Sức hút ngôn ngữ Khmer Nam bộ

(ĐTTCO) –  Nhiều bạn trẻ ở các tỉnh ĐBSCL mạnh dạn đi học ngôn ngữ Khmer Nam bộ ở Trường Đại học Trà Vinh. Mới nghe ai cũng bất ngờ nhưng đây lại là sự thật. Một trong những lý do hết sức thực tế bởi ngoài việc bảo tồn và phát triển ngôn ngữ Khmer, học ngành này sẽ dễ tìm việc làm, bởi nhu cầu thị trường khá rộng.

Các bạn trẻ sinh viên ngành Ngôn ngữ Khmer
Trường Đại học Trà Vinh đang học tập.

Tiếp tục đọc “Sức hút ngôn ngữ Khmer Nam bộ”

Phong Trào Việt Hóa Nhạc Trẻ Sài Gòn 60s-70s

nhactre_sg
 

Đọc về âm nhạc Việt Nam, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn “Phong Trào Việt Hóa Nhạc Trẻ Sài Gòn 60s-70s”, là một phong trào đã đóng góp cho nền âm nhạc Việt Nam một kho tàng nghệ thuật sáng tạo của các nhạc sĩ tiên phong từng làm mưa làm gió một thời ở nơi được mệnh danh là “La Perle De L’Extrême-Orient” (“The Pearl Of The Far East” – “Hòn Ngọc Viễn Đông”).

Nhạc Trẻ là một hiện tượng âm nhạc xuất hiện ở miền Nam Việt Nam vào đầu thập niên 1960s, ảnh hưởng bởi âm nhạc đương đại của Âu Châu và Mỹ Châu.

Nhạc kích động Âu Mỹ bắt đầu xâm nhập thị trường miền Nam vào cuối năm 1959. Giới trẻ, con của các thương gia và giới trưởng giả theo học chương trình Pháp thường nghe các loại nhạc kích động của Mỹ và Pháp. Phải đợi tới khoảng 1963-65, phong trào nghe nhạc kích động Tây phương bành trướng mạnh qua các buổi tổ chức khiêu vũ tại gia. Các danh ca của Hoa Kỳ như: Paul Anka, Elvis Presley, The Platters, của Anh như: Cliff Richard, The Shadows, The Beatles, The Rolling Stones, của Pháp như: Johnny Halliday, Sylvie Vartan, Françoise Hardy, Christophe, Dalida, vv…. là thần tượng của thanh niên nam nữ dưới 18 tuổi. Tiếp tục đọc “Phong Trào Việt Hóa Nhạc Trẻ Sài Gòn 60s-70s”

Nhạc sỹ Vũ Xuân Hùng: Đã từng có một phong trào chuyển ngữ và Việt hóa nhạc trẻ

Phununews Thứ hai, 27-02-2017 | 14:46 GMT+7

 

 

Là tác giả chuyển ngữ của hàng trăm ca khúc nổi tiếng của những thập niên 60-70 tại Sài Gòn xưa. Ca khúc của Vũ Xuân Hùng đã trở nên quen thuộc với khán giả yêu nhạc…

Sau sự vụ bản quyền với ca sỹ Mỹ Tâm, nhóm PV Phununews tiếp tục có cuộc trò chuyện với nhạc sĩ Vũ Xuân Hùng tác giả của bài Anh Thì Không, để tìm hiểu thêm về gia tài âm nhạc cũng như những cuốn băng Tình Ca Nhạc Trẻ  rất nổi tiếng Sài gòn thập niên 60-70 của ông.

Nhac sy Vu Xuan Hung: Da tung co mot phong trao chuyen ngu va Viet hoa nhac tre

Thưa ông , được biết trước đây ông xuất thân từ một nhà giáo. xin ông cho biết nguyên nhân nào đã đưa đẩy ông từ lãnh vực giáo dục sang lãnh vực âm nhạc , sau đó ông lấn sang phần đất nhạc Trẻ , chuyển ngữ  hàng trăm nhạc phẩm nước ngoài đã được các ca sĩ trong và ngoài nước trình diễn và  thực hiện những cuốn Tình Ca Nhạc Trẻ nổi tiếng được đông đảo mọi người yêu thích ? 

Tiếp tục đọc “Nhạc sỹ Vũ Xuân Hùng: Đã từng có một phong trào chuyển ngữ và Việt hóa nhạc trẻ”

90 làng Cơ Tu bỏ tục đâm trâu

09/02/2017 10:20 GMT+7

TTO – Trong khi dư luận hoan nghênh Yên Bái ngừng nghi thức treo cổ trâu đến chết tại đền Đông Cuông (Tuổi Trẻ ngày 7-2), trước đó, tại huyện Tây Giang (Quảng Nam) tết này có đến 90 làng Cơ Tu không đâm trâu!

90 làng Cơ Tu bỏ tục đâm trâu
Nhờ những già làng thuyết phục, người Cơ Tu ở Tây Giang, Quảng Nam không còn tổ chức tục đâm trâu – Ảnh: T.V.

Người dân tự nguyện bỏ hẳn một tục lệ vốn đã tồn tại như một nét văn hóa ngàn đời. Tiếp tục đọc “90 làng Cơ Tu bỏ tục đâm trâu”

Xin lỗi và bồi thường chiến tranh trong quan hệ quốc tế ; Kinh nghiệm lịch sử trong quan hệ Việt – Mỹ

  • VHNA –  NGUYỄN THÁI YÊN HƯƠNG
  • Thứ ba, 26 Tháng 5 2015 21:26

                                                                Hòa giải và giảng hòa một cách chân tình không có nghĩa là chúng ta quên quá khứ

Nelson Maldela

Trong quan hệ quốc tế nói chung, vấn đề xin lỗi và bồi thường chiến tranh là một vấn đề luôn song hành với quan hệ giữa các nước trong quá trình hàn gắn vết thương để đến bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Đây là vấn đề đã được nhiều nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế đề cập theo góc độ xã hội, lịch sử. Tiếp tục đọc “Xin lỗi và bồi thường chiến tranh trong quan hệ quốc tế ; Kinh nghiệm lịch sử trong quan hệ Việt – Mỹ”

Đạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam – Phần II: Chương Bốn: Những khó khăn trong việc áp dụng điều 9

image

Luận án Tiến Sĩ Quốc Gia Khoa Học Chính Trị Đại Học Paris.

Trong khi điều 2 của hiệp ước 1862 chỉ nêu lên nguyên tắc tự do theo đạo Thiên Chúa mà không buộc chính phủ Việt nam có nghĩa vụ cụ thể nào đối với công dân theo đạo , thì điều 9 hiệp ước 1874 , công nhận cho những người này một mức độ độc lập đối với luật pháp xứ sở, đã làm nguy hại trầm trọng uy quyền vua Tự Đức và đe dọa ngay cả nền tảng của truyền thống quân chủ của Vương quốc . Tiếp tục đọc “Đạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam – Phần II: Chương Bốn: Những khó khăn trong việc áp dụng điều 9”

‘Việc khai ấn ở đền Trần Tức Mặc là một xuyên tạc lịch sử’

08/02/2017 14:15 GMT+7

TTO – Chuyện khai ấn – phát ấn ngày một tràn lan trên nhiều tỉnh thành. Nhiều tệ nạn cũng sinh ra từ đó…

Đầu tiên là Nam Định nâng cấp lễ hội làng Tức Mặc thành lễ hội cấp quốc gia. Sau đó “đẻ” ra chuyện khai/phát ấn ở đền Trần Thương (Nhân Đạo, Lý Nhân, Hà Nam), đền Trần Tam Đường (Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình), ở khu văn hóa núi Bài Thơ (TP Hạ Long, Quảng Ninh), khu di tích Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội)… Tiếp tục đọc “‘Việc khai ấn ở đền Trần Tức Mặc là một xuyên tạc lịch sử’”

Một tư tưởng nữ quyền tiên phong và thấu đáo

– Bùi Trân Phượng

bia

Nam nữ bình quyền do ĐH Hoa Sen và NXB Hồng Đức tái bản, quý 3/2014
(tin Thể Thao & Văn Hoá)

Đặng Văn Bảy (1903-1983) là tác giả sớm nhứt ở Nam bộ đã viết về nữ quyền. Nam nữ bình quyền được viết ở Vĩnh Long từ đầu tháng 8 năm 1925 đến đầu tháng 7 năm 1927, xuất bản năm 1928 ở Sài Gòn và bị cấm khoảng một năm sau đó.

Nay đọc lại, chúng ta thấy đây thực sự là một tiếng nói tiên phong đấu tranh cho quyền bình đẳng nam nữ, bảo vệ quyền làm người của phụ nữ. Là một trong những tiếng nói sớm nhứt về vấn đề nầy, Nam nữ bình quyền của Đặng Văn Bảy đồng thời xứng đáng được coi là suy nghĩ và diễn ngôn vào loại đi xa nhứt trong sự đặt lại vấn đề, thách thức trật tự lâu đời và hiện hữu, trật tự trong quan hệ giới, và cả trong quan hệ giữa người cai trị và bị trị, giữa người áp bức và bị áp bức. Tiếp tục đọc “Một tư tưởng nữ quyền tiên phong và thấu đáo”

Phát triển bền vững ở Tây Nguyên

– Tính nghiêm trọng của các vấn đề Tây Nguyên. Làm gì để giải quyết?

Nguyên Ngọc

I – Một số nét tổng quan

A – Khái niệm Tây Nguyên :

Theo địa lý hành chính hiện nay, Tây Nguyên gồm có năm tỉnh, kể từ bắc vào nam : Kontum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng.

Tiếp tục đọc “Phát triển bền vững ở Tây Nguyên”

Hạnh phúc nơi tình người vẫy gọi

Hoàng Thiên Nga

          Mắt ông không còn nhìn thấy nữa, nhưng tựa vào cánh tay gầy của bà, đôi tình nhân không tuổi ấy không ngần ngại chọn Việt Nam làm đích trở lại hằng năm cho tới khi nào còn có thể, chỉ để được giúp đỡ và sẻ chia…

Tay trong tay đôi tình nhân không tuổi hạnh phúc đi khắp thế giới
Tay trong tay đôi tình nhân không tuổi hạnh phúc đi khắp thế giới

Tiếp tục đọc “Hạnh phúc nơi tình người vẫy gọi”

Về Quê Ăn Tết Với Cái Bụng Đói


Nhìn chung, đối với nhiều người trong chúng ta, dù gì thì cuộc sống trong nước hiện nay cũng ít nhiều dễ chịu hơn so với cái thời ‘ăn độn’ thập niên 80. Có vài cái Tết trong cái thời khó khăn, thiếu thốn đủ mọi mặt ấy đã để lại trong tâm khảm tôi dư vị thật chua chát, nay ngồi chợt nhớ lại mà không khỏi chạnh lòng áy náy, sượng sùng với chính mình và tội nghiệp mình quá!

Khi tôi đi học tập cải tạo về rồi lập gia đình (1977) thì thời thế sau 30 tháng 4  đã chất chồng khó khăn về mọi mặt. Gia đình cha mẹ, anh em tôi thì ở Sài Gòn, gia đình bên vợ tôi thì ở Vũng Tàu, cách nhau khoảng hơn 100 cây số, còn tôi thì sau ngày học cải tạo về đã bị chỉ định phải nhận việc ở một nông trường vùng Củ Chi, cách Sài Gòn 45 cây số. Bên nào cũng nghèo, nhất là nhà bên ba má tôi rất chật hẹp, nên vợ tôi cùng hai đứa con phải về nhờ đỡ bên ông bà ngoại ở Vũng Tàu. Ngày thường thì đã phải sống xa vợ con, cha mẹ nên mùa Tết đến là tôi lại đắn đo và thường là tôi chọn (gọi là) ăn Tết ở quê vợ, vì dù sao cũng là gần vợ, gần con mình.

Thế là, khoảng 27, 28 tháng chạp, từ Củ Chi về Sài Gòn là tôi chỉ ngủ lại một đêm, rạng sáng hôm sau lại tất tả ra bến xe miền Đông đón xe về Vũng Tàu. Cái thời các năm 1976- 1979 ấy, phương tiện giao thông công cộng rất eo hẹp và khó khăn, vài năm đầu còn phải đi xe than. Vì xăng dầu khan hiếm, ngày thường xe khách tại bến rất ít chuyến, còn vào mùa Tết, có tăng cường thêm xe nhưng không bao giờ đủ cho nhu cầu người dân đổ xô về quê ăn Tết. Do đó, tôi phải thức dậy lúc 3 – 4 giờ sáng, vội vội vàng vàng kiếm xe lam chạy ra bến xe, xếp vào cái hàng người đã dài thượt trước quấy vé, thấp thỏm chờ mua cho được chiếc vé giá chính thức quý giá để về quê vợ, mới mong có mặt bên cạnh vợ con trong ba ngày Tết.

Có năm, liên tiếp các chiều 29, 30 tháng chạp tôi lại thất thểu quay về nhà ba mẹ, vì dù nhịn cả cơm trưa, đứng lì tại chỗ, không dám bỏ hàng nhưng kết quả thảm hại là không hề mua được vé chính thức vào các ngày cao điểm cận Tết này. Khoảng vào giấc 5 giờ chiều, hàng người còn không bao nhiêu nhưng loa phóng thanh ở bến đã lạnh lùng thông báo: “Đã hết vé tuyền đường Bà Rịa – Vũng Tàu. Bến xe sẽ bán vé tiếp vào 4 giờ 30 sáng mai. Mời bà con về nghỉ hoặc tìm phương tiện khác mà đi!”. ‘Phương tiện khác’ có nghĩa là xe chui, xe dù đậu rải rác quanh bến xe, 8 – 9 giờ đêm cũng còn nhưng vé giá chợ đen gấp 2 – 3 lần giá chính thức tại quầy vé.

Tôi buồn rầu, nhớ vợ con đến quặng cả lòng và vô cùng nóng ruột (thời đó không có điện thoại bàn hay đi động tràn ngập như bây giờ để gọi cho vợ con đỡ mong ngóng) nên tính toán đổi ‘chiến thuật’, đó là sáng sớm mùng Tết mới ra bến xe. Sáng đó cũng có vài chuyến xe về Vũng Tàu và được cái là khách rất vắng, mua vé chính thức rất dễ… Niềm hạnh phúc lớn lao của tôi năm đó là dù hơi muộn nhưng trưa mồng 1 Tết tôi đã được có mặt bên vợ con ở quê vợ.

Cũng là niềm hạnh phúc đơn sơ, mộc mạc ấy là vào ngày thường, chờ dịp cuối tháng lãnh lương, tôi vất vả làm cuộc hành trình Củ Chi – Sài Gòn – Vũng Tàu về với vợ con mình. Chuyến đi chỉ dài tổng cộng 145 – 150 cây số nhưng từ khoảng 9 – 10 giờ sáng thứ bảy, tôi đã ‘dù’ sớm (11 giờ 30 mới hết giờ làm việc tại nông trường bộ) sau khi không quên xuống nhà bếp báo cắt cơm đến hết bữa điểm tâm sáng thứ hai tới, leo hàng rào ra hương lộ 7 (dài 3 cây số) mà lội bộ thật nhanh ra tới quốc lộ 13 rồi quắt xe Daihatsu hay xe đò nhỏ về ngã tư Bảy Hiền, từ đây lại xe lam, xe bus về bến xe Miền Đông. Phải tất bật tranh thủ thời gian như thế để kịp đứng vào hàng, chờ đến 12 giờ trưa là phòng vé rục rịch bán vé tiếp cho buổi chiều.

Không hiểu sao cái gã thanh niên xung phong/nông trường viên gốc nhà giáo, tuổi đã trung niên là tôi thời đó lại khỏe đến thế, vì suốt cuộc hành trình tất tả về thăm vợ con, thường là tôi nhịn đói hay chỉ ‘thủ’ gói xôi hay ổ bánh mì không để ăn trưa, nước uống thì đã có bình toong nhà binh mang theo, nghĩa là sao cho ít tốn nhất để tháng lương được giữ cứng nguyên trong túi. Thèm thuốc lá thì tôi đã có loại thuốc ‘cũi’ Quốc Hùng, chỉ mấy đồng là được một bó.

Tất nhiên, bây giờ nói ra vẫn thấy xấu hổ, là khi ngồi trên xe đò ‘tịnh tâm’( không ăn nên tâm hồn thanh tịnh!) và ‘tịnh khẩu’ (có gì bỏ vô miệng đâu nên miệng cũng rất sạch sẽ, thanh tịnh) như thế, tôi đã không khỏi ước ao, thèm thuồng trước đủ thứ món ăn vặt, giá rẻ mạt, bán tại bến xe hay ở những chặng xe dừng bắt thêm khách, bất kể là ổ bánh mì thịt, gói xôi mặn tôm khô, chai nước ngọt hay củ khoai lang, khoai mì, bịch mía ghim…

Còn xấu hổ hơn là một lần, khi xe dừng lâu ở ngã ba Vũng Tàu, quà bánh rao bán nườm nượp, ngồi bên cạnh tôi là một anh nói giọng Bắc, có vẻ hiền lành với cặp kính cận và chiếc sơ mi trắng, đã mua một bịch đậu hủ chiên chấm muối tiêu, mời tôi một miếng. Tôi đã lịch sự’ từ chối và cám ơn anh đã mời.

Tôi làm bộ ngó chỗ khác – khốn nỗi ngay lúc này bao tử tôi lại chơi xấu, cứ sôi lên òn ọt như kêu gào, nhắc nhở… – khi anh ta nhấm nháp hết miếng đậu thứ nhất. Rồi anh lại gật gù: “Chà, cái thứ quà này rẻ thôi mà ăn cũng thích thích ấy chứ!”, rồi quay sang tôi chìa bịch đậu ra ân cần mời lần nữa:“Này, anh cứ thử một miếng đi, quà vặt rẻ mạt ấy mà, có gì mà ngại!”.

Trước thành ý của người lạ này, tôi đã buông thả ý thức tự trọng mà mình, ‘nhắm mắt đưa …tay’ mà nhón lấy một miếng đậu hủ.

Xưa nay có ai lạ gì món đậu hủ chiên nhưng lúc này, riêng đối với tôi, phải nói là cái miếng đậu hủ nhỏ chỉ bằng hai ngón tay, đạm bạc và lạt lẽo ấy lại ngon, thơm cực kỳ!

Nhưng đồng thời tôi cũng chua chát nhận ra là trước đó vài phút, cái mà người ta xem chỉ là “quà vặt, rẻ thôi mà” ấy mỉa mai lại có luôn trong danh sách những thứ mà tôi đã xốn xang ước gì mình có thể thong dong mua ăn – một tí thôi – để dỗ dành cái dạ dày lép kẹp.

Suốt chuyến đi gọi là về quê ĂN tết thời ấy – đúng hơn là một thảm kịch vong thân bởi cái ĂN, tôi đã chịu đói đến hoa mắt, mệt mỏi giằng co giữa một bên là ý định bỏ đại ra vài đồng mua cái gì đó ăn cho đỡ đói, một bên là quyết tâm phải hết sức tiện tặn, giữ thật nguyên vẹn số tiền lương còm cõi để giao hết cho vợ con…

PHẠM NGA

(Trích bút ký Về Quê Ăn Tết)

 

T

Bên nồi bánh chưng xanh

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Đêm 30 Tết Âm lịch, trong một ngôi nhà cổ truyền nằm bên ngã ba sông Hồng – sông Đuống…

Đã lâu lắm rồi, chúng tôi mới được ngồi bên một bếp lửa đun nồi bánh chưng. Ở thành phố, một vài cặp bánh chưng cần thiết để cúng gia tiên thường được đi mua, hoặc đặt nấu bánh. Còn ở phần lớn các làng quê châu thổ hiện giờ, vào những ngày cuối năm, gói và đun nồi bánh chưng vẫn được coi là một nghi lễ, một niềm vui thú vô hạn – nhất là đối với bọn trẻ con. Tiếp tục đọc “Bên nồi bánh chưng xanh”

Văn học Miền Nam Tự Do (1954-1975)

Chào các bạn,

Trên Website Tạp Chí Da Màu, tác giả Nguyễn Vy Khanh có đăng chuỗi bài 2 kỳ, Văn Học Miền Nam Tự Do (1954-1975). Nhận thấy đây là chuỗi bài có giá trị nghiên cứu, mình để link vào đây cho các bạn.

Đây đó trong bài, ngôn ngữ có khuynh hướng chính trị của tác giả, mình đưa link bài này là để nghiên cứu văn học nghệ thuật và không quan tâm đến từ ngữ chính trị trong bài. Các bạn đọc tự do đọc kiểu của các bạn.

Văn học Miền Nam Tự Do (1954-1975) – Phần I (1954-1963)

Văn học Miền Nam Tự Do (1954-1975) – Phần II (1964-1975)

Mến,

Hoành