở Việt Nam, như Nike, Walmart, H&M, Apple và IKEA, yêu cầu các nhà sản xuất chuỗi cung ứng của họ có hành động giảm carbon từ quá trình vận hành.

Có thể thấy, các công ty toàn cầu lớn nhất từ nhiều lĩnh vực đang đưa yếu tố giảm phát thải và hành động vì khí hậu vào các quyết định lập kế hoạch và đầu tư. Nếu một quốc gia do dự trong việc giảm carbon trong lưới điện hoặc không quan tâm đến việc mở ra các lựa chọn mua bán năng lượng sạch cho người dùng năng lượng, thì có khả năng cao các công ty lớn sẽ xem xét dịch chuyển hoạt động hoặc chuỗi cung ứng của họ sang một quốc gia khác có nhiều nỗ lực hơn.

Thực tế, một nhóm gồm 29 thương hiệu thời trang và nhà sản xuất gần đây đã gửi thư tới nguyên Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, nhấn mạnh những lợi ích cạnh tranh của các chính sách hỗ trợ năng lượng sạch và thúc giục triển khai thí điểm DPPA, một chương trình vốn được mong đợi từ lâu bởi các công ty muốn mua điện sạch với số lượng lớn.“Việc thực thi chương trình thí điểm DPPA sẽ cho phép ngành công nghiệp ở Việt Nam đạt được mục tiêu 100% năng lượng tái tạo trước các nước khác trong khu vực nhiều năm, giúp Việt Nam có lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ khi các công ty đưa ra quyết định về nguồn cung cấp sản phẩm”, nhóm đề nghị.

Nhu cầu về điện sạch là rất lớn và cần được đưa vào quy hoạch phát triển điện lực quốc gia nếu Chính phủ muốn đặt mục tiêu cho Việt Nam trở thành một trung tâm lớn của nhiều ngành công nghiệp.Thêm lựa chọn, cạnh tranh về chi phí và hợp tácMay mắn thay, Việt Nam không phải là nơi đầu tiên đối mặt với thách thức cải thiện cấu trúc thị trường điện để giải quyết nhu cầu năng lượng sạch.

Các nguyên tắc và hướng tiếp cận chính đã được thực hiện hiệu quả tại nhiều thị trường mà Chính phủ và các bên liên quan tại Việt Nam có thể dựa vào để xây dựng, với ba trụ cột chính: thêm lựa chọn (cho người tiêu dùng điện), cạnh tranh về chi phí, và hợp tác.

Lựa chọn

Giống như người tiêu dùng của mọi sản phẩm, người mua điện tìm kiếm cho mình nhiều lựa chọn mua bán. Ví dụ, điện mặt trời mái nhà phù hợp với nhiều doanh nghiệp. Thỏa thuận mua bán điện (PPA), hay chương trình DPPA sắp tới là cần thiết cho các công ty trong nhiều lĩnh vực đang tìm kiếm năng lượng sạch.Chính phủ Việt Nam có thể hỗ trợ cải thiện các  lựa chọn của người tiêu dùng điện bằng việc đảm bảo các chính sách và cơ chế chính sách như PPA, DPPA trở nên thường trực và là nền tảng lâu dài trong quy hoạch phát triển điện quốc gia. Hơn nữa, khi thị trường điện bán lẻ cạnh tranh sắp được khởi động, các lựa chọn cho năng lượng sạch cần được ưu tiên bởi tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các cơ quan quản lý của Bộ Công Thương.

Cạnh tranh về chi phí

Rõ ràng năng lượng tái tạo ngày càng rẻ hơn so với các nguồn điện truyền thống và thị trường điện Việt Nam cần tạo ra một sân chơi bình đẳng cho nguồn điện mới. Điều tích cực là các bước quan trọng đang được thực hiện theo hướng này tại Việt Nam, như cơ chế đấu giá được lên kế hoạch cho năm 2021 và thí điểm DPPA sẽ cho phép người mua điện trong công nghiệp đàm phán trực tiếp với nhà máy phát điện. Điều này cũng sẽ cung cấp cho nhà sản xuất điện và người tiêu dùng nhìn thấy rõ ràng hơn các chi phí như sản xuất và truyền tải điện.

Hợp tác

Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện ngày càng tăng, dự kiến hơn 8% mỗi năm trong thập kỷ tới, Việt Nam cần khoảng 130 tỉ đô la Mỹ đầu tư vào cơ sở hạ tầng ngành điện. Việt Nam đã đưa ra nhiều tín hiệu tích cực, gồm Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, trong đó cho phép tư nhân đầu tư vào cơ sở hạ tầng điện, sẽ rất cần thiết cho nhu cầu này.Tuy nhiên, Việt Nam khó có thể bắt kịp với nhu cầu đó nếu thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa Nhà nước và tư nhân. Điều này đúng đối với các nhà đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng và cả người tiêu dùng, đặc biệt là các công ty tiêu thụ điện lớn tại Việt Nam, các đơn vị có mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính và có khả năng chi trả cho năng lượng sạch.Khi người tiêu dùng điện có thêm nhiều cơ hội lựa chọn năng lượng sạch với các tiếp cận thuận tiện, giá hợp lý – và Chính phủ tạo ra một môi trường thị trường minh bạch, cạnh tranh – Việt Nam sẽ đến lúc giữ vị trí dẫn đầu về năng lượng sạch và hành động vì khí hậu trong khu vực, đồng thời củng cố vị thế ảnh hưởng của quốc gia trong nhiều năm tới.

Tác giả
(1 ) Evan Scandling là Giám đốc của Allotrope Partners và là đồng lãnh đạo Chương trình thúc  đẩy đầu tư năng lượng sạch Việt Nam (CEIA Việt Nam).
(2)  Tiến sĩ Đào Thu Hằng là chuyên gia năng lượng bền vững của Viện Tài nguyên thế giới và đồng lãnh đạo CEIA Việt Nam.
(3)  Alex Perera là Phó giám đốc Chương trình Năng lượng toàn cầu của Viện Tài Nguyên thế giới và là đồng lãnh đạo CEIA toàn cầu.(*) Chương trình Thúc đẩy đầu tư năng lượng sạch (CEIA) là một sáng kiến đa quốc gia kéo dài nhiều năm do Phòng thí nghiệm Năng lượng tái tạo quốc gia Mỹ (NREL), Viện Tài nguyên thế giới (WRI), và Allotrope  Partners đồng sáng lập và thực hiện, hoạt động thông qua hợp tác công – tư thúc đẩy các giải pháp năng lượng sạch tại các thị trường mới nổi trên thế giới.

CÁC MÔ HÌNH ĐIỀU TIẾT TRONG NGÀNH ĐIỆN: Ai làm gì và vì sao?

English: Regulatory Models in the Power Sector

Các mô hình điều tiết là sự tổ chức các hoạt động cần thiết khác nhau để cung cấp điện cho người tiêu dùng cuối cùng. Theo truyền thống, bốn hoạt động chính được xác định là: sản xuất (phát điện), truyền tải, phân phối và cung cấp. Tuy nhiên, nhiều hoạt động khác có thể được nhấn mạnh và phát triển mọt cách độc lập, chẳng hạn khi vận hành hệ thống (độc lập với truyền tải) hoặc đo đạc (độc lập với phân phối).

Mô hình điều tiết là gì?

Việc xác định mức độ phù hợp của việc phân tách mạng lưới độc quyền của các công ty thực hiện các hoạt động cạnh tranh có tầm quan trọng lớn khi thảo luận về các mô hình quản lý.

Tiếp tục đọc “CÁC MÔ HÌNH ĐIỀU TIẾT TRONG NGÀNH ĐIỆN: Ai làm gì và vì sao?”

Key Considerations for Adoption of Technical Codes and Standards for Battery Energy Storage Systems in Thailand.

Executive Summary

The deployment of battery energy storage systems (BESS) is rapidly increasing throughout the world. This technology presents many opportunities for increasing contributions of variable renewable energy technologies, providing ancillary services, enabling energy access to remote areas, and increasing resilience during grid power outages. At the same time, BESS has not been widely deployed and operated in many contexts. The use of BESS requires codes and standards similar to those for other inverter-based technologies but may also necessitate special safety considerations in specific contexts. As countries in Asia consider the inclusion of BESS in their power systems to meet policy objectives, renewable energy goals, increase resilience, and expand energy access, there is an opportunity to learn from the experiences of other regions and jurisdictions that have developed more advanced storage markets and practices.

This report presents global best practices of codes, standards, and interconnection procedures developed to support the safe and reliable deployment of BESS. Several relevant case studies highlight current efforts to ensure safe operation of BESS and showcase potential pathways for adoption of relevant codes and standards. Specifically, this report is intended to support the Thailand Office of Energy Regulatory Commission (OERC) and other stakeholders in their efforts to develop technical codes and standards to govern the installation and operation of BESS; it may also be utilized as a guide for other countries as interest in the deployment of BESS technologies continues to grow. Coupled with well-defined regulatory objectives, market incentives, permitting procedures, and technical review processes, the adoption of technical codes and standards that govern the design, construction, installation, and operation of BESS can help provide regulatory certainty, as well as reduce barriers to investment. Such codes and standards also ensure BESS deployment will meet national, regional, and local goals, while maintaining a reliable grid, and ensuring public safety.

Finally, a robust BESS market can support the increased adoption of variable renewable energy generation technologies to meet Thailand’s energy portfolio goals. This report has been prepared by the National Renewable Energy Laboratory (NREL) with support from the U.S. Agency for International Development (USAID) Regional Development Mission for Asia, and in collaboration with USAID Clean Power Asia.

Download full report https://www.nrel.gov/docs/fy21osti/78780.pdf

Analysis: Vietnam’s leadership flex shows how to drive electricity reform

Air Conditioning Wasn’t Invented to Provide Comfort to Human Beings

ieee.org

Its original purpose was to enable factory processes, but now an ever-larger part of the world’s hottest regions is adopting it

Air conditioning was devised not for comfort but for industry, specifically to control temperature and humidity in a color printing factory in Brooklyn. The process required feeding paper into the presses a number of times, once for each of the component colors, and the slightest misalignment caused by changes in humidity produced defective copies that had to be thrown away. Tiếp tục đọc “Air Conditioning Wasn’t Invented to Provide Comfort to Human Beings”

Southern California Edison Contracts Huge Storage Portfolio to Replace Gas Plants

Greentechmedia.com

The California utility’s 770-megawatt battery storage procurement, among the largest ever seen, faces a tough deadline in August 2021.

NextEra Energy will build three large solar-backed storage systems for Southern California Edison.

NextEra Energy will build three large solar-backed storage systems for Southern California Edison.

Góp ý và bình luận về quyết định của TTCP cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời tại Việt Nam 13/2020/QD-TTg

Thủ tướng Chính phủ VN vừa ra Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg ngày 6/4/2020 về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời tại Việt Nam. Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 22/5/2020. (Xem Toàn văn quyết định)

Quyết định là một dấu hiệu tích cực thể hiện cam kết của Việt Nam để cung cấp những tín hiệu rõ ràng hơn về chính sách cho thị trường điện mặt trời, đặc biệt liên quan đến điện mặt trời áp mái, và công nhận khái niệm mua bán điện từ mái nhà tư nhân.

Tuy nhiên, mốc thời hạn của quyết định cho FIT2 đến cuối năm 2020 chỉ còn 9 tháng, có nghĩa là sẽ vẫn tồn tại đáng kể những điểm chưa rõ ràng, điều này sẽ cản trở các quyết định đầu tư. Sự chưa rõ ràng về mốc thời gian này rất nhiều nguy cơ có thể trở nên càng bất ổn hơn trước những thách thức liên quan đến dịch bệnh COVID. Những quyết định và quy định hướng dẫn sau quyết định này nên làm rõ về lộ trình chắc chắn hơn trong cơ chế cho giá FIT và các cơ chế khuyến khích khác để thúc đẩy các quyết định đầu tư vào điện mặt trời,dể phát triển tiềm năng  lớn của điện mặt trời tại Việt Nam Tiếp tục đọc “Góp ý và bình luận về quyết định của TTCP cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời tại Việt Nam 13/2020/QD-TTg”

Hydrogen and decarbonisation of gas: false dawn or silver bullet?

This Insight continues the OIES series considering the future of gas. The clear message from previous papers is that on the (increasingly certain) assumption that governments in major European gas markets remain committed to decarbonisation targets, the existing natural gas industry is under threat. It is therefore important to develop a decarbonisation narrative leading to a low- or zero-carbon gas implementation plan.

Previous papers have considered potential pathways for gas to decarbonise, specifically considering biogas and biomethane , and power-to-gas (electrolysis) . This paper goes on to consider the potential for production, transport and use of hydrogen in the decarbonising energy system. Previous papers predominately focused on Europe, which has been leading the way in decarbonisation. Hydrogen is now being considered more widely in various countries around the world, so this paper reflects that wider geographical coverage. Tiếp tục đọc “Hydrogen and decarbonisation of gas: false dawn or silver bullet?”

Điện mặt trời Nam Ngum có thể thay thế Thủy điện trên dòng Mekong ở Lào?

Phạm Phan Long P.E  Viet Ecology Foundation

Dòng sông Lan Thương–Mekong đang bị tàn phá bởi hàng trăm dự án thủy điện trên dòng chính và các phụ lưu của nó từ cao nguyên Tây Tạng ở Trung Quốc tới hạ lưu sông Sê san ở Campuchia. Riêng trên dòng chính Mekong, Chính phủ Lào đóng vai trò chính trong việc xây dựng những dự án này và thậm chí đang có kế hoạch xây thêm. Nhưng tại sao nước này lại chỉ tập trung vào các nhà máy thủy điện (hydroelectric power plants – HPPs)? Còn những nguồn năng lượng tái tạo khác thì sao? Liệu điện mặt trời Nam Ngum có thể thay thế thủy điện trên dòng Mekong ở đất nước này?

Ngày 01 tháng 11 năm 2019
Kỹ sư Phạm Phan Long, Quỹ Sinh thái Việt (Viet Ecology Foundation)

Biên dịch: Giải pháp vì Môi trường


Hình 1. Sự nở rộ các nhà máy thủy điện trên lưu vực sông Lan Thương – Mekong

Tôi đã thực hiện một nghiên cứu khả thi đơn giản về kinh tế – kỹ thuật để trả lời câu hỏi quan trọng ở trên, và kết quả là có, hoàn toàn có thể. Một trang trại điện mặt trời nổi (floating solar-with-storage, FSS) với công suất thiết kế 11.400 MW là hoàn toàn khả thi về mặt kỹ thuật để sản xuất ra một lượng điện tương đương 15.000 GWh/năm và chi phí thấp hơn so với cả 3 dự án thủy điện hiện đang được lên kế hoạch xây dựng tại Lào – gồm Pak Lay, Pak Beng và Luang Prabang. Quy mô dự án FSS Nam Ngum là rất lớn nhưng có thể thực hiện trong 15 năm với công suất 760 MW/năm với sản lượng 1.000 GWh/năm.


Hình 1. Các dự án thủy điện của Lào trên dòng chính sông Mekong Tiếp tục đọc “Điện mặt trời Nam Ngum có thể thay thế Thủy điện trên dòng Mekong ở Lào?”

Greenhouse gas emissions of hydropower in the Mekong River Basin can exceed those of fossil fuel energy sources

alphagalileo

04 March 2018 Aalto University

Greenhouse gas emissions of hydropower in the Mekong River Basin can exceed those of fossil fuel energy sources

Hydropower is commonly considered as a clean energy source to fuel Southeast Asian economic growth. Recent study published in Environmental Research Letters finds that hydropower in the Mekong River Basin, largest river in Southeast Asia, might not always be climate friendly. The median greenhouse gas (GHG) emission of hydropower was estimated to be 26 kg CO2e/MWh over 100-year lifetime, which is within the range of other renewable energy sources (<190 kg CO2e/MWh). The variation between the individual hydropower projects was, however, large: nearly 20% of the hydropower reservoirs had higher emissions than other renewable energy sources and in several cases the emissions equalled those from fossil fuel energy sources (>380 kg CO2e/MWh). The study concludes that hydropower in the Mekong cannot be considered categorically as a clean energy source; instead, the emissions should be evaluated case-by-case together with other social and environmental impacts. Tiếp tục đọc “Greenhouse gas emissions of hydropower in the Mekong River Basin can exceed those of fossil fuel energy sources”

Funding coal in Southeast Asia is ‘collective suicide’

eco-business.com – Experts at the Unlocking capital for sustainability forum observed that the finance sector, hampered by a short-term approach to investing, is lagging on sustainability, and that the financing of coal should be phased out as soon as possible.

An ninh năng lượng và những giải pháp tiềm năng

22:55 | 04/11/2017

Tốc độ gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế trên thế giới dẫn đến nhu cầu năng lượng ngày càng cao.

Năng lượng – Mối quan tâm lớn

Theo thống kê của Tập đoàn dầu khí Anh quốc (BP), nhu cầu năng lượng trên thế giới tăng đều khoảng 1% năm trong 3 năm 2014-2016. Với tốc độ tiêu thụ này, đến năm 2040, nhu cầu năng lượng thế giới sẽ tăng 38%. Theo dự báo của Cơ Quan quản lý thông tin năng lượng của Mỹ (EIA), nhu cầu năng lượng thế giới có thể tăng đến 48% đến năm 2040.

Nguồn năng lượng hiện nay có được từ hai nguồn: Không tái tạo (nguồn carbon hóa thạch ví dụ như dầu, khí, than đá, năng lượng nguyên tử) và năng lượng tái tạo (năng lượng mặt trời, gió, khí sinh học, địa nhiệt, thủy điện nhỏ…). Tuy vậy nguồn năng lượng từ carbon hóa thạch có hạn, chỉ đủ để cung cấp cho chúng ta trong vòng 51 năm với tốc độ tiêu thụ năng lượng như hiện nay. Tiếp tục đọc “An ninh năng lượng và những giải pháp tiềm năng”

Di dân, tị nạn do biến đổi khí hậu có thể lên tới 1 tỉ người đến năm 2050

English: Climate Migrants Might Reach One Billion by 2050

Rome, 21 Tháng 8 2017 (IPS) – Hãy tưởng tượng thế giới có nhiều đến 1 tỉ người đối mặt với ảnh hưởng khắc nghiệt do hậu quả của biến đổi khí hậu, dẫn đến tình trạng hạn hán và/hoặc lũ lụt trầm trọng; thời tiết khắc nghiệt; tài nguyên thiên nhiên bị hủy diệt, đặc biệt là các vùng đất, đất trồng và nước; hệ quả từ điều kiện sống khắc nghiệt, thiếu ăn và nạn đói.

Mặc dù vẫn chưa có cơ sở từ các dự án nghiên cứu khoa học, nhưng tốc độ xảy ra quá trình biến đổi khí hậu đã được chứng minh có thể đưa tới viễn cảnh năm 2050, khi mà cứ 9 người sẽ có 1 người bị ảnh hưởng bởi quá trình này.

Gần đây, các dự báo giao động từ 25 triệu đến 1 tỷ người di cư vì môi trường đến năm 2050, di dân hoặc trong nước hoặc qua biên giới, vì những nhu cầu cơ bản thường trực hay tạm thời.  với 200 triệu người là ước tính được sử dụng nhiều nhất , thông tin từ Viện Môi trường và An ninh con người Đại học Liên Hợp Quốc (Institute for Environment and Human Security of the United Nations University).
Tiếp tục đọc “Di dân, tị nạn do biến đổi khí hậu có thể lên tới 1 tỉ người đến năm 2050”

Lưới điện thông minh là gì?

English: What is smart grid? 

Có thể bạn đã từng nghe nói về Smart Grid trên tin tức hoặc từ nhà cung cấp năng lượng. Nhưng không phải mọi người đều biết lưới điện là gì, chưa nói đến “ lưới điện thông minh”. Lưới ở đây là một mạng lưới điện, một mạng lưới các đường truyền, trạm biến áp, máy biến áp và nhiều thiết bị chuyển tải điện từ nhà máy điện đến nhà hoặc cơ sở kinh doanh. Đó là những gì chúng ta lấy được bằng cách cắm điện khi bật công tắc đèn hoặc bật máy tính. Lưới điện hiện tại của Mỹ được xây dựng vào những năm 1890 và được cải tiến bởi công nghệ tiên tiến qua từng thập kỷ. Ngày nay, lưới điện gồm hơn 9.200 đơn vị phát điện với hơn 1 triệu MW tạo ra công suất kết nối hơn 300.000 miles dây tải điện. Mặc dù lưới điện được coi là một điều kỳ diệu của nền kỹ thuật hiện đại, chúng ta đang trải dài bản chất chấp vá của lưới điện trong công suất của nó. Để tiến lên phía trước, chúng ta cần một loại lưới điện mới, được xây dựng từ những điểm tiêu thụ cuối để xử lý sự tăng lên đột biến của thiết bị kỹ thuật số, thiết bị máy tính và công nghệ phụ thuộc vào lưới điện – và một lưới điện có thể tự động hoá và quản lý sự phức tạp và nhu cầu điện ngày càng tăng trong thế kỷ 21.

Điều gì làm nên một lưới điện “thông minh? Tiếp tục đọc “Lưới điện thông minh là gì?”