Thanh thiếu niên dân tộc thiểu số và những rủi ro liênquan đến mua bán người trên mạng xã hội

Nghiên cứu tại Hà Giang, Điện Biên và Lào Cai

Nghiên cứu “Thanh thiếu niên dân tộc thiểu số và những rủi ro liên quan đến mua
bán người trên mạng xã hội” được thực hiện bởi Viện iSEE, Blue Dragon với sự hỗ
trợ tài chính và kỹ thuật của SecDev vào đầu năm 2021 tại Điện Biên, Hà Giang
(hiện là địa bàn hoạt động của Blue Dragon) và Lào Cai (chưa có hoạt động của
Blue Dragon), với mục tiêu tìm hiểu về thực trạng sử dụng Mạng Xã Hội và các
dịch vụ Internet của thanh thiếu niên Dân tộc Thiểu số cũng như những rủi ro
họ gặp phải liên quan đến nạn mua bán người hiện nay, từ đó đưa ra khuyến nghị
thiết thực cho các thông điệp và can thiệp truyền thông.
Nghiên cứu này được thiết kế kết hợp giữa một điều tra định lượng với 624 học
sinh và thanh thiểu niên DTTS tại Hà Giang và Điện Biên (bao gồm 40.9% dân
tộc Mông, 39.6% dân tộc Thái, còn lại gồm các dân tộc Khơ Mú, Dao, Tày, Giáy,
vv..), và một nghiên cứu định tính dựa trên 14 TLN và 34 PVS trực tiếp với thanh
thiếu niên, học sinh, giáo viên tại ba địa bàn nghiên cứu và cán bộ chương trình
của Blue Dragon.

Tải báo cáo tại đây https://www.isee.org.vn/thu-vien/nghien-cuu-thanh-thieu-nien-dan-toc-thieu-so

Đồng hành phát triển: Bài học từ hành trình hơn một thập kỷ làm viẹc cùng các cộng đồng dân tộc thiểu số tại Việt Nam

Xem báo cáo tại đây

Hơn 10 năm làm chương trình Dân tộc thiểu số của viện iSEE là 10 năm của học hỏi và bồi đắp thêm tri thức về phát triển. Những lý thuyết, những phương pháp tiếp cận chúng tôi viết trong tài liệu này là những kết quả của quá trình phản tư và học liên tục để lựa chọn chứ không phải là thứ được chọn ngay tại thời điểm khai sinh của chương trình năm 2008. Trong cả tiến trình ấy, điểm neo chúng tôi lại để chất vấn, phản tư, và học hỏi là những giá trị của iSEE – Tự do, Bình đẳng, Khoan dung – và tầm nhìn về vấn đề mà iSEE muốn thay đổi, là vẻ đẹp trong cách nghĩ, cách sống của các thành viên nhóm Tiên phong và cộng đồng của các anh chị tại địa phương.

Trên chặng đường hoạt động và xây dựng chương trình Dân tộc thiểu số, chúng tôi đi lên từ những nghiên cứu
dưới góc tiếp cận nhân học, lấy trải nghiệm và hoạt động của cộng đồng các tộc người thiểu số làm trung tâm.
Trong quá trình này, chúng tôi đã nhìn thấy chính mình trong những phê phán về tư duy phát triển của số đông.
Chúng tôi dần tích lũy tri thức và thấu hiểu hơn những trở ngại mang tính hệ thống đối với các nhóm dân tộc
thiểu số. Một trong những trở ngại lớn nhất là sự chấp nhận một cách thiếu phê phán trên diện rộng đối với tư
duy tiến hoá luận, lối suy nghĩ cho rằng họ luôn mặc nhiên ở nấc thang phát triển thấp hơn so với người Kinh. Với
niềm tin mạnh mẽ vào tính chủ thể và năng lực văn hoá của cộng đồng, và nhất là những thay đổi do chính cộng
đồng tạo ra, trong hơn một thập kỷ qua, chúng tôi đã có cơ hội đồng hành và trải nghiệm hành trình Tự hào – Tự
tin- Tự chủ với cộng đồng các dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam. Mục tiêu của chúng tôi là cùng với họ bồi
đắp khát vọng tạo dựng một tương lai chung, nơi câu chuyện của cộng đồng các dân tộc thiểu số được chia sẻ,
lắng nghe, thấu hiểu, và trở thành một nguồn cảm hứng cho suy tư về bình đẳng và phát triển. Hành trình này
của chúng tôi đi qua rất nhiều thách thức, với nhiều hoài nghi từ bên ngoài cũng như sự phản tư từ chính những
người xây dựng và tham gia. Đó cũng là tiến trình tất yếu để thử thách và củng cố niềm tin vào sức mạnh của cộng
đồng, cũng chính là triết lý phát triển mà chúng tôi đã và đang theo đuổi.


Tài liệu này là một phần trong nỗ lực tái hiện và chia sẻ rộng rãi triết lý phát triển ấy. Với cấu trúc
4 phần có liên hệ chặt chẽ và phản ánh lẫn nhau, chúng tôi bắt đầu với phần Đặt vấn đề lý giải những băn khoăn
và lựa chọn vào thời điểm bắt đầu, tiếp đến giới thiệu các Lý thuyết nền tảng mà chúng tôi đã may mắn được
tiếp cận và học hỏi. Phần 3 minh họa các Chiến lược và hành động mà Viện iSEE đã vận dụng các lý thuyết trong
triển khai thực tế cùng với cộng đồng. Cuối cùng, phần 4 tổng kết những Bài học kinh nghiệm chúng tôi tự đúc
kết sau chặng đường hơn một thập kỷ.


Chúng tôi vô cùng biết ơn các nhà nghiên cứu TS. Phạm Quỳnh Phương, TS. Hoàng Cầm, TS. Nguyễn Thu Giang
đã truyền cảm hứng và giúp chúng tôi tiếp cận với các lý thuyết từ những ngày đầu tiên. Chúng tôi trân trọng
sự ủng hộ và hợp tác của các tổ chức đối tác như Đại sứ quán Ireland, Đại sứ quán Canada, Đại sứ quán Hà Lan,
Ủy ban Dân tộc, Tổ chức CCFD Terre-Solidaire, Tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam, Tổ chức Oxfam tại Việt Nam,
Tổ chức Plan International Việt Nam, Trung tâm xây dựng năng lực cộng đồng CECEM v.v. Chúng tôi chân thành
cảm ơn các đồng nghiệp và các tư vấn đã đặt nền móng, cùng xây dựng và chia sẻ trong suốt những năm qua.
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đặc biệt nhất tới các thành viên Mạng lưới Tiên Phong vì tiếng nói của người dân
tộc thiểu số đã tin tưởng và đồng hành với chúng tôi trên hành trình học hỏi và hiện thực hóa niềm tin của mình.
Trong quá trình hoàn thành tài liệu này, chúng tôi được tham vấn và hỗ trợ rất nhiều từ các chuyên gia và các
thế hệ lãnh đạo iSEE – ThS. Lê Quang Bình, Th.S Lương Minh Ngọc và Th.S Lương Thế Huy. Chúng tôi cũng nhận
được sự hỗ trợ nhiệt tình của TS. Nguyễn Thu Giang trong vai trò hiệu đính.


Chúng tôi hy vọng độc giả sẽ tìm được những kiến thức và kinh nghiệm bổ ích qua những chia sẻ của mình,
và hơn thế nữa, có thêm động lực để tiếp tục tìm tòi và khám phá những cách làm mới để tạo ra sự phát triển
có ý nghĩa.

African leaders take bold stand for sustainable development at UN Assembly

UN.org

A view of the flags outside the General Assembly building during the general debate.

UN Photo/Rick Bajornas

A view of the flags outside the General Assembly building during the general debate.

UN Affairs

Addressing the UN General Assembly on Wednesday, leaders from African nations voiced their commitment to achieving sustainable development and called for a more equitable and prosperous world.

A recurring theme in speeches delivered by the Presidents of Seychelles, Namibia, Ghana, Angola, Sierra Leone and Liberia was the urgent need to rebuild trust and rekindle global solidarity in the face of complex changes.

Tiếp tục đọc “African leaders take bold stand for sustainable development at UN Assembly”

Một số nội dung và giá trị cơ bản về quyền con người trong “Quốc Triều Hình Luật” – Luật Hồng Đức

phapluatdansu.edu.vn Tạp chí Triết học số 7 (194) năm 2007

NGUYỄN THANH BÌNH – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Quốc triều hình luật (hay còn gọi là Lê triều hình luật) được xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh trong các triều đại phong kiến Việt Nam thời Lê sơ. Bộ luật này được vua Lê Thánh Tông ban hành vào năm 1483  trong thời gian ông lấy niên hiệu là Hồng Đức (1470-1497), nên trong dân gian và trong sử sách vẫn thường gọi bộ luật này là Luật Hồng Đức(1).

Tất nhiên, cho đến nay, vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau về thời điểm khởi thảo và thời điểm hoàn chỉnh bộ luật này. Trong thiên Hình luật chí (sách Lịch triều hiến chương loại chí), Phan Huy Chú cũng như dựa trên nhiều nguồn tư liệu khác và theo quan điểm chung của nhiều nhà nghiên cứu thì bộ luật này được xây dựng trên cơ sở sưu tập tất cả các điều luật, các văn bản pháp luật đã ban bố và thi hành trong các đời vua trước đây, được sửa chữa, bổ sung và san định lại cho hoàn chỉnh(2). Song, trong Lời nói đầu của cuốn Quốc triều hình luật do Viện Sử học Việt Nam dịch và giới thiệu thì bộ luật trên có thể được soạn thảo ngay năm đầu của triều Lê sơ (Lê Thái Tổ) và “không ngừng được các triều vua kế tiếp bổ sung, hoàn chỉnh dần, trong đó chắc chắn là có những đóng góp to lớn của ông vua nổi tiếng văn hiến Lê Thánh Tông”(3). Có thể khẳng định rằng, Luật Hồng Đức là bộ luật tiến bộ nhất, hoàn chỉnh nhất trong các bộ luật ở Việt Nam thời phong kiến; là thành tựu có giá trị đặc biệt trong lịch sử pháp luật Việt Nam; là một trong những thành tựu tiêu biểu của nền văn hiến nước ta. Bộ luật ấy chứa đựng nhiều giá trị nhân văn sâu sắc và nội dung tư tưởng rộng lớn, là cơ sở nền tảng trong việc xây dựng nhà nước phong kiến thịnh trị thời Lê sơ.

Tiếp tục đọc “Một số nội dung và giá trị cơ bản về quyền con người trong “Quốc Triều Hình Luật” – Luật Hồng Đức”

Thân phận người phụ nữ trong bộ luật Hồng Đức thời hậu Lê

 danviet.vn Thứ ba, ngày 15/06/2021 22:56 PM (GMT+7)

Với Bộ luật Hồng Đức, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, người phụ nữ được pháp luật quy định một loại quyền đặc biệt…

Bộ luật Hồng Đức là 1 trong 4 bộ tổng luật thành văn trong lịch sử lập pháp Việt Nam (cùng với bộ Hình thư thời Lý, bộ Quốc triều thông chế thời Trần và bộ Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn). Bộ luật Hồng Đức là sản phẩm của việc pháp điển hóa pháp luật thời Lê sơ, hiệu lực của nó không chỉ duy trì trong hơn 300 năm thời Hậu Lê; mà kể cả thời Nguyễn sau này hay hệ thống pháp luật Việt Nam hiện đại cũng đã kế thừa nhiều thành tựu lập pháp trong bộ luật Hồng Đức.

Thân phận người phụ nữ trong bộ luật Hồng Đức thời hậu Lê - Ảnh 1.
Hai người phụ nữ thời Lê trong Hoàng Thanh chức cống đồ.

Bộ luật Hồng Đức bao gồm 722 điều, chia thành 13 chương; nhưng không phải tất cả các điều luật này đều được ban hành trong thời kì Hồng Đức (1470-1497). Ví dụ, điều 388 bộ luật Hồng Đức được ban hành vào năm Quang Thuận thứ 2 (1461); điều 389 bộ luật Hồng Đức được ban hành vào năm Hồng Thuận thứ 3 (1511), điều 391 bộ luật Hồng Đức được ban hành vào năm Quang Thiệu thứ 2 (1517)…

Tiếp tục đọc “Thân phận người phụ nữ trong bộ luật Hồng Đức thời hậu Lê”

Net Zero Roadmap: A Global Pathway to Keep the 1.5 °C Goal in Reach

The path to limiting global warming to 1.5 °C has narrowed, but clean energy growth is keeping it open

IEA full report

Some key takeaways:

  • Record growth in solar power capacity and electric car sales are in line with a pathway towards net zero emissions globally by mid-century, as are industry plans for the roll-out of new manufacturing capacity for them. This is significant, since those two technologies alone deliver one-third of the emissions reductions between today and 2030 in the pathway.
  • Clean energy innovation has also been delivering more options and lowering technology costs. In the IEA’s original Roadmap in 2021, technologies not yet available on the market delivered nearly half of the emissions reductions needed for net zero in 2050. That number has now fallen to around 35% in this year’s update.
  • Tiếp tục đọc “Net Zero Roadmap: A Global Pathway to Keep the 1.5 °C Goal in Reach”

Singapore energy appetite fuels ASEAN’s renewable power grid

asia.nikkei.com

Network taps Laos hydropower, solar and wind energy from Indonesia and Vietnam

Wind farms in southern Vietnam have the potential to generate 600 gigawatts of power, according to one estimate. (Photo obtained by Nikkei)

YUJI NITTA, Nikkei staff writerSeptember 20, 2023 06:02 JST

HANOI — A web of international renewable energy deals is spreading across Southeast Asia as the region works to transition away from fossil fuels, with electricity-hungry Singapore as a driving force.

The city-state, where natural gas makes up around 95% of the energy mix, aims to import 4 gigawatts of low-carbon electricity by 2035, equivalent to 30% of its supply. This ambitious plan, in turn, is creating an opportunity for neighboring nations that are expanding power generation from renewable sources.

Imports kicked off in 2022 with the start of hydropower transmission from Laos via Thailand and Malaysia, totaling 100 megawatts over two years. Regulators have approved plans to bring in 2 GW from five solar projects in Indonesia, and the country will also buy power from a floating solar farm off Indonesia’s coast.

Tiếp tục đọc “Singapore energy appetite fuels ASEAN’s renewable power grid”

What impact is Brexit having on the UK economy?

The UK’s trade has dropped in recent years, the pound has fallen considerably against the dollar and business investment is yet to return to its peak in 2016. While these factors are predicted to be a result of Brexit, ministers have blamed international issues.

The UK’s recent disastrous “mini” Budget can trace its origins back to Britain’s decision to leave the European Union. The economic costs of Brexit were masked by the Covid-19 pandemic and the crisis in Ukraine. But six years after the UK voted to leave, the effect has become clear. In this film, senior FT writers and British businesspeople examine how Brexit hit the UK economy, the political conspiracy of silence, and why there has not yet been a convincing case for a ‘Brexit dividend’.

We Can Heal War’s Traumas; U.S. and Vietnam Show How

US Institute of Peace 50 years after a peace accord that wasn’t, one-time enemies salve a long war’s wounds.

Wednesday, March 1, 2023 / BY: USIP Staff PUBLICATION TYPE: Analysis and Commentary

This winter marks 50 years since U.S. and Vietnamese diplomats in Paris ceremoniously signed “peace accords” that did not end the Vietnam War, but that achieved America’s withdrawal from it. Thus, the accords permitted, a half-century later, what is now a durable American-Vietnamese reconciliation. In the face of seemingly intractable wars — in Ukraine, Afghanistan, the eastern Congo basin, Yemen or elsewhere — the growing U.S.-Vietnamese relationship shows that even a peace that seems impossible today can indeed be built for our children.

U.S. troops guard North Vietnamese prisoners in 1965, early in the Vietnam War. U.S. and Vietnamese veterans have led reconciliation work in decades since, notably in searching for remains of those killed in the war. (Neil Sheehan/The New York Times)
U.S. troops guard North Vietnamese prisoners in 1965, early in the Vietnam War. U.S. and Vietnamese veterans have led reconciliation work in decades since, notably in searching for remains of those killed in the war. (Neil Sheehan/The New York Times)
Tiếp tục đọc “We Can Heal War’s Traumas; U.S. and Vietnam Show How”

“Spy” Virus Eavesdrops on Bacteria, Then Obliterates Them

scienctificamerican.com By Angus Chen on December 14, 2018

Viruses use bacteria’s chemical language to time their destruction; this might lead to new ways to fight infections 

"Spy" Virus Eavesdrops on Bacteria, Then Obliterates Them
Bacteriophage virus electron microscopy image. Credit: Getty Images

In the early experiments it looked like the virus called VP882 was doing something that should be impossible for a thing that is not a bacterium, and not technically even alive: intercepting molecular messages exchanged by its host bacteria, and reading them to determine the best time to annihilate the whole bacterial colony. “As scientists, this is just unimaginable to us,” says Bonnie Bassler, a molecular biologist at Princeton University. “We were delighted and skeptical at the same time. It was almost too good to be true.”

Not only did it turn out to be true for VP882; Bassler learned there is a family of bacteria-infecting viruses (a subgroup of a kind called bacteriophages, or just “phages”) that eavesdrop on their hosts’ routine molecular communications with other bacteria. That means VP882’s kill trigger could be easily manipulated to target any bacteria, Bassler says—opening the possibility that the virus could be engineered into an ideal killing machine for dangerous pathogens.

Tiếp tục đọc ““Spy” Virus Eavesdrops on Bacteria, Then Obliterates Them”

Từ một lời hẹn đến chương trình Treebank Đắk Lắk 2023

 ĐẮK LẮK HỘI TỪ TÂM

Chương trình TreeBank Đắk Lắk 2023 do Hội Từ Tâm Đắk Lắk tiếp tục triển khai sẽ diễn ra trong mùa mưa năm 2023, với sự hỗ trợ của Viện nghiên cứu truyền thông và phát triển- RED.

Mối liên kết và tiếp sức này sẽ giúp Hội Từ Tâm Đắk Lắk tiếp tục phát huy thành quả TreeBank năm trước: Chỉ trong tháng 9/2022 Hội Từ Tâm Đắk Lắk đã trao tặng được 11.300 cây ăn quả và bóng mát, phối hợp chính quyền 9 xã phía Nam tỉnh, thuộc 2 huyện Lắk và huyện Krông Bông, trao tặng cây đúng đối tượng, hỗ trợ vật tư và kỹ thuật chăm sóc, góp phần hỗ trợ sinh kế cho dân nghèo, chung tay phủ xanh Trái Đất.

https://red.org.vn/chuyen-muc/ve-red/gioi-thieu/

Sáng kiến ​​” Treebank- Vườn ở khắp nơi” là một trong nhiều hoạt động của dự án CFLI “Giảm thiểu biến đổi khí hậu bằng cách phục hồi đất có rừng ở Việt Nam thông qua mô hình Ngân hàng Cây”; Thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong công tác xã hội và khuyến khích các sáng kiến ​​dựa vào cộng đồng trong phát triển bền vững” do Quỹ Canada dành cho các sáng kiến địa phương tài trợ và Tổ chức RED Communication thực hiện.

Còn nhớ, vào chiều thứ Sáu ngày 25/02/2022, buổi gặp gỡ ra mắt chương trình TreeBank đầu tiên tại Việt Nam đã diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh, với sự tham dự đông đảo của các khách mời đến từ các Cơ quan Báo chí, Doanh nghiệp, Marketer, Tổ chức xã hội, Chủ vườn rừng đến từ khắp nơi… Phát triển từ sáng kiến “Vườn ở khắp nơi” của chị Phan Diệu Linh, với sự hỗ trợ của Quỹ Sáng kiến Cộng đồng Canada (CFLI), thuộc Đại sứ quán Canada tại Việt Nam, TreeBank được tạo ra nhằm góp phần phục hồi đất rừng ở Việt Nam, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu, tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động xã hội nhằm đạt được các mục tiêu phát triển bền vững.

Tiếp tục đọc “Từ một lời hẹn đến chương trình Treebank Đắk Lắk 2023”

Sáng kiến Doanh nghiệp và Tổ chức xã hội hợp tác trồng cây giảm thiểu carbon

kinhtemoitruong.vn

Chiều ngày 25/04/2023 tại TP. HCM, Viện Nghiên cứu Truyền thông phát triển (RED Communication) đã tổ chức buổi Toạ đàm đa bên Tạo giá trị chung (CSV Talk) với chủ đề “Doanh nghiệp và Tổ chức xã hội hợp tác trồng cây giảm thiểu carbon”.

Đây là sự kiện thứ 4 của chuỗi CSV Talk hướng tới thúc đẩy các hoạt động, sáng kiến CSR – CSV (trách nhiệm xã hội doanh nghiệp – tạo giá trị chung), nằm trong khuôn khổ dự án “Win – Win for Vietnam” do RED phối hợp với ProNGO! e. V. (Đức) tổ chức,  Liên minh châu Âu đồng tài trợ.

Sáng kiến Doanh nghiệp và Tổ chức xã hội hợp tác trồng cây giảm thiểu carbon - Ảnh 1
Toàn cảnh buổi CSV Talk 04 với sự tham gia của doanh nghiệp và tổ chức xã hội

CSV Talk 04 có sự tham gia của hơn 30 người tham dự đến từ các tổ chức xã hội và doanh nghiệp lớn nhỏ có quan tâm đến các vấn đề phát triển bền vững và tạo giá trị chung, đặc biệt trong lĩnh vực giảm thiểu carbon. Bên cạnh sáng kiến khởi xướng bởi RED, đại diện 2 doanh nghiệp SBBE và CAS-Energy có phiên chia sẻ về các dự án trồng cây giảm thiểu carbon, cùng với phần chia sẻ cá nhân lần lượt của người tham dự.

Tiếp tục đọc “Sáng kiến Doanh nghiệp và Tổ chức xã hội hợp tác trồng cây giảm thiểu carbon”

Bối cảnh thực thi Quyền của Người khuyết tật ở Việt Nam

UNDP.org

“Cho đến nay, mặc dù chính phủ đã đạt được một số thành tựu phát triển nhất định, sự bất bình đẳng
và phân biệt đối xử vẫn là những rào cản lớn đối với việc thực hiện các quyền của NKT. Báo cáo này
cho thấy kỳ thị và phân biệt đối xử từ phía các cơ quan Nhà nước, xã hội, gia đình và của chính NKT
ảnh hưởng đến tất cả các khía cạnh của cuộc sống của NKT. Theo đó, các quy định về pháp luật về
kỳ thị, phân biệt đối xử cũng cần được tăng cường, bởi hiện nay các quy định của pháp luật mới dừng
ở việc đưa ra khái niệm về phân biệt đối xử trực tiếp mà chưa đề cập đến các điều chỉnh hợp lý, hầu
như chưa nhắc đến việc phân biệt đối xử gián tiếp, phân biệt đối xử của tổ chức, và thiếu các chế tài
và cơ chế giải quyết khiếu nại hiệu quả.”

Báo cáo Phân tích Bối cảnh thực thi Quyền của NKT ở Việt Nam cho thấy Việt Nam đang sẵn sàng điều phối các nguồn lực đang tăng lên, quá trình số hóa, cũng như khả năng chuyên môn của tất cả các bên liên quan, để hiện thực hóa tầm nhìn với các tham vọng lớn về NKT. Chính phủ Việt Nam cam kết rõ ràng về công tác hòa nhập khuyết tật trong nỗ lực đạt được Chương trình nghị sự 2030 và các MTPTBV. Khung quốc gia bước đầu đã được đưa ra và đang trong quá trình hoàn thiện. Nhiều cơ hội trong các lĩnh vực cải cách pháp luật, nâng cao nhận thức, nâng cao năng lực, lập kế hoạch và thực hiện để khắc phục những khó khăn hiện có. Trọng tâm chung được đặt vào công tác điều phối, tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Điều này đồng nghĩa với việc các bên liên quan bao gồm đại diện chính phủ ở tất cả các cấp, NKT, các tổ chức của và vì NKT, khối tư nhân, các tổ chức của Liên hợp quốc và các đối tác phát triển khác sẽ có vị thế phù hợp trong hợp tác và cải thiện cuộc sống của tất cả các NKT trên toàn quốc.

Báo cáo phân tích bối cảnh này được các tổ chức của Liên hợp quốc (LHQ) tại Việt Nam thực hiện dưới sự điều phối của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và sự đóng góp kỹ thuật của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) trong mối quan hệ đối tác chặt chẽ với các cơ quan chính phủ và các tổ chức của và vì NKT. Báo cáo cho thấy bề rộng của các vấn đề cần được giải quyết để đảm bảo NKT không bị bỏ lại phía sau và tiềm năng của họ được hỗ trợ để phát huy tối đa. Dựa trên nghiên cứu chuyên sâu và các hội thảo tham vấn, những khuyến nghị của báo cáo này sẽ nêu bật các lĩnh vực cần nghiên cứu thêm và các bước thực thi trong tương lai.

Xem báo cáo tại đây https://www.undp.org/vi/vietnam/publications/bao-cao-phan-tich-boi-canh-thuc-thi-quyen-cua-nguoi-khuyet-tat-o-viet-nam

Việt Nam có tỷ lệ người khuyết tật cao trên tổng dân số trong khu vực

vietnamplus.vn

Phần lớn người khuyết tật Việt Nam sống ở vùng nông thôn, có cuộc sống rất khó khăn, đặc biệt là người khuyết tật bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam/dioxin trong chiến tranh

Lễ kỷ niệm 30 năm Ngày Quốc tế về người khuyết tật (3/12). (Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN)

Lễ kỷ niệm 30 năm Ngày Quốc tế về người khuyết tật (3/12). (Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN)

Hiện nay Việt Nam có khoảng 7 triệu người khuyết tật, chiếm hơn 7,06% dân số từ 2 tuổi trở lên, trong đó người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng chiếm khoảng 28,9%, khoảng 10% người khuyết tật thuộc hộ nghèo. Số liệu này cho thấy, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ người khuyết tật khá cao so với tổng dân số trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Đây là thông tin được đưa ra tại lễ kỷ niệm 30 năm Ngày Quốc tế về người khuyết tật (3/12) và diễn đàn “Lắng nghe tiếng nói của người khuyết tật” do Ủy ban quốc gia về người khuyết tật Việt Nam, Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) và Hội Người khuyết tật thành phố Hà Nội phối hợp tổ chức hôm nay 1/12.

Tiếp tục đọc “Việt Nam có tỷ lệ người khuyết tật cao trên tổng dân số trong khu vực”

An analysis of legal framework for policy advocacy in Vietnam with reference to developed countries experiences

Abstract

This research clarifies the basic issues of public policy advocacy and the reason why legal framework for public policy advocacy is necessary. The thesis is also researching on the current state of public policy advocacy in the US, and France in terms of legal aspects of policy advocacy as well as giving general assessments of public policy advocacy in Vietnam. From that point the author will offer some suggestions for public policy advocacy in Vietnam.

Download here https://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/137210

Overview

Tiếp tục đọc “An analysis of legal framework for policy advocacy in Vietnam with reference to developed countries experiences”