Khi thấy những hoàn cảnh đáng thương, đặc biệt liên quan đến phụ nữ và trẻ em, trước khi trao tiền quyên góp, hãy tự hỏi mình có đang bị “kích dục thương hại” (“poverty porn”) hay không, rồi mới tự hỏi “Quỹ từ thiện vận hành bằng gì?”
Hoạt động từ thiện ở VN cần trở nên chuyên nghiệp, cả người cho tiền, lẫn tổ chức điều hành từ thiện, lẫn báo chí truyền thông. Quan trọng hơn, hoạt động từ thiện ở VN cần đặt nhân phẩm người nhận lên hàng đầu.
PTH
***
Những câu hỏi cho một cuộc “làm từ thiện”
ĐINH ĐỨC HOÀNG – 19/01/2026 10:16 GMT+7
TTCT – Một lệnh chuyển khoản không làm nên một cuộc từ thiện. Ở giữa đó là những câu hỏi mà chúng ta đang lảng tránh trả lời.
Năm 2014, chính trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần, chúng tôi giới thiệu khái niệm “poverty porn” – kích dục thương hại. Hơn một thập kỷ sau, bất chấp các thảo luận liên tục về cách làm từ thiện trong xã hội, vẫn có nhiều nhà hảo tâm trao tiền quyên góp chỉ dựa trên hình ảnh những đứa trẻ/hoàn cảnh đáng thương. Và rồi sau đó họ vẫn phải tự nuôi hoài nghi: số tiền đó đã được sử dụng như thế nào?
Trong cuộc thảo luận lớn về từ thiện hôm nay, có một thế lưỡng nan ẩn náu: để trả lời câu hỏi “các em nhỏ miền núi ăn gì”, ta không thể tránh được câu hỏi “cán bộ quỹ từ thiện ăn gì”?
Cảm tính cũng cần thực địa
Một quỹ học bổng đại học đang vận hành dựa trên một tiền đề nghịch lý: nguồn lực của họ sẽ không bao giờ đáp ứng được hết nhu cầu từ cộng đồng. Đại học là một bài toán tài chính lớn. Sẽ có hàng trăm, hàng nghìn lá đơn xin học từ những cô cậu tú tài nghèo trên khắp đất nước gửi về quỹ mỗi mùa. Nhưng quỹ chỉ có thể cung cấp tài chính cho khoảng 50 hoặc 70 bạn mỗi khóa – tức là cùng lúc “nuôi” hơn 200 sinh viên, một con số lớn.
Họ buộc phải có một bộ lọc. Nó căn cứ vào hai yếu tố, đều tương đối định tính: hoàn cảnh gia đình và quyết tâm theo đuổi việc học của các em.
“Hoàn cảnh gia đình” cũng là một yếu tố định tính, vì các “chuẩn nghèo” dựa vào con số không thể lọc hết nổi những số phận éo le trên đất nước này. Họ nhận đơn từ những mái nhà nghèo nhất nước, từ những đứa trẻ mồ côi, từ những gia đình thuần nông hoàn toàn không có thu nhập tiền mặt. Vốn của các gia đình này thường xuyên là con số âm – gồm cả nợ nần.
Sau khi lọc hoàn cảnh gia đình, họ phải xem xét quyết tâm của các em – hay là “Niềm tin” cần thắp sáng như tên gọi của quỹ. Như vậy, với mô hình đặc thù của mình, quỹ phải thực hiện liên tục các chuyến đi hàng trăm cây số để điều tra định tính… một cá nhân.
Họ tìm đến những ngôi nhà ở sâu trong núi. Mỗi cán bộ phụ trách gần chục trường hợp ở vài tỉnh khác nhau, chia ra đi trong vài ngày. Họ đi những cung đường quanh co, lầy lội và sạt lở. “Đôi khi tôi cảm giác hoảng sợ”, một cán bộ quỹ viết về một hành trình năm 2022. Anh kể về một học sinh ở Hà Quảng, Cao Bằng mà để vào đến nhà em, cách đường bê tông 30 cây số, phải lội đường đất một giờ. “Cả căn nhà chỉ có cái tivi đã hỏng, bóng điện lúc có lúc không, gia đình ba thế hệ nương tựa vào nhau nhưng không có một người đàn ông nào gánh vác, cả nhà mỗi tháng chỉ có 10 ký gạo. Đúng 10 ký gạo mà 5 người ăn trong vòng một tháng”.
Sau các ghi chép tỉ mỉ về hoàn cảnh, anh phỏng vấn cô bé đã nộp đơn. Dù đạt 24 điểm tuyển sinh, cả bà và mẹ đều không đồng ý cho em đi học đại học. Ngay cả khi cán bộ quỹ đến nơi, dù đứng trước cơ hội nhận học bổng, họ vẫn không đồng ý. “Nếu không được nhận học bổng thì em có tiếp tục cố gắng để học đại học dù gia đình không đồng ý không?”, họ hỏi cô bé. “Dù không nhận được học bổng, dù hôm nay các anh không lên em cũng sẽ quyết định đi học – cô bé vừa khóc vừa trả lời – Nếu gia đình không cho em sẽ trốn đi để học. Em có thể vừa học vừa làm để trang trải học phí”.
Anh đề xuất tặng học bổng cho cô bé vì thái độ đó. Họ quan sát những tờ giấy khen trên tường, hỏi về tình trạng bệnh tật của những người thân, ghi chép những câu nói của phụ huynh, của học sinh. Tiêu chí “Niềm tin” chỉ có thể xác minh qua cảm nhận, và bằng hàng nghìn cây số đường núi mỗi mùa hè.
Kết quả đầu ra của quỹ thể hiện ít nhiều trong danh sách những sinh viên nghèo từng nhận học bổng: ta tìm thấy cán bộ ngân hàng, chủ doanh nghiệp tư nhân, cán bộ cộng đồng, cả những bác sĩ trẻ nổi danh, chủ bệnh viện tư.
Một bữa ăn giá bao nhiêu?
Mô hình của một số quỹ học bổng dựa trên một điều kiện tiên quyết: những người như anh Quyền được trả lương riêng để thực hiện nhiệm vụ của mình. Họ có thể kiêm nhiệm hay chuyên trách, vừa làm chuyên môn cho doanh nghiệp, đi làm nhiệm vụ cho quỹ theo đợt. Tất cả đều được “nuôi” bằng ngân sách riêng và có thu nhập ổn định trước khi vác tù và hàng tổng.
Những nhiệm vụ đó lẩn thẩn và AI không thể thay thế. Số phận của những con người, những ngôi trường và những vùng đất có thể có điểm chung. Hệ thống chính sách và pháp luật có thể áp dụng chung cho nhiều vùng đất, nhiều con người. Nhưng từ thiện có một đặc trưng khác: kết quả mong muốn tạo ra thường là vi mô, ngắn hạn, tác động tức thời. Để có điều đó, ta lại buộc phải xem xét các tiểu tiết trên thực địa.
Một quỹ từ thiện nổi tiếng từng đưa ra chính sách rộng khắp: tài trợ 8.500 đồng cho một bữa ăn trưa của học sinh miền núi. Nhưng con số này nhanh chóng trở thành gánh nặng của nhiều vị hiệu trưởng nhận tài trợ. Lý do đơn giản: vật giá ở mỗi địa phương rất khác nhau và thay đổi theo từng năm. Có nơi 9.500 đồng là tạm đủ cho một bữa ăn đủ chất, có nơi cần đến 11.000 đồng, con số này có thể biến thành 12.000 đồng chỉ sau một học kỳ vì vật giá nông sản, chất đốt thay đổi.
Phụ huynh có thể đối ứng? Nhưng có những vùng mà trong cái “nghèo”, đa số phụ huynh vẫn xoay xở thêm được 50.000 đồng mỗi tháng để đối ứng; có những vùng khác thì cái “nghèo” cực đoan tới mức phụ huynh không thể xoay nổi một đồng tiền mặt nào.
Đi từ trung tâm thành phố Yên Bái chỉ 40 cây số về phía tây, theo những con đường đèo quanh co không tên, sẽ đến những nơi mà tổng thu nhập của một hộ trong cả năm có thể chỉ ở mức vài trăm nghìn đồng. Ngoài những mảnh nương hẹp vì địa hình, thường không đủ gạo ăn, nguồn thu duy nhất của họ là từ rừng. Mùa xuân, trẻ con và người lớn vùng này bắt đầu lên núi đào măng.
Và sau Tết, năm nào cũng thế, thầy cô chạy đến từng nhà vận động các con trở lại trường, vì thể nào cũng có những em ham đào măng đến mức bỏ học hàng tuần. Vài chục nghìn một cân măng. Họ đơn giản là không thể đóng toàn bộ số tiền đó cho một đứa trẻ đi học. Họ lắc đầu khi thầy nói rằng mình chỉ có 8.500 đồng tài trợ, không đủ để nhóm lửa nấu bếp. Họ xin ngược lại, thầy đừng cho các con ăn nữa, để các cháu tự mang cơm đi. “Ông bố vào tận phòng xin anh là không cho con ăn trưa nữa – thầy nhăn nhó – Rồi hôm sau thấy hai anh em, mỗi đứa một cái thìa xúc cơm trắng từ một cái cặp lồng, không có một tí thức ăn nào. Anh không thể chịu nổi, lại bảo các cô là thôi cho các con ăn đi”.
Các vị hiệu trưởng đứng trước lựa chọn, hoặc tổ chức bếp ăn cho các con và trở thành con nợ của cả xã, hoặc từ chối nhận từ thiện, và để các con tự xoay xở với những túi nilông cơm trắng ăn với muối. Các cô, lương thấp, vẫn đôi khi phải móc tiền túi ra cho con ăn. Và thầy cũng không biết chiến đấu với cái thực tại tréo ngoe ấy kiểu gì. Thầy không muốn tên mình xuất hiện trên báo, vì ai lại đi trách một cái quỹ từ thiện khi mà người ta đã cho tiền mình rồi?
Các nhà hảo tâm đến sau đối mặt với “bài toán 2/3 bữa ăn” cũng không biết kêu gọi cộng đồng đóng góp 1/3 bữa còn lại ra sao. Nhận tài trợ còn khổ hơn không nhận.
Câu chuyện quay trở về vấn đề của những chuyến điều tra thực địa: một quyết định từ thiện khác hẳn với một chính sách vĩ mô, một quyết định tài trợ khẩn cấp (do các con thiếu dinh dưỡng) khác với một chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Nó cần tạo tác động ngay, và phụ thuộc vào các yếu tố hiện trường. Vật giá ở các vùng núi cũng hàm chứa nghịch lý: do điều kiện giao thông, nhiều mặt hàng phổ thông lại đắt hơn. Gạo, rau, thịt, lạc, đậu, một khẩu phần ăn cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở cần chính xác kinh phí bao nhiêu, là câu hỏi phải trả lời ở chợ.
Nếu không trả lời câu hỏi “Quỹ từ thiện vận hành bằng gì?” ở cả góc độ chính sách lẫn tâm lý cộng đồng, chỉ dẫn tới hai kết quả: hoặc chính nhà hảo tâm sẽ giày vò bản thân trong câu hỏi “Thực ra họ đã ăn gì?” (như các nghi án trục lợi từ thiện gần đây); hoặc quỹ chỉ hoạt động dựa trên tinh thần tình nguyện, dẫn tới nguy cơ kém hiệu quả, thậm chí tạo thêm vấn đề cho xã hội khi việc trao tặng không thực sự là trách nhiệm của ai.■
Nghịch lý tiêu tiền
Hãy hình dung một dự án cấp trung, như tài trợ bữa ăn hoặc hạ tầng cho các trường miền cao. Một cuộc giải ngân nghiêm túc cần tối thiểu 2 chuyến thực địa, với tối thiểu 2 người. Chuyến đầu tiên để xác minh tình trạng, thống kê số lượng trẻ cần hỗ trợ và dự toán chi phí – ngồi cùng với thầy cô để xem giá chợ ra sao cho một bữa ăn đủ chất – đến từng xóm để xác nhận rằng phụ huynh hoặc chính quyền có khả năng đóng tiền đối ứng không, hay cần tài trợ toàn bộ.
Chuyến thứ hai để xây dựng mô hình – cùng thầy cô tổ chức bếp ăn, thuê cô nấu bếp, cùng thỏa thuận với các nhà cung cấp địa phương và xây dựng cơ chế giải trình. Ví dụ, họ nên biết nhà bà Lan bán rau và ông Vượng bán đậu để có thể xác minh sau đó, dù mấy ông bà này có thể không xuất được hóa đơn.
Công tác phí cho 2 người này là 500.000 đồng/ngày, được tính bằng 2 bữa ăn và phòng trọ đơn giản, chi phí di chuyển khoảng 600.000 đồng cho hai chiều từ thành phố lớn. Tức là tiêu tối thiểu 6,4 triệu đồng để có thể yên tâm cho một cuộc giải ngân khoảng 200 triệu – tương đương 3% tiền quyên góp. Luật pháp Việt Nam hiện nay cho phép dùng đến 10%, nghe con số khá yên tâm.
Nhưng những điều diễn ra đằng sau đó mới đáng kể: những người này là tình nguyện viên, các chuyên gia có kinh nghiệm nhưng làm việc miễn phí cứ có việc là gọi lên đường? Điều này nghe hợp lý về mặt chi phí, nhưng phụ thuộc vào duyên số của dự án.
Có một số dự án cộng đồng vận hành theo cách “gọi là lên đường” với các kiến trúc sư có thâm niên tình nguyện tập hợp lại vài ngày trong năm, cùng đi xây sân chơi cho các trường miền cao. Một nhà sáng lập dự án thú nhận rằng cô rất vất vả để duy trì đội nhóm: người ta đến và đi, không có cùng mục đích cũng như sứ mệnh. Họ có thể đòi bỏ cuộc tại hiện trường ngay sau một cơn mưa. Mỗi năm, họ làm được khoảng 2 sân chơi với quy mô tài chính vài trăm triệu.
Nếu các cán bộ là nhân viên cơ hữu, hưởng lương như các nhân viên văn phòng thì quỹ đó trông đáng tin cậy hơn. Quỹ cũng cần có một vị quản lý giám sát và tốt hơn cả là một kế toán toàn bộ dòng tiền quyên góp theo thời gian thực. Người này cũng nên được hưởng lương. Rốt cuộc quỹ đáng tin là quỹ tiêu một lượng tiền hợp lý cho vận hành và có giải trình về các khoản chi; chứ không phải quỹ (khẳng định rằng) không tiêu một đồng nào cho vận hành. Bill & Melinda, một trong những quỹ từ thiện lớn nhất thế giới, tự hào rằng họ “chỉ” tiêu 25% cho vận hành – là một con số tiết kiệm theo tiêu chuẩn của ngành này.
***
“Poverty porn” và chuyện lợi dụng lòng thương hại
ĐỨC HOÀNG 20/7/2014 12:08 GMT+7
TTCT – Vài năm qua, báo chí thế giới bắt đầu mổ xẻ một khái niệm gọi là “poverty porn” – một loại hình truyền thông luôn đi với vỏ bọc nhân văn nhưng bên trong chứa đầy mặt trái.
![]() |
| Một hình ảnh thường thấy trong những môtip quảng cáo phổ biến mà Srivastava gọi là “poverty porn” – Ảnh: magazine.good.is |
Camera hướng từ trên cao xuống một cô bé da màu. Cô bé đứng đơn độc trên một cánh đồng ở một nơi vô danh, nhìn về xa với ánh mắt tuyệt vọng, không bao giờ hướng mắt vào máy quay.
Càng khổ càng tốt
Một giọng nói cất lên: “Đây là Daniela. Cô bé 9 tuổi. Cơ thể bé đang bị giày vò bởi những cơn đau do ký sinh trùng, thứ đã giết chết chị của bé, tạo ra. Nếu không có sự giúp đỡ, Daniela sẽ là người kế tiếp”. Một giọt nước mắt rơi xuống má của Daniela…
Đó là một đoạn quảng cáo điển hình mà tác giả Lina Srivastava nói rằng “mọi người dân Bắc Mỹ từ khi sinh ra đến khi lớn lên đều được xem mỗi tối”. Srivastava là một chuyên gia về truyền thông xã hội ở New York, từng tham gia các chiến dịch truyền thông cho UNICEF, UNESCO và Ngân hàng Thế giới. Và bà gọi đoạn quảng cáo ấy là “kích dục thương hại”. Những môtip quảng cáo như thế đang trở nên quá phổ biến trong thế giới hiện đại.
Không dễ dàng định nghĩa thế nào là “poverty porn”. Các chuyên gia xã hội học tạm đưa ra một giải thích “bất kỳ dạng truyền thông viết, hình ảnh, phim… khai thác tình cảnh nghèo đói nhằm làm tăng sự cảm thông để bán báo hoặc gây quỹ từ thiện hoặc để lấy danh tiếng”.
Nói đến các sản phẩm kích dục (porn), người ta thường nghĩ ngay đến tình dục. Nhưng trong mỗi con người còn những “dục” (ham muốn) mạnh mẽ khác. Lòng thương hại chính là một trong số đó.
Con người luôn có xu hướng xúc cảm rất mạnh trước những mảnh đời nghèo khổ, những đứa trẻ đói khát, những số phận gian truân. Và nếu như tình dục có một dòng sản phẩm văn hóa riêng để đáp ứng thì lòng thương hại bây giờ cũng có.
Nhà báo Mỹ Edward Behr (một cây bút lớn từng làm việc cho Time, Newsweek…) từng kể một câu chuyện nổi tiếng về một phóng viên tác nghiệp ở vùng chiến sự tại Congo trong thập niên 1960. Khung cảnh lúc ấy chỉ có những người đàn ông cầm dao rựa, phụ nữ để ngực trần và những đứa trẻ đang khóc rấm rứt. Một khung cảnh quá thông thường của châu Phi.
Tay phóng viên biết rằng mình cần phải làm gì đó để tạo ra câu chuyện kịch tính. Và anh ta cất tiếng hỏi: “Có ai ở đây từng bị hiếp và nói được tiếng Anh không?” (Anyone here been raped and speaks English?). Câu hỏi này về sau trở thành tựa một cuốn sách của Edward Behr về chủ đề “poverty porn”.
Một phụ nữ châu Phi bị hãm hiếp là câu chuyện “tốt” để kích thích lòng trắc ẩn của độc giả. Nếu có người bị chết một cách thảm thương thì thậm chí còn “tốt” hơn.
Điều mà một nhà báo khác, Jo Chandler – người chuyên theo dõi khu vực Trung Phi và Papua New Guinea, từng tiếp xúc với rất nhiều cái chết vì bệnh dịch đau đớn của người dân những nước nghèo, thú nhận tôn chỉ của báo chí bây giờ là: “Càng tồi tệ càng tốt”.
Họ cần tìm ra những nhân vật thống khổ nhất, những khía cạnh tàn tệ nhất, đôi khi không cần đại diện chính xác cho vấn đề đang được phản ánh, để miêu tả.
Và rốt cuộc “poverty porn” trở thành một phong trào. Nó được sử dụng trong tất cả tình huống người ta cần thu hút sự chú ý (để bán báo, để đạt được mục đích quyên góp từ thiện, để lấy danh tiếng…).
Bởi vì ngoài việc đánh vào bản năng thương cảm, nó khiến người tiếp nhận thoải mái khi họ cảm thấy mình có quyền năng để giúp đỡ, tin rằng mình đã thật sự giúp đỡ người khác khi bỏ tiền làm từ thiện.
Và không có gì dễ dàng, đơn giản hơn là bỏ ra một chút tiền thay vì dấn thân vào những hoạt động cần đến sự bền bỉ, nỗ lực gấp bội để giải quyết câu chuyện gốc rễ.
![]() |
| (Khảo sát các bài viết trên blog về ba chủ đề từ ngày 6 đến 29-6-2014) |
Có khốn cùng, có chú ý
Trong thời đại của truyền thông xã hội thì đó không còn là câu chuyện riêng của các nhà báo và các tổ chức phi chính phủ.
Mỗi người đều có thể tự sở hữu kênh xuất bản riêng trên mạng xã hội, thuận tiện nhất là qua Facebook. Và rất nhiều người trong số họ hiểu rằng các nội dung gợi lòng trắc ẩn sẽ rất hiệu quả trong việc gây sự chú ý. Đôi khi tâm niệm này chỉ là vô thức. Và đó là lúc những sự sai lầm phát sinh.
Hồi giữa tháng 6, cư dân mạng lan truyền chuyện về một người đàn ông Đan Mạch đã dành rất nhiều tâm sức xây 24 cây cầu tặng các vùng xa xôi hẻo lánh ở Việt Nam, nhưng rồi đến cuối đời lại bị người Việt lừa hết tiền, sống trong cảnh nghèo túng cạnh bãi tha ma. Câu chuyện gây phẫn nộ cao trong dư luận.
Đến khi báo chí vào cuộc xác minh thì hóa ra người đàn ông nọ dù có bị lừa, có mất nhiều tiền nhưng “sự thật không hẳn như thông tin đã lan truyền” (báo PL TP.HCM ngày 12-6), và ông bà vẫn sống trong một căn nhà không đến nỗi nào. Câu chuyện lập tức nguội xuống rất nhanh chóng.
Sau khi phát hiện ông bà không đến nỗi quẫn cùng như mô tả, những khía cạnh khác như trách nhiệm của chính quyền, khó khăn của ông bà về mặt hành chính dường như không được dư luận đoái hoài đến nữa.
Khảo sát trên mạng về số lượng các bài viết trên blog về “ông già Đan Mạch” cho thấy chủ đề này bùng lên rất nhanh trong khoảng vài ngày giữa tháng 6 và gần như biến mất sau khi báo chí xác minh (xem biểu đồ, với các chủ đề thời sự khác như “vải thiều” và “cửa khẩu” để so sánh về tính ổn định).
Người ta có quyền tự hỏi rằng nếu như ngay từ đầu, nếu câu chuyện về ông Kurt không được xoáy sâu vào khía cạnh “khốn cùng”, sự túng quẫn của ông không được cường điệu một cách chưa chính xác mà đưa với một thái độ trung dung hơn, thông tin chuẩn hơn thì liệu có tốt hơn cho dư luận và cho việc giúp đỡ vợ chồng ông?
Cho đến tận cuối câu chuyện vẫn chưa có một ai thật sự đứng ra giải thích tường tận về những khó khăn mà ông phải đối mặt.
Người ta hướng trí tò mò tới sự túng quẫn về mặt vật chất của một người nước ngoài (điều hoàn toàn trái ngược với quan niệm “hễ Tây thì không giàu cũng phải khá”), trong khi khó khăn thật sự của ông có thể nằm ở một nơi khác, như việc làm sổ đỏ cho căn nhà mà vợ chồng ông đang sống chẳng hạn.
Ở đây, cái nghèo được mô tả không đầy đủ lại trở thành thứ thuốc “kích thích” cho những status thể hiện lòng thương cảm, ái ngại, cho những sự hỗ trợ kiểu mang mì gói, nước uống đến tặng. Và khiến vấn đề tổng thể không được giải quyết.
Sự quyên góp mù quáng
Đây là một trong những khía cạnh quan trọng của các sản phẩm “poverty porn”. Nó khiến đại chúng tiếp cận sai chiều hướng của cái nghèo.
Tác giả Emily Roenigk thuộc Tổ chức World Relief viết: “Cái nghèo không chỉ bao gồm bối cảnh cá nhân, mà còn có cả hệ thống xã hội và pháp lý… Tuy nhiên, các sản phẩm poverty porn lại mô tả cái nghèo bằng những khổ đau nhìn thấy được, đến từ việc thiếu thốn vật chất. Nó khiến những hoàn cảnh phức tạp của con người trở nên dễ hiểu, dễ tiếp thu và dễ xử lý”.
Và xử lý một cách bề mặt.
Cái hại của việc “dễ xử lý” khi đứng trước một câu chuyện như thế, một nỗi thống khổ của riêng một cá nhân, chính là khi đó người ta luôn có cảm giác cách tốt nhất để giải quyết vấn đề chính là quyên góp. Đó tất nhiên không phải là cách giải quyết vấn đề.
Lật lại những trang báo có thể dễ dàng tìm thấy những cuộc quyên góp để lại hậu quả tiêu cực.
Lừa đảo từ thiện là một vấn đề không mới, nhưng trong những câu chuyện như thế người ta không nhìn thấy rằng để tiếp tay cho những kẻ lừa đảo, một bộ phận rất lớn người dùng mạng đã chia sẻ những câu chuyện thương tâm này mà không cần suy nghĩ, kiểm tra. Đó chính là hành vi phát tán “poverty porn”.
Người ta không hề đặt ra câu hỏi: Người này là ai? Điều gì đã gây ra hoàn cảnh hiện tại của anh/chị ta? Gia đình, các mối quan hệ của anh/chị ta ra sao? Hướng giải quyết có lợi nhất cho hoàn cảnh này là gì?
Họ không cố vẽ lên một bức tranh toàn cảnh. Cái họ có là một câu chuyện đẫm nước mắt, một khía cạnh thấm đẫm thương cảm của vấn đề. Và họ phát tán nó. Những người khác quyên góp. Rồi lại tiếp tục phát tán. Nó rất ít khi được lan truyền vì một động cơ lý trí.
Tổ chức United for Sight thậm chí khẳng định “kích dục thương hại” là thứ hủy hoại nỗ lực của những người làm từ thiện đứng đắn: “Nó tạo ra tư tưởng những người nghèo là những người tuyệt vọng, không có khả năng giúp đỡ bản thân, rồi tạo ra một thứ văn hóa của chủ nghĩa gia trưởng”.
Chủ nghĩa gia trưởng (paternalism) là những hành động bởi một người, tổ chức hay quốc gia khiến một người hay tổ chức khác bị hạn chế trong tự do quyết định quyền lợi của họ.
Trong trường hợp của các sản phẩm “poverty porn”, chủ nghĩa gia trưởng được thể hiện bằng việc cả người tuyên truyền lẫn người giúp đỡ đều tự quyết định phương thức cải thiện cuộc sống của người cần giúp là các khoản tiền quyên góp trực tiếp.
Với các khoản quyên góp này, người nghèo có thể phụ thuộc, thậm chí ỷ lại vào chúng. Trong khi đó luôn tồn tại những cách hiệu quả hơn để họ tháo gỡ khó khăn, nhưng thứ này đã bị phủ nhận ngay từ đầu khi truyền thông mô tả họ trong những bộ dạng tuyệt vọng, hoàn toàn không có năng lực tự cải thiện cuộc sống.
Bạn sẽ không khó tìm thấy một câu chuyện về một người nghèo đánh mất năng lực tự quyết định số phận của họ sau những khoản tiền quyên góp, không khó để tìm thấy những cuộc tranh cãi gay gắt của những “mạnh thường quân” về việc mình có bị lợi dụng không, người nhận có sử dụng đúng mục đích không, thậm chí có nên đòi lại tiền không.
Tất cả là do ngay từ đầu họ đã tiếp cận với một thứ duy nhất là nỗi khổ chứ không phải bản thân người cần giúp.
Rất tiếc là sau những câu chuyện như thế, niềm tin về lòng tốt trong xã hội chẳng những không được bồi đắp mà còn mai một.

