Với sự hỗ trợ của UNICEF tại Việt Nam từ năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai thành công sáng kiến giáo dục song ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ tại các tỉnh Lào Cai, Gia Lai và Trà Vinh. Báo cáo Đánh giá cuối kỳ của sáng kiến này đã nêu bật những bằng chứng cho thấy giáo dục song ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ là giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng giáo dục hoà nhập của Việt Nam. Tiếp tục đọc “Giáo dục song ngữ – Con đường đi đến phát triển bền vững – Bilingual education is a gateway to Sustainable Development”
Thẻ: Ngôn ngữ – Language
Xưng hô trong trường học ngày nay
- NGUYỄN THỊ TỪ HUY
- Thứ hai, 09 Tháng 9 2013 14:32

Tản mạn về tiếng Việt – “hiện tượng đồng hoá âm thanh” (phần 1)
Nguyễn Cung Thông
nguyencungthong@yahoo.com
Hiện tượng đồng hóa âm thanh (linguistic assimilation) trong ngôn ngữ rất thường gặp: từ thanh điệu (điều hòa thanh điệu) cho đến các âm đứng gần nhau, phụ âm hay nguyên âm, đều có thể ảnh hưởng qua lạ i- nhất là trong khẩu ngữ. Điều này không làm ta ngạc nhiên vì âm thanh phát ra cũng phải tuân theo một số định luật vật lí tự nhiên của con người, khi lưỡi và họng ở những vị trí phát âm sao cho trôi chảy (nói) và thuận tai (nghe). Thành ra, ngoài các dữ kiện từ các tiếng nước ngoài, bài này còn đề cập đến một số liên hệ Hán Việt (HV), tuy không nhất thiết xác định nguồn gốc của các từ này (Việt cổ, Hán cổ). Các chữ viết tắt trong bài này là BK (Bắc Kinh), TVGT Thuyết Văn Giải Tự (khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), Tập Vận (TV/1037/1067), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), Tự Vị Bổ (TViB/1666), KH (Khang Hi/1716), HNĐTĐ (Hán Ngữ Đại Tự Điển/1986), Thiết Vận (ThV/601), Vận Kinh (VK/1161), VBL (từ điển Việt Bồ La, Dictionarium Annamiticum-Lusitanum-Latinum, Alexandre de Rhodes/1651). Chỉ số sau một âm tiết là chỉ thanh điệu, khác với số phụ chú ghi theo thứ tự trong bài.
Hai nguyên tắc đồng hóa âm thanh ĐH1 và ĐH2 được đề nghị để giải thích các dạng khám phá/khán phá, khám bệnh/khán bệnh cùng cấu trúc từ láy ưng ức/phưng phức và ròng rọc. Ảnh hưởng của nguyên âm trước và sau, cũng như khuynh hướng điều hòa thanh điệu không nằm trong phạm vi bài viết nhỏ này (thường gặp trong các ngôn ngữ thanh điệu/tonal language hơn). Hi vọng loạt bài “Tản mạn về tiếng Việt” sẽ giúp người đọc tìm hiểu thêm về tiếng mẹ đẻ rất phong phú của chúng ta.
Dân Ca Dân Nhạc VN – Dân Ca Gié Triêng
Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.
Chào các bạn,
Tiếp theo Dân ca Giáy, mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Gié Triêng hôm nay.
Người Gié Triêng còn được biết qua các tên: Đgiéh, Ta Reh, Giảng Rây, Pin, Triêng, Treng, Ta Liêng, Ve, La-Ve, Bnoong, Ca Tang. Có thể cùng là một dân tộc với người Talieng tại Lào. Dân tộc này thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Gié Triêng ở Việt Nam có dân số 50.962 người, cư trú tại 29 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Gié Triêng cư trú tập trung tại các tỉnh: Kon Tum (32.644 người, chiếm 62,1% tổng số người Gié Triêng tại Việt Nam), Quảng Nam (19.007 người, chiếm 37,3% tổng số người Gié Triêng tại Việt Nam), ngoài ra còn có tại Đắk Lắk (78 người) và một số ít ở các tỉnh khác. Tiếp tục đọc “Dân Ca Dân Nhạc VN – Dân Ca Gié Triêng”
Nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp – Thân Khôn khọn (khỉ) – phần 6A
Nguyễn Cung Thông
nguyencungthong@yahoo.com

Trích một đoạn từ bài viết:
Kỳ cuối: Đâu là “chiếc nôi” chữ quốc ngữ?
TT – Hiện một số nhà nghiên cứu cũng như các bậc nhân sĩ, thức giả đã đặt vấn đề về nơi khai sinh ra loại chữ viết này.
Kỳ 1: Thuở ban đầu của chữ quốc ngữ Kỳ 2: Hai bức thư và tập lịch sử nước An Nam Kỳ 3: Ai có công đầu với chữ quốc ngữ?
Phóng to |
| Thầy Trần Đình Trắc (phải) và nhà nghiên cứu Võ Ngọc Liễn ở Bình Định – Ảnh: H.V.M. |
Những luận cứ khác nhau bước đầu đã được đưa ra, nhưng câu trả lời xác đáng vẫn còn ở phía trước…
Hội An – Thanh Chiêm?
|
Dấu vết của những cuộc dịch chuyển tộc người
TT – Lý giải về hiện tượng những đảo thổ ngữ lạ giữa một cộng đồng có giọng nói phổ thông, nhiều người thường lý giải là do nước uống, do thổ nhưỡng, do môi trường khắc nghiệt, vùng đầu sóng ngọn gió, ăn to nói lớn…
Một số lý giải khác, như trường hợp làng Mỹ Lợi, thì cho rằng người Quảng đã ra Huế định cư và bảo lưu giọng Quảng của mình suốt 4-5 trăm năm nay (những họ lâu đời nhất ở Mỹ Lợi có gia phả đều đã 16-17 đời). Thế nhưng, rõ ràng những cách trả lời này mang nhiều kiến giải của dân gian hơn là khoa học. Trong khi khoa học, tức các nhà ngôn ngữ trên thế giới, đã lý giải hiện tượng này một cách đầy đủ và khá sâu sắc.
Phóng to |
| Cuốn sách đoạt giải thưởng Sách hay 2012 của tác giả Hồ Trung Tú |
Những chữ cái bị kỳ thị
TT – Bảy chữ cái bị kỳ thị và bốn chữ cái được dùng lậu là cách nói của tiến sĩ Lê Vinh Quốc về bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành. Như một cách gợi mở vấn đề, Tuổi Trẻ xin được giới thiệu cùng bạn đọc.
Phóng to |
Bảng chữ cái tiếng Việt theo mẫu tự Latin gồm 29 chữ đã được chính thức thừa nhận từ lâu. Tuy nhiên, sự phát triển của tiếng Việt hiện hành trong thời đại công nghệ thông tin đã làm bộc lộ một số vấn đề cần giải quyết để nó được hoàn thiện hơn.
Nữ tiến sĩ của buôn làng
Ký sự
Hoàng Thiên Nga- Thiên Linh
Trò chuyện, hoặc cùng đi điền dã với Tuyết Nhung Buôn Krông là dịp may đầy thú vị đối với bất kỳ ai có niềm say mê về nghiên cứu văn hóa tộc người, muốn tìm hiểu sâu về vẻ đẹp tinh tế của xã hội mẫu hệ Tây Nguyên. Bởi, nữ tiến sĩ người Ê đê Bih này chính là người đã “ tắm mình trong hơi ấm mẫu hệ” ấy.

Gìn giữ tiếng Việt nơi xứ người – 7 kỳ
Tiếng nước tôi, xin giấu vào lòng
Gìn giữ tiếng Việt nơi xứ người – Kỳ 2: Sao Mai ở Berlin
Gìn giữ tiếng Việt nơi xứ người – Kỳ 3: Cho và nhận
“Sự tích chú Cuội” giữa lòng Warsaw
Nối lại nhịp cầu
Một đề án dở dang
Để “tiếng nước tôi” vang mãi nơi xa…
Tiếng nước tôi, xin giấu vào lòng
TT – Nửa thế kỷ qua, hành trình gieo chữ Việt cho người Việt trên đất Thái Lan đã trải qua biết bao nhiêu thăng trầm. Nhớ lại những tháng ngày gian nan đi học, đi dạy phải giấu giấu giếm giếm, nhiều thầy cô không giấu được những giọt nước mắt hạnh phúc…
Phóng to |
| Cô giáo Đào Thanh Tẻo (phải) và một cô giáo dạy tiếng Việt ở Đài Loan – Ảnh: Nguyễn Khánh |
Thương nhớ “tiếng nước tôi…”
Bà Đào Thanh Tẻo giờ đã ngoại ngũ tuần. Người phụ nữ thấp đậm, gương mặt tươi tắn, nói tiếng Thái sõi hơn tiếng Việt, khiến phần lớn người gặp bà lần đầu đều lầm tưởng bà là người Thái Lan. Ở lớp bồi dưỡng cho giáo viên dạy tiếng Việt ở nước ngoài tại Hà Nội những ngày tháng 10-2013, bà Tẻo tự nhận là “nói tiếng Việt kém trôi chảy nhất”. Nhưng ít ai biết đó là cô giáo đặc biệt trên đất Thái. Trong câu chuyện lan man với cô giáo Tẻo, chúng tôi mới vỡ lẽ người phụ nữ này đã phải nhiều năm trời giấu thân phận mình dưới vỏ bọc của một người Thái Lan…
Chùa Hà Trung và sư Tạ Nguyên Thiều
Nguyễn Hữu Vinh
Huế không thiếu những ngôi chùa nổi tiếng, không phải vì chùa tọa lạc ở nơi phong cảnh nên thơ, mà vì các chùa đã đóng vai trò quan trọng trong công việc hoằng pháp giáo lý Phật giáo trong suốt thời gian dài trong quá khứ. Quần thể chùa chiền ở Huế đa số đều tập trung vào các vùng lân cận thành phố, phân bố rãi rác về phía Tây Nam của kinh thành. Ðây là dải đất ven bờ sông Hương, phong cảnh thiên nhiên hữu tình, sông núi hiền hòa nên sự có mặt của các ngôi chùa này là điều dễ hiểu. Nhưng có một ngôi chùa rất xưa, không nằm trong dải đất ven bờ sông Hương, núi Ngự hữu tình này và đã bị lãng quên trong suốt thời gian dài. Ðó là chùa Hà Trung.

Từ chùa Thiên Mụ ven theo tả ngạn sông Hương lần đi về thành phố, tạt ngang chùa Báo Quốc, xong hướng về hướng Nam dọc theo quốc lộ 1, đi khoảng 30 km, dần dần sẽ đến vùng gió cát vi vu thơm mùi nước mặn biển cả. Ðó là vùng kề cận đầm Hà Trung phá Tam Giang. Tiếp tục đọc “Chùa Hà Trung và sư Tạ Nguyên Thiều”
Người Jing (Kinh) trên đất Trung Hoa, 500 năm lưu lạc vẫn tự hào hai tiếng Việt Nam
NN – Trong vùng Tam Đảo thuộc tỉnh Quảng Tây, bên Tàu có ba làng người Việt, gọi là Jing (Kinh). Tài liệu tại địa phương cho biết họ đã rời Việt Nam và định cự tại đây khoảng 500 năm. Tuy nhiên, đồng bào Việt vẫn giữ gần như hầu hết các nét đặc thù của dân tộc Việt mặc dù áp lực đồng hóa thường trực của văn hóa Trung Hoa.
Bác sĩ Lê Văn Lân đã đi thăm tận nơi 3 làng Việt bên Tầu vẫn được sống như tự trị ở vùng duyên hải Quảng Tây. Tên ba làng đó là Ô Vĩ, Vu Đầu, Sơn Tâm, thuộc huyện Giang Bình, quen gọi là Kinh Tộc tam đảo. Dân trong ba làng vẫn giữ tiếng nói, kiểu ăn mặc, phong tục Việt, vẫn ăn tết, hát dân ca cổ truyền, dùng đàn bầu, đàn nhị, sáo, trống, cồng. Đồ ăn của họ thì cơm vẫn là chính, dùng nước mắm, lại có xôi chè, bánh tráng nướng, bún riêu, bún ốc. Họ vẫn dùng chữ nôm, và dĩ nhiên cũng nói tiếng Tầu địa phương.
Tiếp tục đọc “Người Jing (Kinh) trên đất Trung Hoa, 500 năm lưu lạc vẫn tự hào hai tiếng Việt Nam”
Tản mạn về từ Hán Việt thời – thì (phần 6.2)
Nguyễn Cung Thông
nguyencungthong@yahoo.com

Trong tiến trình hội nhập với đà tiến hóa của văn minh hiện đại, chúng ta cần phải nhìn lại một cách khác quan vài đặc tính của tư duy người Việt Nam qua các tập tục từ ngàn xưa và phản ánh qua ngôn ngữ cận đại, trọng tâm của loạt bài này. Có hiểu quá trình cấu tạo các khái niệm về thời gian như chữ thời thì mới hy vọng phần nào hiểu được tại sao người Việt Nam thường đi đến các buổi họp mặt (như làm việc, giỗ, tiệc trà, đám cưới …) không theo đúng thời hạn và sau đó là tìm ra các phương pháp cải cách lề lối suy nghĩ không hợp thời như vậy.
Các tính tốt hay tích cực như tinh thần cộng đồng, giúp đỡ lẫn nhau (Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn) thì ráng giữ lấy, còn một số tư duy không phù hợp với thời đại nữa thì cần phải xem lại như ‘chứng bệnh’ giờ cao-su (giờ dây thun). Tiếp tục đọc “Tản mạn về từ Hán Việt thời – thì (phần 6.2)”
Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Giáy
Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.
Chào các bạn,
Tiếp theo Dân ca Gia Rai, mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Giáy hôm nay.
Dân tộc Giáy ở Việt Nam thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái còn có các tên gọi khác bao gồm: Nhắng, Dẳng, Pâu Thìn, Pú Nà, Cùi Chu, Xạ. Người Giáy ở Lào Cai nói nhẹ nhàng, tự gọi tên dân tộc mình là Pú Dáy, tiếp đó là Cấn Dẳng, là tiếng gọi của người Tày, người Kinh chúng ta gọi lớ Dẳng thành Nhắng. Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Giáy”
Con người suy nghĩ bằng bụng, dạ, ruột, gan hay tim … óc?
Tản mạn về từ Hán Việt tư duy (phần 6.1)
Nguyễn Cung Thông
nguyencungthong@yahoo.com
Từ ngày phẫu thuật thay tim thành công, giới y học bắt đầu chú ý đến nhiều trường hợp như câu chuyện về cô Claire Sylvia (1988) sau khi thay tim lại trở nên thích uống bia (cô rất ghét uống bia trước khi thay tim) và có nhiều suy nghĩ khác hơn lúc trước (giống với người đã cho cô trái tim). Ngoài ra có nhiều dữ kiện khoa học cho thấy trái tim không chỉ là cơ quan (máy) bơm mà còn có những tế bào quản lý các tín hiệu như não bộ (có đến 60-65 % tế bào như não bộ) và có khoảng 40000 nơ-ron liên kết với não bộ. Càng ngày càng nhiều dữ kiện cho thấy con người suy nghĩ không chỉ bằng não bộ (đầu) mà còn dùng nhiều bộ phận khác như tim, lòng …



