Chùa Hà Trung và sư Tạ Nguyên Thiều

Nguyễn Hữu Vinh

Huế không thiếu những ngôi chùa nổi tiếng, không phải vì chùa tọa lạc ở nơi  phong cảnh nên thơ, mà vì các chùa đã đóng vai trò quan trọng trong công việc hoằng pháp giáo lý Phật giáo trong suốt thời gian dài trong quá khứ. Quần thể chùa chiền ở Huế đa số đều tập trung vào các vùng lân cận thành phố, phân bố rãi rác về phía Tây Nam của kinh thành. Ðây là dải đất ven bờ sông Hương,  phong cảnh thiên nhiên hữu tình, sông núi hiền hòa nên sự có mặt của các ngôi chùa này là điều dễ hiểu. Nhưng có một ngôi chùa rất xưa, không nằm trong dải đất ven bờ sông Hương, núi Ngự hữu tình này và đã bị lãng quên trong suốt thời gian dài. Ðó là chùa Hà Trung.

Chùa Hà Trung

Từ chùa Thiên Mụ ven theo tả ngạn sông Hương lần đi về thành phố, tạt ngang chùa Báo Quốc, xong hướng về hướng Nam dọc theo quốc lộ 1,  đi khoảng 30 km, dần dần sẽ đến vùng gió cát vi vu thơm mùi nước mặn biển cả. Ðó là vùng kề cận đầm Hà Trung phá Tam Giang. Tiếp tục đọc “Chùa Hà Trung và sư Tạ Nguyên Thiều”

Bắc di cư: Dân Công giáo tị nạn từ miền Bắc và vai trò của họ tại Việt Nam CH, 1954-1959

Posted on by The Observer – NCQT

Nguồn: Peter Hansen (2009). “Bac Di Cu: Catholic Refugees from the North of Vietnam, and Their Role in the Southern Republic, 1954–1959”, Journal of Vietnamese Studies, Vol. 4, No. 3, pp. 173 -211.

Biên dịch và Hiệu đính: Đỗ Hải Yến

Gia Kiệm, một thị trấn khoảng tám mươi ngàn dân, nằm cách thành phố Hồ Chí Minh chừng năm mươi kilômét về phía Bắc, trên đường đến Đà Lạt. Thị trấn nổi bật bởi sự phồn thịnh và quy củ, nhưng điểm đặc biệt nhất là sự phong phú của các nhà thờ Công giáo vốn nằm rải rác trên trục đường chính, chỉ cách nhau vài trăm mét. Gia Kiệm không phải là một cộng đồng lâu đời. Trên thực tế, trước năm 1954, đó còn chưa phải là một ngôi làng. Nhưng vào năm đó, Giám mục Thaddeus Lê Hữu Từ đã chọn Gia Kiệm làm nơi tái định cư cho hàng ngàn dân Công giáo bỏ chạy vào Nam từ Giáo khu Phát Diệm của ông ở miền Bắc. Dân Công giáo từ các giáo khu khác ở miền Bắc như Bùi Chu và Thanh Hóa nhanh chóng gia nhập đoàn giáo dân của Lê Hữu Từ tại Gia Kiệm. Tên của các giáo xứ mới thành lập tại Gia Kiệm gợi nhắc gốc gác miền Bắc của họ: Phát Hải, Thanh Sơn, Phúc Nhạc, Ninh Phát, Kim Thượng, v.v…[1] Tiếp tục đọc “Bắc di cư: Dân Công giáo tị nạn từ miền Bắc và vai trò của họ tại Việt Nam CH, 1954-1959”

Người Jing (Kinh) trên đất Trung Hoa, 500 năm lưu lạc vẫn tự hào hai tiếng Việt Nam

NN – Trong vùng Tam Đảo thuộc tỉnh Quảng Tây, bên Tàu có ba làng người Việt, gọi là Jing (Kinh). Tài liệu tại địa phương cho biết họ đã rời Việt Nam và định cự tại đây khoảng 500 năm. Tuy nhiên, đồng bào Việt vẫn giữ gần như hầu hết các nét đặc thù của dân tộc Việt mặc dù áp lực đồng hóa thường trực của văn hóa Trung Hoa.

Bác sĩ Lê Văn Lân đã đi thăm tận nơi 3 làng Việt bên Tầu vẫn được sống như tự trị ở vùng duyên hải Quảng Tây. Tên ba làng đó là Ô Vĩ, Vu Đầu, Sơn Tâm, thuộc huyện Giang Bình, quen gọi là Kinh Tộc tam đảo. Dân trong ba làng vẫn giữ tiếng nói, kiểu ăn mặc, phong tục Việt, vẫn ăn tết, hát dân ca cổ truyền, dùng đàn bầu, đàn nhị, sáo, trống, cồng. Đồ ăn của họ thì cơm vẫn là chính, dùng nước mắm, lại có xôi chè, bánh tráng nướng, bún riêu, bún ốc. Họ vẫn dùng chữ nôm, và dĩ nhiên cũng nói tiếng Tầu địa phương.

Tiếp tục đọc “Người Jing (Kinh) trên đất Trung Hoa, 500 năm lưu lạc vẫn tự hào hai tiếng Việt Nam”

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – 6 kỳ

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay: Tại sao lại là Johnathan Hạnh Nguyễn ?

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – Kỳ 2: Vào dinh xin chữ ký tổng thống

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – Kỳ 3: Phần thưởng nóng

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – Kỳ 4: Vận động viện trợ nhân đạo, xúc tiến đầu tư…

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – Kỳ 5: Mở đường kiều hối

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – Kỳ 6: Giữ đường bay bằng mọi giá

***

06:21 AM – 18/05/2015 TN

Trong lịch sử hàng không dân dụng VN có một Việt kiều đã chấp nhận mạo hiểm, dám đánh đổi mạng sống của mình để mở đường bay quan trọng, tạo một lối mở ra thế giới cho đất nước từ 30 năm trước…

Lễ đón chuyến bay đầu tiên VN9033 từ TP.HCM đáp xuống Manila vào ngày 9.9.1985 - Ảnh: T.L
Lễ đón chuyến bay đầu tiên VN9033 từ TP.HCM đáp xuống Manila vào ngày 9.9.1985 – Ảnh: T.L

Bây giờ có thể nói việc mở đường bay không quá khó khi mà VN đã gia nhập nhiều tổ chức, bình thường hóa quan hệ với nhiều nước trên thế giới. Chỉ cần có lượng khách đi lại khá thường xuyên là có thể… bay!

Nhưng vào những năm đầu thống nhất đất nước, việc mở đường bay, đặc biệt là bay thẳng đến những nước được gọi là “phía bên kia” không hề dễ dàng chút nào. Phần vì chúng ta chưa thật sự chủ động mở cửa, phần vì lệnh cấm vận của Mỹ còn thắt chặt. Việc ký kết các hiệp định hàng không, mở đường bay thẳng vì thế luôn đối mặt với nhiều khó khăn. Tiếp tục đọc “Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – 6 kỳ”

Tản mạn về từ Hán Việt thời – thì (phần 6.2)

Nguyễn Cung Thông

nguyencungthong@yahoo.com

Image14

Trong tiến trình hội nhập với đà tiến hóa của văn minh hiện đại, chúng ta cần phải nhìn lại một cách khác quan vài đặc tính của tư duy người Việt Nam qua các tập tục từ ngàn xưa và phản ánh qua ngôn ngữ cận đại, trọng tâm của loạt bài này. Có hiểu quá trình cấu tạo các khái niệm về thời gian như chữ thời thì mới hy vọng phần nào hiểu được tại sao người Việt Nam thường đi đến các buổi họp mặt (như làm việc, giỗ, tiệc trà, đám cưới …)  không theo đúng thời hạn và sau đó là tìm ra các phương pháp cải cách lề lối suy nghĩ không hợp thời như vậy.

Các tính tốt hay tích cực như tinh thần cộng đồng, giúp đỡ lẫn nhau (Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn) thì ráng giữ lấy, còn một số tư duy không phù hợp với thời đại nữa thì cần phải xem lại như ‘chứng bệnh’ giờ cao-su (giờ dây thun). Tiếp tục đọc “Tản mạn về từ Hán Việt thời – thì (phần 6.2)”

Việt Nam-Trung Quốc chính thức ký kết Hiệp định về thác Bản Giốc

DT – Việt Nam và Trung Quốc vừa chính thức ký kết Hiệp định khai thác tài nguyên du lịch thác Bản Giốc và Hiệp định về tự do đi lại của tàu thuyền ở cửa sông Bắc Luân.

Với việc ký kết 2 văn kiện pháp lý quan trọng này, Việt Nam và Trung Quốc đã chính thức khép lại hoàn toàn những tranh chấp do lịch sử để lại, mở ra một thời kỳ hợp tác mới giữa hai nước.

Thác Bản Giốc (Ảnh: Trương Cộng Hòa)>
Thác Bản Giốc (Ảnh: Trương Cộng Hòa)

Khu vực thác Bản Giốc và cửa sông Bắc Luân là những khu vực rất nhạy cảm, có lịch sử tranh chấp lâu đời và dư luận hai nước Việt Nam, Trung Quốc đặc biệt quan tâm. Nhiều năm qua, các khu vực này đã được đưa ra bàn bạc trong nhiều vòng đàm phán của Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc Việt Nam-Trung Quốc nhưng chưa giải quyết được. Ngay sau khi hoàn thành phân giới cắm mốc trên đất liền năm 2008, Việt Nam và Trung Quốc nhất trí giải quyết tổng thể các khu vực tồn đọng trong đó có 2 khu vực này bằng giải pháp “cả gói”, dựa trên nguyên tắc công bằng hợp lý, tôn trọng các dấu tích lịch sử, ưu tiên ổn định đời sống cư dân biên giới, phù hợp các văn bản pháp lý do lịch sử để lại. Tiếp tục đọc “Việt Nam-Trung Quốc chính thức ký kết Hiệp định về thác Bản Giốc”

Vụ Nhân Văn Giai Phẩm từ góc nhìn của Đại tá Công an

Được đăng bởi nguyentrongtao
và VANDANVIET.COM

NTT: Nhà văn Lê Hoài Nguyên tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo dõi văn nghệ sĩ và văn hóa) đã gửi tới NTT.ORG một chuyên luận dài về Nhân Văn Giai Phẩm, và chúng tôi đã đăng làm 5 kỳ từ đầu tháng 8/2010, được nhiều trang mạng đăng lại. Nay tác giả đã chỉnh sửa lại bài viết của mình và nhờ NTT.ORG đăng lại trọn vẹn bài viết này. Các bạn hãy đọc nó như đọc một “góc nhìn” về sự thật.

VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM MỘT TRÀO LƯU DÂN CHỦ, MỘT CUỘC CÁCH TÂN VĂN HỌC KHÔNG THÀNH

LÊ HOÀI NGUYÊN


I – Mấy vấn đề có tính phương pháp luận

Hiện nay còn tồn tại nhiều cách đánh giá về vụ Nhân Văn-Giai Phẩm. Có người cực đoan cho rằng cốt lõi đây là vụ án chính trị phản động không dính líu gì đến văn học, mà chỉ có một số anh em văn nghệ sĩ bị lôi kéo vào, Đảng và nhà nước đã không xử án văn nghệ sĩ (1). Người thì cho là một vụ án văn học, thuần túy oan sai về văn học, để đàn áp văn nghệ sĩ, nhà nước đã biến một vụ việc văn học thành một vụ án chính trị. (2).Tât nhiên là để bảo vệ các khuynh hướng, để đánh giá đúng thực chất của Nhân Văn Giai Phẩm không phải dễ dàng, mà phản bác hoàn toàn cũng cần hết sức thận trọng. Tiếp tục đọc “Vụ Nhân Văn Giai Phẩm từ góc nhìn của Đại tá Công an”

Hòa hợp – hòa giải cần đôi mắt mới

(TNO) Thời điểm để đặt ra câu chuyện hòa hợp, hòa giải dân tộc đã trôi qua từ lâu. Vấn đề này hiện nay cần được nhìn nhận dưới những góc độ khác. Nhận định này được Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh, nhà ngoại giao lão thành, nguyên thành viên đoàn đàm phán Hiệp định Paris 1973 chia sẻ với Thanh Niên Online.

>> Hòa hợp tạo ra sức mạnh cho dân tộc

Hòa hợp - hòa giải cần đôi mắt mới - ảnh 1
Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh – Ảnh: Trường Sơn

Ông Huỳnh lý giải: Lúc đầu đàm phán Paris, tư tưởng của ta là giành thắng lợi, buộc Mỹ rút, lập chính phủ liên hiệp và sau đó chính phủ sẽ đoàn kết toàn dân. Điều này có nghĩa là toàn dân Việt Nam dù phe này phe kia, tập hợp ba lực lượng: lực lượng cách mạng, lực lượng đối địch, lực lượng thứ ba cũng sẽ đoàn kết lại dưới sự lãnh đạo của chính phủ liên hiệp. Lúc đó chưa có khái niệm hòa hợp dân tộc. Tiếp tục đọc “Hòa hợp – hòa giải cần đôi mắt mới”

Bí ẩn mồ chôn tập thể lớn nhất Sài Gòn

VEKhu vực vòng xoay Dân Chủ (quận 10 và 3) từng là nơi chôn 1.831 người già, trẻ bị vua Minh Mạng ra lệnh xử tử trong cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi 180 năm trước.

Ngã sáu Công trường Dân Chủ, đường 3/2, Cách Mạng Tháng 8 là khu vực sầm uất tại TP HCM với nhà cao tầng san sát, xe cộ tấp nập. Nhưng ít người biết trước đây nó từng là nghĩa địa lớn nhất Sài Gòn với tên gọi “đồng mồ mả”. Đây cũng là vị trí được cho là có ngôi mộ tập thể (Mả Ngụy) gần 2.000 người già, trẻ, trai, gái bị xử tử vì tội phản nghịch trong cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi vào năm 1833-1835 dưới thời vua Minh Mạng.

bi-n-mo-chon-tap-the-lon-nhat-sai-gon

Bản đồ người Pháp vẽ năm 1878, Sài Gòn tập trung chủ yếu hai bên đường Impériale (nay là Hai Bà Trưng) về phía rạch Thị Nghè và từ đường Chasseloup Laubat (nay là Nguyễn Thị Minh Khai) về hướng sông Sài Gòn và rạch Bến Nghé. Phía còn lại của hai con đường này là ranh giới của một khu vực rộng lớn gần như không có người ở, được họ đặt tên là Đồng Mả Mồ (Đồng Tập Trận).

Tiếp tục đọc “Bí ẩn mồ chôn tập thể lớn nhất Sài Gòn”

Báo Mỹ: Việt Tân đã giết hại hàng loạt nhà báo gốc Việt để bịt miệng

Phóng sự điều tra của chương trình truyền hình Frontline:
Tiếng Anh: Terror in Little Saigon

http://www.pbs.org/wgbh/pages/frontline/terror-in-little-saigon/

Tiếng Việt:

(TNO) Tổ chức Việt Tân mà tiền thân là “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” đã lập ra một đội sát thủ bí mật tên K-9 để ám sát hàng loạt nhà báo gốc Việt có những bài viết chỉ trích tổ chức này trong giai đoạn 1981-1990, theo phóng sự điều tra phát trên chương trình truyền hình nổi tiếng Frontline tối ngày 3.11.2015 (giờ Mỹ).

Nhà báo Duong Trong Lam bị tổ chức ám sát K-9 của nhóm Mặt trận, tiền thân của tổ chức phản động Việt Tân, bắn chết ở San Francisco (Mỹ) năm 1981
Nhà báo Duong Trong Lam bị tổ chức ám sát K-9 của nhóm Mặt trận, tiền thân của tổ chức phản động Việt Tân, bắn chết ở San Francisco (Mỹ) năm 1981

Trong giai đoạn 1981-1990, Việt Tân đã giết chết 5 nhà báo gốc Việt, đốt phá tòa soạn ngay trên đất Mỹ và đe dọa bất kỳ ai dám thách thức mưu đồ tái khởi động chiến tranh Việt Nam của họ. Ngày 3.11.2015 (giờ Mỹ), chương trình truyền hình nổi tiếng Frontline và trang tin điều tra ProPublica cho phát sóng và đăng tải bài phóng sự điều tra Khủng bố ở Little Saigon do nhà báo điều tra Mỹ A.C.Thompson thực hiện. Tiếp tục đọc “Báo Mỹ: Việt Tân đã giết hại hàng loạt nhà báo gốc Việt để bịt miệng”

Mộ các danh thần ở Sài Gòn – 7 kỳ

Mộ các danh thần ở Sài Gòn: Lăng Bình Giang Quận công Võ Di Nguy

TN – Những ngôi mộ của các danh thần triều Nguyễn nằm lặng lẽ tại đất Sài Gòn. Trong số những ngôi mộ cổ có tuổi đời trên dưới 200 năm đó, một số được gìn giữ, thờ cúng, nhưng có cái đã thành phế tích.

Toàn cảnh khu mộ Quận công Võ Di Nguy - Ảnh: H.Đ.NToàn cảnh khu mộ Quận công Võ Di Nguy – Ảnh: H.Đ.N

Đệ nhất công thần

Từ đường Phan Đình Phùng rẽ vào Cô Giang (gần ngã tư Phú Nhuận), ngay đầu đường có tấm biển lớn treo trên cao như cổng chào, ghi hàng chữ “Đền Phú Trung Bình Giang Quận công Võ Di Nguy”.
Tiếp tục đọc “Mộ các danh thần ở Sài Gòn – 7 kỳ”

Tản mạn về nghĩa của “mực tàu” 墨艚 qua từ điển Việt Bồ La (phần 1)

KS Phan Anh Dũng (Huế, Việt Nam)

Nguyễn Cung Thông (Melbourne, Úc)

Lịch sử hình thành tiếng Việt bao gồm nhiều giai đoạn đặc biệt, phản ánh giao lưu ngôn ngữ vùng cũng như lịch sử phát triển dân tộc qua nhiều thời kỳ: từ khi giành lại độc lập từ phương Bắc và khai phá vùng đất phương Nam (Nam Tiến). Phần này chú trọng vào phạm trù nghĩa của cụm danh từ “mực tàu” và khuynh hướng thay đổi nghĩa trong văn bản Hán, Nôm và chữ quốc ngữ hiện nay. Tìm hiểu về hai chữ này là một hoạt động rất thú vị nhưng không kém gian nan, và cũng mở ra nhiều vấn đề cần phải khảo cứu thêm nữa trong quá trình hình thành tiếng Việt. Tiếp tục đọc “Tản mạn về nghĩa của “mực tàu” 墨艚 qua từ điển Việt Bồ La (phần 1)”

Đôi điều về chữ Nôm và giọng Quảng Nam (phần 1)

Nguyễn Cung Thông* (Melbourne, Úc), Vân Hạc** (Hà Nội, Việt Nam)

Tiến trình Nam Tiến của dân tộc Việt.

Vừa nghe lại các bài ca Mưa Chiều Kỷ Niệm, Nỗi Buồn Hoa Phượng, Tình Bơ Vơ … bằng giọng Quảng (Nam), xem trang YouTube này [www.youtube.com] hay http://www.youtube.com/watch?v=IM6dzrmTx8w  … càng nghe càng thấy thấm thía, nhân đây cũng ghi lại vài nhận xét và các dữ kiện liên hệ.

1. Tại sao đọc là Nôm thay vì Nam

Nhắc đến giọng Quảng (Nam) chúng tôi lại nghĩ đến (cách đọc) chữ Nôm 字喃 – tại sao lại đọc là Nôm từ Nam ra Bắc, từ Thừa Thiên đến Rạch Giá …. Đây cũng là giọng Quảng khi phát âm làm thành lồm, Nam thành Nôm … Không những thế, thời vua Trần Nhân Tôn (khi chữ Nôm khởi sắc như qua Cư Trần Lạc Đạo phú …) được Chế Mân nhượng cho Châu Ô và Châu Rí thuộc địa bàn Quảng Nam: cũng là khi người Việt định cư ở các khu này (trong tiến trình Nam Tiến). Do đó, cách đọc chữ Nôm (thay vì chữ Nam) là một dấu ấn thời-không-gian (time-space impression) của ngôn ngữ: thời gian là khi chữ Nôm khởi sắc và cho ra các tác phẩm giá trị (cần thiết cho văn học độc lập cũng như truyền thông ở biên giới phía Nam) hay là vào khoảng thế kỷ XII, XIII ; không gian là địa bàn tỉnh Quảng Nam nơi mà phương ngữ vẫn còn đọc Nam là Nôm. Tiếp tục đọc “Đôi điều về chữ Nôm và giọng Quảng Nam (phần 1)”

Dàn Cảnh Dân Chủ: Nam Việt Nam Trưng Cầu Dân Ý Truất Phế Bảo Đại Năm 1955

Viện Đại Học California
Chương trình Nghiên cứu Vành đai Thái Bình Dương

Năm 2005
Tiến Sĩ Jessica Chapman

Full English text: Staging Democracy – South Vietnam’s 1955 Referandum to Depose Bao Dai

Tóm tắt tiếng Việt của Đào Văn Bình:

Phóng viên Donald Lancaster, người ở Sài Gòn đã và chứng kiến biến cố ồn ào 1955 này, ghi nhận như sau “ Bởi vì Bảo Đại không có cơ hội tự biện hộ cho nên hệ truyền thông và báo chí do chính phủ kiểm sóat đã tha hồ nhục mạ ông.” Lancaster viết “ Diệm thích đánh bại kẻ thù hơn là nói chuyện với kẻ thù, ” và ông kết luận rằng điều này trước mắt đem lại sự ổn định tạm thời cho vùng nông thôn. Tuy nhiên ông hàm ý rằng thái độ đàn áp của Ô. Diệm tạo nên một sự yên bình nho nhỏ trong điều kiện tốt nhất, nhưng không hé mở một chi tiết nào về tương lai chính trị lâu dài của Miền Nam.

Cooper nhớ lại Diệm và Nhu, cả hai đã ra lệnh và khuyến khích vi phạm trắng trợn bầu cử, nhưng người Hoa Kỳ lại cố giữ bộ mặt tốt đẹp cho cuộc bầu cử. Lúc bấy giờ, với sự hợp tác của người Hoa Kỳ, Diệm có thể đạt được mọi mục đích và củng cố quyền lực tại NamViệt Nam vào cuối năm 1955. Tuy nhiên theo Cooper, những chương trình và chính sách của Diệm từ thời điểm đó “ đã đưa tới thảm họa không sao tránh khỏi.” Tiếp tục đọc “Dàn Cảnh Dân Chủ: Nam Việt Nam Trưng Cầu Dân Ý Truất Phế Bảo Đại Năm 1955”

Trôi dạt dòng đời

Chào các bạn,

“Trôi dạt dòng đời” là tiều thuyết luận đề, bắt đầu câu truyện có lẽ từ những năm đầu thế kỷ 20 và kéo dài đến những năm đầu của thập niên 1960. nói về truyền thống văn hóa cổ của Việt Nam (Khổng, Phật, Lão), với văn hóa mới Công giáo, và tư tưởng Mác Lê cùng cuộc cách mạnh Cộng sản. Các nhân vật của các tiểu thuyết luận đề thường là nhân vật tổng hợp, và các sự kiện cũng thường là sự kiện tổng hợp, nhưng là tổng hợp của những nhân vật và sự kiện có thật.

Vì vậy, các tiểu thuyết luận đề có thể xem là những phân tích lịch sử dưới dạng một tiểu thuyết.

Tác giả là bạn của mình, có thạc sĩ Triết, là người đáng tin. Các thu gọn của bạn về các hiện tượng lịch sử, tôn giáo, chính trị ở đây, mình đồng ý là khá chính xác và công bình. Và mình cũng thán phục tác giả đã có cái nhìn rất trung thực và nghiêm khắc đối với Công giáo, bằng những biểu tượng nói đến sự mục nát của giáo hội Công giáo VN, dù chính bạn là người Công giáo. Tuy vậy, bạn cũng thấy được ánh sáng của Thánh linh Chúa trong giới tạm gọi là “dòng phụ” hay “đạo theo”, không phải là dòng chính. Mình cũng đồng ý về điểm này, vì chính mình thấy điều đó. Dù ma quỷ có làm gì, thì Thánh linh luôn tồn tại. Tiếp tục đọc “Trôi dạt dòng đời”