Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Kháng

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Hrê, mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Kháng hôm nay.

Dân tộc Kháng, tên tự gọi: Mơ Kháng, còn có các tên gọi khác là: Xá Khao, Xá Xúa, Xá Đôn, Xá Dâng, Xá Hộc, Xá Ái, Xá Bung, Quảng Lâm, Háng, Xá, Brển.

Nhóm địa phương: Kháng Dẩng, Kháng Hoặc, Kháng Dón, Kháng Súa, Ma Háng, Bư Háng, Ma Háng Bẻng, Bư Háng Cọi… ở Sơn La cư trú tại các huyện Mường La, Quỳnh Nhai, Thuận châu. Tiếng Kháng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me, ngữ hệ Nam Á. Người Kháng chưa có chữ viết riêng.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Kháng ở Việt Nam có dân số 13.840 người, cư trú tại 25 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Kháng cư trú tập trung tại các tỉnh: Sơn La (8.582 người, chiếm 62,0% tổng số người Kháng tại Việt Nam), Điện Biên (4.220 người, chiếm 30,5% tổng số người Kháng tại Việt Nam), Lai Châu (960 người). Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Kháng”

Hồi giáo của người Chăm ở Việt Nam – Những yếu tố bản địa

TCNVVH – NGUYỄN THỊ THANH VÂN 

Tóm tắt

Người Chăm là dân tộc duy nhất ở Việt Nam theo Hồi giáo. Hồi giáo thế giới có những luật lệ khắt khe nhưng khi du nhập vào cộng đồng người Chăm nó đã bị biến đổi rất nhiều và mang đậm tính nhân văn tộc người bởi sức sống mãnh liệt của truyền thống văn hóa bản địa. Đó chính là đặc trưng văn hóa Chăm – Nền văn hóa gắn liền và bị chi phối một cách mạnh mẽ bởi sự đan xen và dung hòa của tín ngưỡng và tôn giáo.

Người Chăm ở Ninh Thuận

Tiếp tục đọc “Hồi giáo của người Chăm ở Việt Nam – Những yếu tố bản địa”

Dân ca Dân nhạc VN – Dân ca Hrê (H’rê)

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Hoa, mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Hrê.

Dân tộc Hrê còn có tên gọi khác là Chăm Rê, Chom Krẹ, Lùy. Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me, ngữ hệ Nam Á.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Hrê ở Việt Nam có dân số 127.420 người, cư trú tại 51 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Hrê cư trú tập trung tại các tỉnh: Quảng Ngãi (115.268 người, chiếm 90,5% tổng số người Hrê tại Việt Nam), Bình Định (9.201 người), Kon Tum (1.547 người), Đắk Lắk (341 người), Gia Lai (128 người),

Người Hrê làm lúa nước từ lâu đời, kỹ thuật canh tác lúa nước của người Hrê tương tự như vùng đồng bằng Nam Trung bộ. Người Hrê chăn nuôi trước hết nhằm phục vụ các lễ cúng bái, riêng trâu còn được dùng để kéo cày, bừa. Nghề đan lát, dệt khá phát triển, nhưng nghề dệt đã bị mai một qua mấy chục năm gần đây. Tiếp tục đọc “Dân ca Dân nhạc VN – Dân ca Hrê (H’rê)”

Dân ca Dân nhạc VN – Dân ca Hoa

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Hà Nhì, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Hoa.

Dân tộc Hoa (Trung văn giản thể: 华; Trung văn phồn thể: 華) là những người gốc Trung Hoa định cư ở Việt Nam và đa số có quốc tịch Việt Nam. Các tên gọi khác: Khách Trú, người Hán, người Tàu, Ba Tàu. Nếu xếp theo phân loại của nước Trung Hoa hiện thời thì họ là dân tộc Hán. Đây là một trong các dân tộc tại Việt Nam có dân số giảm trong 10 năm (1999-2009) theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam. Tiếp tục đọc “Dân ca Dân nhạc VN – Dân ca Hoa”

Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Hà Nhì

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Gié Triêng, mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Hà Nhì hôm nay.

Người Hà Nhì (tên tự gọi: Haqniq, tiếng Hán: 哈尼族 Hānízú, Cáp Nê tộc), tên gọi khác: U Ní, Xá U Ní là một trong 54 dân tộc sống trên đất nước Việt Nam.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Hà Nhì ở Việt Nam có dân số 21.725 người, cư trú tại 32 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Hà Nhì cư trú tập trung tại các tỉnh: Lai Châu (13.752 người, chiếm 63,3% tổng số người Hà Nhì tại Việt Nam), Lào Cai (4.026 người), Điện Biên (3.786 người), gồm 3 nhóm địa phương: Cồ Chồ, Là Mi và Hà Nhì Đen. Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Hà Nhì”

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương chính là sự minh triết

VietNamNet – Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương chính là sự minh triết hay nói cách khác đó chính là ý thức hệ cơ bản của dân tộc được tạo nên bời các nhà tri thức, các bậc minh quân từ buổi đầu trong quá trình hình thành và định hình quốc gia tự chủ.
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương thành di sản UNESCO
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương xứng đáng là di sản UNESCO


Biểu tượng Vua Hùng và “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” là một hình tượng của một hệ ý thức dân tộc sâu sắc như một sự minh triết được ông cha lưu truyền tới thế hệ ngày nay bằng truyền thuyết.
Tiếp tục đọc “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương chính là sự minh triết”

Về Những Người Mang Kiểu Mặt ‘Tâm Linh’

thayboi

Tản văn

1.
Trong truyện Kiều, khi đề cập đến một nhân vật xấu – điển hình cho phe phản diện – là Tú bà, mụ chủ lầu xanh chuyên buôn bán gái tơ, thì chỉ với vài nét chấm phá, thi hào Nguyễn Du đã vạch ra một diện mạo xấu xí, đầy phản cảm, thật phù hợp với nghề nghiệp của mụ ta: “Thoắt trông nhờn nhợt màu da”. Ngược lại, khi giới thiệu một nhân vật tốt – điển hình cho phe chính diện – là Từ Hải, lãnh tụ quân khởi nghĩa, Nguyễn Du cũng chỉ cần chấm phá gẫy gọn “Râu hùm, hàm én, mày ngài” mà nên diện mạo đẹp sáng, đầy oai phong của vi “khách biên đình”. Tiếp tục đọc “Về Những Người Mang Kiểu Mặt ‘Tâm Linh’”

Hội Minh Thề: Chỉ dân thề trung thực, quan không thề

21/02/2016 14:13

(NLĐO)- Theo truyền thống dân thề “trung thực, ngay thẳng” , quan thề “không tham nhũng”, song tại lễ Hội Minh Thề ngày 21-2 chỉ có dân thề, còn quan chức thì nói: “Đây là lễ hội của người dân trong thôn, để cho người trong thôn thề!”.

Ngày 21-2 (tức 14 tháng Giêng năm Bính Thân), tại đền chùa Hòa Liễu, xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy (TP Hải Phòng) đã diễn ra lễ khai hội Minh thề – lễ hội thường niên vào ngày 14 tháng Giêng âm lịch nhằm tái dựng nghi lễ những người làm quan thề “không tham nhũng” và những nông dân thề “trung thực, ngay thẳng”.

 Những người nông dân tuyên thề: trung thực, ngay thẳng tại lễ hội Minh Thề

Những người nông dân tuyên thề: trung thực, ngay thẳng tại lễ hội Minh Thề

Tại lễ Hội Minh Thề vào sáng 21-2, khi được hỏi “có dám uống rượu Kim Kê và thề không”, các quan chức huyện Kiến Thụy đều nói “chúng tôi đã thề trước Đảng và nhân dân rồi, còn ở đây là lễ hội của người dân trong thôn, để cho người trong thôn thề!”.

Trong khi đó, ông Phạm Phú Oanh, chủ lễ Hội Minh Thề, cho biết: “Chúng tôi rất mong muốn lễ hội truyền thống với ý nghĩa nhân văn sâu sắc này các chức sắc của xã, huyện và cao hơn cùng uống rượu thề thì sức lan tỏa còn lớn rộng nữa”.

Tiếp tục đọc “Hội Minh Thề: Chỉ dân thề trung thực, quan không thề”

Phân biệt Chùa, Đình, Đền, Miếu, Nghè, Điện, Phủ, Quán, Am,…

Đình làng Đình Bảng
Đình làng Đình Bảng
(hanhtrinhtamlinh.com) Trong đời sống văn hóa tâm linh của người Việt Nam có rất nhiều nơi thờ cúng khác nhau như đình, đền, chùa, miếu, phủ, quán, am,…Nhưng không phải ai cũng hiểu được ý nghĩa của những địa điểm thờ cúng đó. Cho nên có rất nhiều người đi chùa mà không hiểu được ý nghĩa của việc đi chùa, ở gần nhà có cái đình mà cũng không hiểu vì sao cái đình lại “mọc” lên ở đó,…

Vì vậy, chúng tôi đã biên tập bài viết này để giúp bạn đọc dễ dàng phân biệt được các địa điểm thờ cúng khác nhau, hiểu được ý nghĩa của việc thờ cúng và những nhân vật được thờ cúng trong đó. Tiếp tục đọc “Phân biệt Chùa, Đình, Đền, Miếu, Nghè, Điện, Phủ, Quán, Am,…”

Thời mạt pháp là đây

Các bạn muốn biết thời mạt pháp hiện nay thế nào?

Hãy xem 2 videos dưới đây:

1. Sư mang cà sa, hát nhạc tình (10 Năm Tình Cũ) trong chánh điện của chùa, trước các tượng Phật và Phật bà Quan âm.

2. Một đoàn phụ nữ mặc áo tràng (là áo chỉ mặc trong đạo tràng) nhảy múa như điên trong đại điện của Chùa, có 3 sư ngồi đó.

Nam mô A di đà Phật, xin chư Phật chư Bồ tát cứu khổ cứu nạn chúng con.

Phần1

Phần2

Bắc di cư: Dân Công giáo tị nạn từ miền Bắc và vai trò của họ tại Việt Nam CH, 1954-1959

Posted on by The Observer – NCQT

Nguồn: Peter Hansen (2009). “Bac Di Cu: Catholic Refugees from the North of Vietnam, and Their Role in the Southern Republic, 1954–1959”, Journal of Vietnamese Studies, Vol. 4, No. 3, pp. 173 -211.

Biên dịch và Hiệu đính: Đỗ Hải Yến

Gia Kiệm, một thị trấn khoảng tám mươi ngàn dân, nằm cách thành phố Hồ Chí Minh chừng năm mươi kilômét về phía Bắc, trên đường đến Đà Lạt. Thị trấn nổi bật bởi sự phồn thịnh và quy củ, nhưng điểm đặc biệt nhất là sự phong phú của các nhà thờ Công giáo vốn nằm rải rác trên trục đường chính, chỉ cách nhau vài trăm mét. Gia Kiệm không phải là một cộng đồng lâu đời. Trên thực tế, trước năm 1954, đó còn chưa phải là một ngôi làng. Nhưng vào năm đó, Giám mục Thaddeus Lê Hữu Từ đã chọn Gia Kiệm làm nơi tái định cư cho hàng ngàn dân Công giáo bỏ chạy vào Nam từ Giáo khu Phát Diệm của ông ở miền Bắc. Dân Công giáo từ các giáo khu khác ở miền Bắc như Bùi Chu và Thanh Hóa nhanh chóng gia nhập đoàn giáo dân của Lê Hữu Từ tại Gia Kiệm. Tên của các giáo xứ mới thành lập tại Gia Kiệm gợi nhắc gốc gác miền Bắc của họ: Phát Hải, Thanh Sơn, Phúc Nhạc, Ninh Phát, Kim Thượng, v.v…[1] Tiếp tục đọc “Bắc di cư: Dân Công giáo tị nạn từ miền Bắc và vai trò của họ tại Việt Nam CH, 1954-1959”

Chuyện trưởng thôn tự tử vì lợn nái đẻ toàn con đực

(LĐĐS) – Số 45 ƯU ĐÀM – VANDUCDUNG@GMAIL.COM – 1:7 PM, 22/11/2015

Chuồng nuôi con lợn nái nhà anh Lanh đẻ toàn con đực khiến anh Lanh phải treo cổ tự tử.

Chỉ vì quan niệm lợn nái đẻ toàn con đực hoặc toàn con cái sẽ mang xui xẻo đến cho dân làng mà một vị trưởng thôn đã treo cổ tự tử. Những cái chết vì chuyện không đâu khiến dân làng cho rằng “con ma bắt” từ đó sinh hoang mang, lo lắng và lũ lượt bỏ làng ra đi.

Nóc (bản) Ông Đại (thôn 2, xã Trà Dơn, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam nằm chót vót trên đỉnh núi. Từ trung tâm xã lên đây phải mất một giờ đi xe máy và thêm ngần ấy thời gian đi bộ. Ngoài những cánh rừng già đang cạn kiệt vì nạn phá rừng thì ở ngôi làng xa xôi này chẳng có gì khác ngoài nghèo đói và hủ tục. Giữa cánh rừng già, ngôi làng vốn yên bình quanh năm mây phủ này bỗng bao trùm một màu u ám sau cái chết của anh Xuân Ngọc Lanh (31 tuổi). Cái chết của vị trưởng thôn trẻ tuổi khiến người dân hết sức hoang mang vì họ tin rằng anh Lanh bị “con ma rừng” bắt treo cổ chết vì không chịu giết thịt con lợn nái đã từng đẻ toàn con đực. Tiếp tục đọc “Chuyện trưởng thôn tự tử vì lợn nái đẻ toàn con đực”

Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Giáy

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Gia Rai, mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Giáy hôm nay.

Dân tộc Giáy ở Việt Nam thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái còn có các tên gọi khác bao gồm: Nhắng, Dẳng, Pâu Thìn, Pú Nà, Cùi Chu, Xạ. Người Giáy ở Lào Cai nói nhẹ nhàng, tự gọi tên dân tộc mình là Pú Dáy, tiếp đó là Cấn Dẳng, là tiếng gọi của người Tày, người Kinh chúng ta gọi lớ Dẳng thành Nhắng. Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Giáy”

Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Gia Rai (Jrai)

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Ê Đê, mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Gia Rai (Jrai) hôm nay.

Người Gia Rai hay Jrai, là một dân tộc nói tiếng Gia Rai thuộc hệ ngôn ngữ Nam Đảo. Người Gia Rai còn có các tên gọi khác là người Giơ Rai, Chơ Rai, Tơ Buăn, Hơbau, Hdrung, Chor hay Gia Lai.

Người Gia Rai là một nhánh lớn của tộc người Rang Đê cổ hay còn gọi là người Ê Đê cổ được ghi chép khá nhiều trong các bia ký Chăm Pa, sự tấn công của đế quốc Mông Cổ, sau này là Nam Tiến của người Việt đã đẩy bộ phận người Chăm Pa lên vùng bình nguyên Cheo Reo hòa hợp với người Ê Đê cổ tạo ra nhóm tộc người tự gọi là Anak Jarai tức con cái của Jarai. Trong văn hóa và tính cách của người Gia Rai có nhiều yếu tố Chăm Pa trung đại so với người Ê Đê chịu ảnh hưởng đứt gãy của yếu tố Lâm Ấp Chăm Pa cổ đại. Người Gia Rai còn giữ được yếu tố ngôn ngữ Rang Đê cổ đó là ngôn ngữ đa âm hơn so với người Ê Đê láng giềng. Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Gia Rai (Jrai)”

Duy trì tục chém lợn trong lễ hội Ném Thượng

15/10/2015 12:37

(TNO) Trong công văn Sở VH-TT-DL Bắc Ninh vừa gửi Cục Văn hóa cơ sở, sở này cho biết tiếp tục duy trì phong tục chém lợn ở làng Ném Thượng, nhưng có điều chỉnh.

Le-hoi-chem-lon
Vẫn duy trì tục chém lợn trong lễ hội Ném Thượng

Sở VH-TT-DL cho biết, nghi lễ chém lợn sẽ được đưa từ sân đình vào một khu vực riêng kín đáo. Nhà tổ chức cũng sẽ không để nhân dân nhúng tiền vào máu lợn.

Đây cũng là nội dung đã được kết luận trong hội nghị ngày 16.9 vừa qua về lễ hội Ném Thượng. Để tăng cường hiệu lực công tác quản lý và tổ chức lễ hội, hội nghị thống nhất bảo tồn các nghi thức truyền thống, tuy nhiên có điều chỉnh để tránh gây phản cảm. Tiếp tục đọc “Duy trì tục chém lợn trong lễ hội Ném Thượng”