Dạy thêm, học thêm chỉ là hệ quả của nền giáo dục còn nặng về học thi và nhiều rào cản khiến cho học sinh khó vào lớp 10 và đại học.
Vấn đề này sẽ được tháo gỡ khi Bộ Giáo dục và Đào tạo tiến hành phổ cập giáo dục đại học để giúp học sinh vào đại học dễ dàng. Đây là giải pháp gốc rễ cho tình trạng học thêm, dạy thêm vốn khó kiểm soát và gây tranh cãi tại VN suốt nhiều năm qua.
“Tỉ lệ người học đại học Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới.” Chỉ khoảng 28,3% số người trong tuổi đại học, 18 đến 29 tuổi, là có học đại học. Đây là vấn đề đau đớn và tai hại cho phát triển đất nước. Có nghĩa là, chúng ta bỏ phí 71,7% đầu óc thanh niên. Không học đại học thì cũng có thể phát triển đầu óc làm việc khác, nhưng nói chung thì không được học đại học là mất đi cơ hội lớn để phát triển đầu óc. Và đó là một lãng phí cực kỳ lớn cho đất nước, chẳng lãng phí tiền bạc nào có thể so sánh được. Tiếp tục đọc “Giáo dục đại học cho tất cả mọi người”→
Khi mới tiếp nhận công tác tuyển sinh, tôi được sếp dặn: “Tuyệt đối không để thí sinh và gia đình phải nhận những bất ngờ bất lợi, không được có chi phí ẩn, mọi thứ phải minh bạch”.
Tôi lắng nghe và coi đó như sự tử tế tất yếu của mọi cơ sở giáo dục. Nhưng từng mùa tuyển sinh trôi qua, ở lâu trong ngành, tôi nhận thấy không phải ở đâu cũng dễ dàng có được sự minh bạch.
Xuất phát từ chủ trương xã hội hóa các dịch vụ công cách đây gần 20 năm, việc các cơ sở giáo dục đại học đua nhau tăng học phí gần đây có thể khiến giáo dục đại học của Việt Nam phát triển không bền vững.
Khối ngành Y dược có học phí đắt nhất và tăng mạnh nhất trong những năm gần đây. Ảnh: Khoa Y dược, trường Đại học Y dược, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Gần đây báo chí rầm rộ đưa tin mức học phí cho năm học 2024-2025 của nhiều trường đại học tăng đáng kể so với mức học phí năm học 2023-2024. Ví dụ, trường Đại học Y Dược (Đại học Quốc gia Hà Nội) tăng gấp đôi học phí so với năm học trước, lên đến 55 triệu đồng/năm. Sinh viên trường ĐH Luật TP.HCM năm học 2024-2025 phải đóng học phí cao hơn năm trước từ 4 triệu đến 16,5 triệu đồng/năm tùy chương trình. Trường ĐH FPT áp dụng mức học phí cho sinh viên nhập học mới năm 2024 với mức tăng học phí từ 1,8-2 triệu đồng/học kỳ.
Hiện nay chính sách tín dụng cho sinh viên mới chỉ hướng đến đối tượng là giúp sinh viên nghèo khó khăn vay vốn tại ngân hàng chính sách. Trong khi đó, đối tượng muốn vay vốn đi học không chỉ có sinh viên nghèo. Điều này đang đặt ra cho các trường đại học (ĐH) bài toán về cân bằng nguồn lực tài chính của người học và học phí.
Học phí không ngừng tăng
Nghị định 81 của Chính phủ về cơ chế học phí cho học sinh, sinh viên giai đoạn 2021 – 2025 có hiệu lực từ năm 2021. Nhưng đến nay chưa triển khai do ảnh hưởng của dịch COVID-19. Tuy nhiên, từ năm nay, dự định sẽ áp dụng mức học phí mới, tuy không tăng cao đột ngột theo lũy tiến cộng dồn 3 năm nhưng cũng là 2 năm. Vì vậy học phí là gánh nặng với nhiều sinh viên gia đình có thu nhập trung bình, trung bình khá ở vùng ngoại thành.
Theo quy định, học phí sẽ tăng dần đều hằng năm 10%. Như vậy học phí năm học cuối (năm thứ tư) tăng gần 45% so với năm thứ nhất.
Hai ngày sau công bố điểm chuẩn, Hoàng Thu Giang (một nữ sinh tại Thái Bình) vẫn chưa thể vượt qua cú sốc “đầu đời” rằng mình đã trượt đại học dù em được 25 điểm và đăng ký 8 nguyện vọng.
Thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT năm 2021. Ảnh: Huyên Nguyễn
Điểm cao vẫn trượt đại học
Nhận kết quả điểm thi tốt nghiệp THPT, Hoàng Thu Giang khá vui mừng khi em được 25 điểm tổ hợp A00 (Toán, Lí, Hoá). Với mức điểm này, Giang tự tin đăng ký vào ngành Công nghệ thông tin và ngành Kinh tế. Em sắp xếp nguyện vọng ưu tiên hai nhóm ngành này có mức điểm tương đương điểm của mình năm trước, sau đó thêm nguyện vọng vào một số ngành “chống trượt” với mức điểm chuẩn năm ngoái thấp hơn điểm của Giang vài điểm.
“Sau khi nghiên cứu điểm chuẩn của năm 2020, em khá tự tin khi đăng ký nguyện vọng năm nay ở tổ hợp A00 vào các ngành Kinh tế, Công nghệ thông tin. Thế nhưng sau khi xem điểm chuẩn năm 2020, em mới tá hỏa vì cả 8 nguyện vọng của em đều trượt hết. Ngay cả ngành “chống trượt” cũng tăng gần 3 điểm so với năm ngoái”, Giang chia sẻ.
Giang kể thêm: “Em không thể tin nổi vào mắt mình khi chỉ thiếu 0,25 điểm để đỗ nguyện vọng số 8, còn nguyện vọng số 7 vào Quản trị Kinh doanh của Học viện Chính sách và Phát triển cũng tăng 3 điểm nên em cũng thiếu 0,5 điểm”, Giang nói.
TTCT – Cuộc bàn thảo về giáo dục gần đây của nhiều chuyên gia, nhà giáo, trí thức… đọng lại trong dư luận xã hội nỗi buồn về sự “lạc lối” của giáo dục nước nhà. Trong đó, đầu bảng là kiểu dạy và học chỉ để đi thi, lấy bằng mà “bộ đề thi” (giai đoạn 1988-1997) là một ví dụ.
“Sơ yếu lý lịch” bộ đề
Trong một lần trả lời phỏng vấn gần đây, GS Nguyễn Cảnh Toàn nhắc đến cụm từ “bộ đề thi” để nói về một giải pháp sai lầm lớn nhất mà Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp lúc đó (gọi tắt là Bộ ĐH) đã triển khai. “Tôi là một trong những người đã cảnh báo: ra bộ đề thi thì sẽ dẫn tới học tủ. Và học tủ thì mất tính sáng tạo, học tủ thì không còn quá trình nỗ lực nữa rồi, nghĩa là anh chỉ nhớ lấy một cái tủ rồi làm theo cái hình mẫu ấy. Thế nhưng Bộ ĐH không nghe” – ông nhớ lại.
It’s been a bumpy few years for international education — and 2022 could bring more of the same. Later in this newsletter, I’ve got predictions from readers about what this year holds for the field.
Here are three big questions I expect to be asking in my reporting. Will a hybrid approach to international education stick?
Even more than the rest of higher education, international ed prioritizes the experiential. Global mobility, both inbound and outbound, has prized immersion in culture and place. Covid-19 disrupted that: Many international students were forced to study remotely from their home countries. Virtual education abroad and internships replaced semesters in Barcelona and Rome.Let’s be blunt: Many of these experiences were not ideal. But as the pandemic has worn on, we’ve all become better at virtual. It also offers opportunity: Virtual exchange can open international study to the 90 percent of U.S. undergraduates who don’t go abroad. Transnational education may bring an American education to students who can’t spend four years here. At the same time, concerns about sustainability have led students and educators alike to approach international travel more deliberately. In the post-pandemic future, will virtual and hybrid compliment the in-person? Or will they continue to be viewed, and resourced, as second class?
Can international education diversify? For a field that is global, it can sometimes look homogenous: U.S. colleges draw students predominantly from a handful of countries and send them out to a relatively small number of nations. Partnerships are clustered in certain parts of the world. Some institutions are deeply global, while many others have minimal international programming. We want to diversify participation in international experiences, but those of us drawn to this work don’t necessarily look like the students we hope to attract. (And yes, I include myself among the “we.”)Change has been coming, but it’s been incremental. Will the pandemic jumpstart diversification and transformation? Or, under pressure to do more with less, will the status quo be reinforced?
Will the pandemic help make the case for internationalization? Back in 2019, I wrote about whether the “golden era” for international education was over — if there had ever been one. The pandemic may offer even more of an inflection point. On one hand, it underscores the importance of the global connections made on campus — the swift development of Covid vaccines simply would not have been possible without multinational teams of researchers, many of them former international students. As international enrollments tumbled, the absence of foreign students made visible their critical importance to campus diversity and to college budgets. Even the Biden administration has recognized the value of international education and pledged to take a more proactive and consistent approach to sustaining it.Still, there will undoubtedly be college leaders who see the disruption to international mobility as a litmus test and decide that it is a discretionary activity that their students can do without. Belt-tightening and burnout has forced thousand of international educators from the field, and many won’t be back. Even some veterans have told me how discouraged they are by Washington policies that work as cross-purposes with attracting international students as well as their struggles to make the case to administrators. Which vision will win out?Your forecasts for the year ahead are below. But first some news…
NUS said the best elements of Yale-NUS and its own University Scholars Programme will form the basis of a yet-to-be-named new college.ST PHOTO: CHONG JUN LIANG
Gần đây, giáo dục Việt Nam liên tục ghi nhận những trường được cấp phép và hoạt động phi lợi nhuận, mô hình đã chứng minh hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học tại một số nước tiên tiến. Tuy nhiên, dường như sự khác biệt giữa mô hình đại học tư thục không vì lợi nhuận và vì lợi nhuận ngày càng mang tính hình thức hơn là thực chất, và điều này tạo ra các kẽ hở pháp lý mà một số bên có thể lợi dụng.
Everglades College từng là trường tư vì lợi nhuận được Arthur Keiser mua lại, xin được cơ chế trở thành trường tư không vì lợi nhuận. Nhưng một thời gian sau Everglades lại mua trường Keiser vì lợi nhuận của chính Arthur Keiser. Tờ Nytimes đã có bình luận “Một số nhà đầu tư của đại học tư nhân đã thu lợi bẩn nhờ vào quá trình phi lợi nhuận”. Nguồn ảnh: Nytimes.
– Bao nhiêu phần trăm sinh viên đại học, học viên cao học ở các cơ sở đào tạo của Việt Nam biết cách viết một bài tiểu luận đảm bảo tiêu chuẩn về đạo đức học thuật? Bao nhiêu phần trăm biết cách trích dẫn đúng trong một luận văn, luận án tốt nghiệp?
Con số đó là cực kỳ thấp, kể cả ở những trường đại học tốp đầu Việt Nam. Đó là nhận định của chính các giảng viên đang giảng dạy trong trường đại học. Thậm chí, một bộ phận lớn vẫn còn rất xa lạ với khái niệm “đạo văn” và mới chỉ dừng lại ở những hiểu biết sơ khai về vấn đề này.
Sinh viên Việt Nam: Ý thức chống đạo văn gần như bằng 0
Australia has long been seen as failing to fully capitalise on its ground-breaking research. A consultation paper on university research commercialisation is the latest federal government effort to increase the impact of research. Its focus is on creating incentives for industry-university collaboration to translate and commercialise research.
Any government scheme resulting from these consultations might boost the number of such collaborations. Yet our research suggests many of these projects are unlikely to reach their full potential unless academics and their research partners working in industry strengthen their collaborative relationships.
Academics are increasingly expected to share their research widely beyond academia. However, our recent study of academics in Australia and Japan suggests Australian universities are still very much focused on supporting the production of scholarly outputs. They offer relatively limited support for researchers’ efforts to engage with the many non-academics who can benefit from our research.
One reason engagement is expected is that government, industry and philanthropic sources fund research. And when academics share their research with the public, industry and policymakers, this engagement is good for the university’s reputation. It can also lead to other benefits such as research funding.