CAO VỌNG CỦA BỌN THANH NIÊN AN NAM

Thư viện số Nguyễn An Ninh

Tối 15/10/1923, sau khi từ Paris về Nam Kỳ, Nguyễn An Ninh có bài diễn thuyết bằng tiếng Pháp tại Hội Khuyến học Nam Kỳ với chủ đề “L’idial de la Jeunesse Annamite” (Lý tưởng của thanh niên An Nam). Bài diễn thuyết sau đó được đăng trên tờ La Cloche Fêlée (Tiếng Chuông rè) số 5 và số 6 ngày 7 và 14/1/1924. Năm 1926, Nguyễn An Ninh dịch bài diễn thuyết ra tiếng Việt với tiêu đề “Cao vọng của bọn thanh niên An Nam” và in thành sách khổ nhỏ bỏ túi bán cho nhân dân.

Theo tôi, thanh niên ta ngày nay cần nên tránh nói về Tổ Quốc và lòng Yêu nước, mà chỉ nên tập trung sức lực để đi tìm tòi cho ra bản ngã của mình. Khi mà ta đã xác định được bản thân ta, thì hai chữ Tổ Quốc và Yêu nước sẽ trở thành những danh từ rộng lớn hơn, cao thượng hơn, thanh nhã hơn đối với ta, mà chúng ta sẽ phải hổ thẹn vì trong lúc còn ngu dốt, chúng ta đã pha trọn vào hai chữ Tổ quốc và Yêu nước những ý nghĩa thấp kém, hèn mạt nữa. Đến ngày mà tuổi trẻ An Nam không còn thấy suy tôn những mảnh bằng cấp nữa, bất chấp các thành kiến xã hội, xem thường áo mão cân đai dát vàng của bọn tay sai của thực dân, khinh miệt dáng vẻ bên ngoài trịnh trọng của các vị thân giả, khinh miệt những lời ca ngợi các tài năng giả tạo, những năng lực bất lực.

Thưa các ông,

Năm ngoái, cũng tại đây, trong một buổi thuyết trình ngắn, tôi có đề cập đến vấn đề “cần xây dựng cho dân An Nam ta một nền văn hoá”.

Tiếp tục đọc “CAO VỌNG CỦA BỌN THANH NIÊN AN NAM”

Khi rừng cộng đồng chưa thực sự thuộc về cộng đồng

Với anh chị em đồng bào thiểu số ở rừng núi của chúng ta, rừng là cha, là mẹ và là đấng rất mực thiêng liêng. Có lẽ không có ai hiểu rừng và yêu rừng bằng họ. Mấy ngàn năm nay, con cháu của 50 người con theo mẹ Âu Cơ lên núi đã duy trì danh tiếng gìn giữ và phát triển rừng rất tốt. 

Nay chúng ta đã có luật để cộng đồng (dân tộc thiểu số) làm chủ rừng, thì hãy để cộng đồng làm chủ rừng thật sự, thay vì “cộng đồng làm chủ, Nhà nước quản lý”, và Nhà nước cho doanh nghiệp phá rừng làm “dự án” mà không hỏi ý kiến của cộng đồng chủ.

Các cộng đồng dân tộc thiểu số đã là chủ rừng mấy ngàn năm nay, vậy chúng ta hãy tôn trọng truyền thống lâu đời đó.

PTH

  • Vi Chring: Khi rừng cộng đồng chưa thực sự thuộc về cộng đồng
  • Làm gì để cộng đồng thực sự thành chủ rừng, được hưởng lợi từ rừng?
  • Nhìn lại mô hình cộng đồng tham gia quản lý rừng:
    Bài 1: Hiệu quả từ sự chung tay
    Bài 2: Nhiều vướng mắc trong giao rừng

***

Vi Chring: Khi rừng cộng đồng chưa thực sự thuộc về cộng đồng

nature.org – 15/10/2020

Vi Chring - khi rừng cộng đồng chưa thực sự thuộc về cộng đồng -  ThienNhien.Net | Con người và Thiên nhiên

Từ năm 2007, cộng đồng thôn Vi Chring (xã Hiếu, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum) được giao quản lý, bảo vệ 808 ha rừng sản xuất là rừng tự nhiên. Gần 15 năm trôi qua, họ đã bỏ ra không ít công sức miệt mài canh giữ với niềm tin sẽ được hưởng lợi từ rừng. Thế nhưng, bên cạnh một số hỗ trợ tài chính từ các dự án phi lợi nhuận và từ chính phủ, nhân dân thôn Vi Chring vẫn chưa được khai thác bền vững để thực sự hưởng lợi từ rừng.

Trong khi đó, việc thu hồi 9,87 ha rừng cộng đồng Vi Chring để xây dựng đường dây 500 kV mạch 3 đã cho thấy số phận mong manh của các khu rừng cộng đồng. Một mặt, người dân không được tiếp cận với phần gỗ vốn thuộc về họ được khai thác từ hành lang an toàn điện, nhưng mặt khác, một doanh nghiệp lại được giao tận thu gỗ, để rồi ngang nhiên tận thu cả vào phần rừng nằm ngoài phạm vi cho phép.

Tiếp tục đọc “Khi rừng cộng đồng chưa thực sự thuộc về cộng đồng”

Thiếu hụt bác sĩ ở vùng sâu, vùng xa

Không phải vùng sâu vùng xa thiếu chuyên gia chăm sóc sức khỏe. Anh chị em đồng bào thiểu số của chúng ta bao ngàn năm nay vẫn có chuyên gia chăm sóc sức khỏe cho họ, chỉ là người Kinh chúng ta không công nhận trí tuệ của họ mà thôi.

Với người Kinh, Tây y (và Đông y) là đỉnh cao trí tuệ. Thế nên những Êđê y, Dao Đỏ y, Chăm y… đều là thuộc dạng mà “bác sĩ” Kinh ta lắc lắc đầu: “Đây là vấn đề sống chết, không thể bừa phứa được”.

Nhà nước hãy để già làng/ trưởng bản công nhận những người trong thôn/ xóm/ bản làng có khả năng chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe cho cả cộng đồng đó.

Hãy tôn trọng cách sống của anh chị em đồng bào mình, đồng thời giúp cho nền y học của nước nhà được phong phú hơn.

PTH

***

Đồng Nai thiếu bác sĩ

SGGPO – 06/08/2025 16:25

Ngành Y tế tỉnh Đồng Nai đang đối mặt với tình trạng thiếu nguồn nhân lực y tế, nhất là ở các xã vùng sâu, vùng xa và biên giới. Do đó, địa phương có nhiều chính sách đào tạo, hỗ trợ và thu hút y bác sĩ về cơ sở y tế làm việc, nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và chăm lo sức khỏe người dân.

Tiếp tục đọc “Thiếu hụt bác sĩ ở vùng sâu, vùng xa”

Tại sao Việt Nam lại không phát triển được như Hàn Quốc và Nhật Bản mặc dù có nguồn tài nguyên tương đương với hai nước này? – Why did Vietnam fail to develop like South Korea and Japan despite having similar resources as these two countries?

SOURYU 蒼龍 · 

Kỹ sư Thiết kế Điện tử và Kết cấu (2003–nay)Cập nhật 1 năm trước http://www.quora.com

Câu trả lời này có thể hơi phản cảm.

Là một kỹ sư, tôi đã có dịp tiếp xúc với công nhân Việt Nam trong một nhà máy cách đây 20 năm. Phải nói rằng người Việt Nam, đặc biệt là đàn ông Việt Nam ở miền Nam, có tính cách rất giống với công nhân Ấn Độ. Thiếu tinh thần chuyên nghiệp, không thích tuân thủ kỷ luật, thích nói khoác, hiệu suất lao động thấp (tốt hơn người Ấn Độ), và thích tìm lý do bào chữa cho thất bại của mình. Họ cũng giỏi bịa ra những tai nạn không có thật để lừa đảo công ty tiền bồi thường. Họ thích cờ bạc, và một số người có thói quen uống rượu không tốt.

Các quan chức Việt Nam và Ấn Độ cũng rất giống nhau, tham nhũng hơn nhiều so với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Tuy nhiên, phụ nữ Việt Nam rất chăm chỉ và tốt bụng, và tôi nghĩ rằng đại đa số đàn ông Việt Nam không xứng đáng với họ.

Tiếp tục đọc “Tại sao Việt Nam lại không phát triển được như Hàn Quốc và Nhật Bản mặc dù có nguồn tài nguyên tương đương với hai nước này? – Why did Vietnam fail to develop like South Korea and Japan despite having similar resources as these two countries?”

“Tiếng Việt từ TK 17: một số cách dùng như đạo bụt, giáo bụt … kiếp, nghiệp, kệ, pháp môn, mục liên, tì lô …” (phần 50B)

Nguyễn Cung Thông

Phần này bàn thêm về một số cách dùng Phật giáo từ các tài liệu chữ quốc ngữ vào TK 17 – hay từ thời LM de Rhodes và các giáo sĩ Tây phương sang Á Đông truyền đạo: đạo bụt/tượng bụt, giáo bụt … kiếp, nghiệp, kệ, pháp môn, mục liên, tì lô, mục/mộc mỗi …

Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh/Bồ (chữ quốc ngữ), điều này cho ta dữ kiện để xem lại một số cách đọc chính xác hơn so với các dạng chữ Nôm cùng thời, cũng như thông tin về một số sinh hoạt xã hội/tôn giáo từ những nhân chứng lịch sử (mắt thấy tai nghe).

Tiếp tục đọc ““Tiếng Việt từ TK 17: một số cách dùng như đạo bụt, giáo bụt … kiếp, nghiệp, kệ, pháp môn, mục liên, tì lô …” (phần 50B)”

Kỳ thị và xâm phạm truyền thống văn hoá của các tộc người theo mẫu hệ

Tóm lại, ở các tộc người ấy vì nam giới “không có quyền, nên không có trách nhiệm”. Cho nên, những bà vợ của họ “càng có quyền càng khổ”. Lối giải thích này tạo một ấn tượng sai lạc rằng trong các cộng đồng mẫu hệ thì “chị em ta” là nhất, “bọn đàn ông” chẳng có ký lô nào! Tai hại hơn, nó biến những người đàn ông thiếu ý thức trách nhiệm, bê tha rượu chè, làm khổ vợ con thành những người đáng được cảm thông, và biến chế độ mẫu hệ thành kẻ tội đồ!

Trong khi sự thật là dù trong chế độ mẫu hệ hay phụ hệ thì quan hệ, đời sống và hạnh phúc gia đình tốt hay xấu, trước hết là do ở con người. Nếu nói trong chế độ mẫu hệ giới đàn ông vì “không có quyền nên không có trách nhiệm” thì chẳng lẽ dưới chế độ phụ hệ, tất cả đàn ông, với quyền lực trong tay, đều rất có tinh thần trách nhiệm đối với cuộc sống gia đình?

Với những cách hiểu, cách giải thích, cách đánh giá như vậy, sẽ không phải là điều lạ nếu có ai đó trong những người hoạch định, thừa hành pháp luật, chính sách có ác cảm và có cách đối xử sai lầm đối với chế độ mẫu hệ của các tộc người thiểu số. Chẳng thế mà trong Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số, người ta đã đưa tập quán “Người con bị bắt buộc phải mang họ của người mẹ” của chế độ mẫu hệ vào danh mục “Các phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình cần vận động xoá bỏ” (Phụ lục B).

Theo chúng tôi, dù chỉ là “vận động xoá bỏ” chứ không phải là “nghiêm cấm”, quy định đó cũng thể hiện một cái nhìn kỳ thị và xâm phạm truyền thống văn hoá của các tộc người theo mẫu hệ.

(Trích Nam quyền trong chế độ mẫu hệ ở Việt Nam)

  • Nam quyền trong chế độ mẫu hệ ở Việt Nam
  • Danh mục các tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình

Tiếp tục đọc “Kỳ thị và xâm phạm truyền thống văn hoá của các tộc người theo mẫu hệ”

Tác Phẩm Thái Công Tụng

alt



Các bài viết của GS. THÁI CÔNG TỤNG

Huong Pham <nhuthuong1975@gmail.com>

(Update Jan. 5, 2018)
​Xin phổ biến/đăng tải rộng rãi.
Rất đa tạ.
Thay mặt Anh Em nhóm Lymha,
Hà Trung Liêm​

CÁC BÀI VIẾT CỦA GIÁO SƯ THÁI CÔNG TỤNG ĐƯỢC ĐĂNG TẢI TẠI TRANG BLOG MEKONG-CUULONG.
(Để đọc bài xin bấm vào đường kết nối màu xanh)

1. Sông ngòi miền Bắc Việt Nam

2. Sông ngòi miền Trung

3. Sông ngòi miền Cao Nguyên Việt Nam

4. Đặc tính các vùng sinh thái miền Châu thổ sông Cửu Long

5. Rừng, lá phổi của nhân loại

6. Ngỡ lòng mình là rừng

7. Nước và con người

8. Năng Lượng Xanh

9. Môi trường và phát triển bền vững

10. Cao nguyên phố núi cao phố núi mù sương

11. Bình Trị Thiên: môi trường tự nhiên và hướng phát triển

12. Hoạch định và phát triển nông nghiệp dựa vào các vùng thiên nhiên ở Nam Việt Nam – Tập san Sử Địa, tập 25, 1/3/1973

13. Các đại tuyệt chủng sinh vật trong lịch sử điạ chất

CÁC BÀI KHẢO CỨU CỦA GIÁO SƯ THÁI CÔNG TỤNG ĐƯỢC LƯU GIỮ TẠI KHO GOOGLE DRIVE CỦA NHÓM  LYMHA
(Để đọc bài, xin bấm vào đường kết nối màu xanh)

14. Miền Nam

15. Non cao tuổi vẫn chưa già

16. Khí hậu và con người trong thi ca Việt

17. Quyển sách của thầy tôi

18. Chữ Tâm trong văn học Việt

19. Biến Đổi Khí Hậu Và Con Người

20. Biển và con người

21. Góp phần biến đổi Việt Nam qua tác phảm tình tự với thiên nhiên và cuộc sống

22. Lửa, một yếu tố của Tứ Đại

23. Một ngàn ngày trên triền núi Himalaya

24. Thế giới thực vật qua thi ca Việt Nam

25. Thực vật trong văn hóa Phật giáo

26. Tìm hiêu sinh thái nhân văn trong gia đình Việt Nam

27. Hỡi anh đi đường cái quan

Đạo diễn Đặng Thái Huyền: Phim “Mưa đỏ” mang thông điệp hòa hợp dân tộc

27/08/2025 14:25

VTV.vn – Nữ đạo diễn chia sẻ về quá trình làm phim “Mưa đỏ” và khát vọng truyền tải giá trị hòa bình cho thế hệ hôm nay.

Trong cuộc trò chuyện với Thời báo VTV, NSƯT, Thượng tá Đặng Thái Huyền – Phó Giám đốc Điện ảnh Quân đội nhân dân và ekip đã khẳng định: Sáng tạo điện ảnh không có giới hạn giới tính, chỉ có sự tận hiến và trách nhiệm với lịch sử. Bộ phim không chỉ tái hiện chiến tranh, mà còn truyền tải giá trị hòa bình, tình yêu và niềm tin cho thế hệ hôm nay.

PV: Sau khi phim Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối đạt thành tích khá tốt dịp A50, chị có cảm thấy áp lực doanh thu khi ra mắt Mưa đỏ dịp A80 không?

Đạo diễn Đặng Thái Huyền: Tôi nghĩ rằng việc xuất hiện nhiều phim đề tài lịch sử – chiến tranh là tín hiệu đáng mừng để khích lệ những người làm phim như chúng tôi, và cả thế hệ trẻ có thể tiếp tục xông pha vào dòng phim được xem là “khó, khổ và khô” này. Với tôi, đó không phải áp lực, mà là niềm hạnh phúc và động lực.

Đạo diễn Đặng Thái Huyền: “Mưa đỏ” mang thông điệp hòa hợp dân tộc- Ảnh 1.
Đạo diễn và những nhân viên đoàn phim tại bối cảnh quay.

Tiếp tục đọc “Đạo diễn Đặng Thái Huyền: Phim “Mưa đỏ” mang thông điệp hòa hợp dân tộc”

Singapore Unravelling the secret files of Separation: Declassified

Channelnewsasia.com It is an image etched in the minds of generations – the black-and-white footage of Lee Kuan Yew blinking back tears on Aug 9, 1965.  But what else lay behind that seminal moment and the familiar story of Singapore’s separation from Malaysia? Over five months, we sifted through hundreds of declassified files in the archives of Singapore, the United Kingdom and Australia. These were telegrams marked “top secret” – unvarnished correspondence between British officials; private and frank memos between leaders; and raw, very personal letters perhaps never meant for public eyes. Some of what we found in the archives was jaw-dropping.
A letter from the night before separation by the British High Commissioner, described how he raced to find the Tunku, pleading for a postponement of the announcement. There were reports about threats to arrest Lee,  and later, a communist plot to assassinate him. We found a letter in which an Indonesian diplomat expressed “glee” at the separation, mocking Malaysia with an “I told you so”. And perhaps even more shocking to us, the revelation that the British had secretly stored nuclear weapons at Tengah Air Base as part of its Cold War strategy.
The challenge wasn’t finding material but narrowing it down. We focused on the 100 days surrounding independence. Our litmus test for a “must-include” point? If it made us text each other with a “OMG, read this”. But at the heart of the series is the people behind the letters and behind the history-making decisions – their anxieties, their doubts, their feelings of humiliation and betrayal. And decades on, the poignancy of their children and grandchildren reading the words they had written. We hope Separation: Declassified lets you see a familiar story anew – not as a chapter in a textbook, but as lived, human history. Yuxin Peh and Clarisse Goh Producers, Separation: Declassified

 “Tiếng Việt từ TK 17: một số cách dùng Phật giáo như đạo bụt/tượng bụt/lạy bụt/thờ bụt so với bút … luân hồi, vô thường  …” (phần 50)

Nguyễn Cung Thông

Phần này bàn về một số cách dùng Phật giáo từ các tài liệu chữ quốc ngữ vào TK 17 – hay từ thời LM de Rhodes và các giáo sĩ Tây phương sang Á Đông truyền đạo: đạo bụt/tượng bụt, lạy bụt, thờ bụt, nặn bụt, khấn bụt, chú bụt, bắt bụt … cột phướn làm chay, luân hồi, Thích ca, vô thường, đi tu, ăn năn tội… Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh/Bồ (chữ quốc ngữ), điều này cho ta dữ kiện để xem lại một số cách đọc chính xác hơn so với các dạng chữ Nôm cùng thời, cũng như thông tin về một số sinh hoạt xã hội/tôn giáo từ những nhân chứng lịch sử (mắt thấy tai nghe).

Ngoài ra, liên hệ giữa hai âm bútbụt khá rõ nét qua dạng kí âm bằng chữ quốc ngữ; nhưng ít người biết là tương quan bút – bụt còn để lại dấu ấn trong loại chữ ô vuông (chữ Hán) khi truy nguyên. Tiếp tục đọc ” “Tiếng Việt từ TK 17: một số cách dùng Phật giáo như đạo bụt/tượng bụt/lạy bụt/thờ bụt so với bút … luân hồi, vô thường  …” (phần 50)”

When literature became propaganda

Six books you didn’t know were propaganda

economist.com

Governments influence a surprising amount of literature. Some of it pretty good

Omar Sharif in a scene from the film Dr Zhivago in 1965
Image: Landmark Media

Nov 3rd 2023|8 min readListen to this story

AI Narrated

“ALL ART is propaganda”, wrote George Orwell in 1940, “but not all propaganda is art.” Few people would argue with the second part of that aphorism. There is nothing artistic about the dreadful ramblings of “Mein Kampf”. But the first seems true only if you are using a broad definition of propaganda. These days great works of art rarely set out to serve the purposes of a government. They may promote causes, but that is not normally why people esteem them. The books on this list, however, partially vindicate the first part of Orwell’s assertion. Governments or ideological groups either encouraged their authors to write them or promoted their writings for political ends. During the cold war Western intelligence agencies subsidised authors, sometimes very good ones. The CIA set up literary magazines in France, Japan and Africa. One purpose was to counter censorship by autocrats. Another was to make global culture friendlier to Western aims. British intelligence services commissioned works of fiction that supported empire. Some writers consciously offered their pens to the state; others did not realise that governments or groups would promote their work. Here are six books, all by authors of merit, that are works of propaganda in one way or another.

Tiếp tục đọc “When literature became propaganda”

Nhức nhối lựa chọn giới tính thai nhi

Nhức nhối lựa chọn giới tính thai nhi

  • Kỳ 1: Nhiều bệnh viện lớn công khai làm trái luật
  • Kỳ 2: Điểm mặt các ‘trùm’ môi giới
  • Kỳ 3: Xuất ngoại ‘săn’ con trai

***

TT – 13/01/2025 10:25 GMT+7

Nhức nhối lựa chọn giới tính thai nhi – Kỳ 1: Nhiều bệnh viện lớn công khai làm trái luật

THU HIẾN, TRÚC QUYÊN, ĐAN THUẦN

19 năm qua (từ năm 2006), chênh lệch giới tính khi sinh ở Việt Nam vẫn ở mức rất cao, có năm 114 bé trai/100 bé gái. Và bình quân mỗi năm Việt Nam có gần 46.000 thai nhi gái không được chào đời, theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA).

Người Việt ra cả nước ngoài để chọn giới tính thai nhi. Trong ảnh: bác sĩ của một bệnh viện ở Thái Lan tư vấn, mô phỏng quy trình thực hiện IVF lựa chọn giới tính thai nhi – Ảnh: TRÚC QUYÊN

Nhóm phóng viên Tuổi Trẻ đã có nhiều ngày vào Nam ra Bắc, sang tận Thái Lan – nơi được những tay môi giới lựa chọn giới tính thai nhi gọi là “trung tâm công nghiệp tạo ra con người” – để tìm câu trả lời cho câu hỏi: Vì sao chênh lệch giới tính khi sinh ở Việt Nam vẫn ở mức cao đáng báo động?

Tiếp tục đọc “Nhức nhối lựa chọn giới tính thai nhi”

Watch The British-Soviet Invasion of Iran (1941)

briliantmap.com

The Anglo-Soviet invasion of Iran (Operation Countenance) occurred in August 1941, during World War II.

The invasion was carried out jointly by the United Kingdom and the Soviet Union, aiming primarily to secure Iranian territory against Axis influence and protect critical supply routes.

Here’s a comprehensive overview:

Lead-Up and Reasons

Strategic Importance:

  • Iran had a strategically critical position, particularly as a transportation corridor between the Allies and the Soviet Union.
  • Iranian infrastructure, notably the Trans-Iranian Railway, offered a route for delivering vital supplies from the Allies (mostly Britain and the U.S.) to the USSR following Germany’s invasion (Operation Barbarossa) in June 1941.

Iranian Position and Axis Influence:

  • Although officially neutral, the Iranian ruler Reza Shah Pahlavi sympathized with Germany, partially due to historical rivalry with Britain and Russia.
  • Germany had established substantial diplomatic and commercial influence in Iran, with many German nationals working in strategic industries, raising fears of espionage and sabotage among the Allies.

Diplomatic Tensions:

  • Britain and the Soviet Union demanded Iran expel German nationals perceived as threats; Iran hesitated or refused, increasing Allied suspicions and tension.

Invasion: Operation Countenance

Date and Execution:

Began on August 25, 1941, when British forces advanced from the south and west, while Soviet forces attacked from the north.

Rapid military operations overwhelmed Iran’s defenses, which were relatively weak and poorly equipped compared to the invading powers.

Key Events:

  • British forces captured key oil fields in Khuzestan (Abadan), securing critical petroleum resources.
  • Soviet troops quickly took control of northern provinces, including major cities such as Tabriz and Mashhad.
  • Air and naval superiority allowed quick suppression of Iranian resistance.

Iranian Response: The Iranian army, despite fighting briefly in several locations, was rapidly overwhelmed, with significant casualties but limited overall resistance.

Tehran quickly realized the futility of resistance and began negotiations.

Tiếp tục đọc “Watch The British-Soviet Invasion of Iran (1941)”

Những nghiên cứu về chính sách di dân ở Việt Nam

Bộ Y Tế – Cục Dân Số

Để thực hiện mục tiêu chiến lược phân bố dân số phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội đất nước và củng cố quốc phòng, ngay từ những năm 1960 của thế kỷ trước, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm phân bố lại dân cư và lao động trong cả nước bằng những chính sách cụ thể như: chính sách vận động nhân dân đi xây dựng kinh tế mới, chính sách định canh định cư ổn định di dân tự do, chính sách di dân ổn định biên giới… Gần đây nhất là các chính sách di dân để phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mục tiêu dân sinh trên một số địa bàn miền núi, vùng sâu, biên giới, để vừa đảm bảo cho khai hoang phát triển kinh tế, vừa đảm bảo mục tiêu quốc phòng, an ninh. Đánh giá tình hình thực hiện các chính sách di dân của Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ, đã có một số công trình nghiên cứu, các ấn phẩm, bài viết về thực hiện chính sách di dân.

Các nghiên cứu về chính sách di dân


1. Các nghiên cứu về tình hình thực hiện chính sách di dân xây dựng kinh tế mới, di dân định canh định cư, di dân ổn định biên giới.
Một trong những nghiên cứu đề cập khá toàn diện đến chính sách di dân là công trình của Đặng Nguyên Anh về Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội ở các tỉnh miền núi [1]. Trong nghiên cứu này, tác giả đã đi sâu tìm hiểu các loại hình di dân nổi bật ở miền núi trong những năm 1990, bao gồm di dân kinh tế mới, định canh, định cư di dân tự do và di dân ổn định biên giới, chỉ ra thực chất của các loại hình di dân này là loại hình di dân nông thôn – nông thôn. Đặc biệt là nghiên cứu đã đánh giá tổng quan về các chính sách di dân trên ba loại hình, phân tích những mặt được và chưa được trong chủ trương chính sách đối với các loại hình di dân nêu trên. Nhấn mạnh mặt được lớn nhất của chính sách di dân là phân bố lại lao động – dân cư, giãn dân đến những vùng vắng dân, thưa dân, vùng còn nhiều tài nguyên đất để phát triển kinh tế, đảm bảo quốc phòng, an ninh, biên giới. Đồng thời chỉ ra mặt hạn chế của chính sách là nhiều quy định của chính sách đã bộc lộ sự bất cập, ít khả thi như chính sách di dân kinh tế mới với quy mô đầu tư dàn trải, thiếu đồng bộ, mang tính bình quân và chưa tính đến những đặc trưng riêng của từng vùng. Công tác định canh định cư mặc dù được lồng ghép trong các chính sách hỗ trợ cho miền núi song chưa đem lại hiệu quả như mong muốn, chưa góp phần ổn định đời sống của đồng bào tộc người thiểu số ở các tỉnh miền núi.


Quá trình đánh giá thực trạng, kiểm định hiệu quả của các chính sách di dân đối với các loại hình di dân, tác giả đã đi sâu phân tích, đánh giá đặc điểm chủ yếu của các cộng đồng di dân, dựa trên kết quả khảo sát mẫu của đề tài với 7 tỉnh tại miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Kết quả cho thấy, người di cư có cuộc sống tương đối ổn định và có mục đích di cư lâu dài, ổn định cuộc sống. Tuy có sự khác nhau giữa các địa phương trong nội dung các chính sách di dân và định hướng phát triển kinh tế – xã hội, song mức độ hiểu biết về chính sách của người dân địa phương và nhận thức của cán bộ quản lý còn nhiều hạn chế. Khả năng tiếp cận được các chính sách hiện hành phụ thuộc rất nhiều vào công tác thông tin, tuyên truyền và sự triển khai thực hiện đến người dân bằng các lợi ích cụ thể, dù dưới loại hình di dân nào. Vì vậy, việc xây dựng và thực hiện một hệ thống chính sách đồng bộ và hiệu quả, phù hợp với tình hình di dân và điều kiện phát triển kinh tế – xã hội ở các tỉnh miền núi hiện nay là rất cần thiết.

Tiếp tục đọc “Những nghiên cứu về chính sách di dân ở Việt Nam”

Bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số – Trăn trở của những người trong cuộc (chuỗi 3 bài)

QDND.vn

Bài 1: Những người giữ hồn văn hóa dân tộc giữa lòng Thủ đô

Bài 2: Tiếng lòng từ chủ thể văn hóa

Bài 3: Để chủ thể văn hóa tiếp tục phát huy tâm huyết với vốn di sản quý báu 

Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc nói chung và di sản văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng luôn là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta, được đặt trong tổng thể sự phát triển quốc gia, dân tộc. Thời gian qua, nhờ các chính sách tích cực, hiệu quả, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của đồng bào các dân tộc thiểu số được quan tâm bảo tồn, tôn vinh và phát huy giá trị, góp phần quan trọng nâng cao đời sống tinh thần đồng bào các dân tộc, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn những hạn chế, bất cập cần quan tâm khắc phục. Báo Quân đội nhân dân giới thiệu loạt bài “Bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số – Trăn trở của những người trong cuộc”.

Bài 1: Những người giữ hồn văn hóa dân tộc giữa lòng Thủ đô

Tại “Ngôi nhà chung” Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (Sơn Tây, Hà Nội), chúng tôi đã gặp những Nghệ nhân Ưu tú, những người bằng tình yêu, trách nhiệm và cả những băn khoăn, trăn trở đang ngày ngày bền bỉ, lặng thầm giữ gìn hồn cốt văn hóa dân tộc. Họ không chỉ là những người trực tiếp bảo tồn di sản văn hóa mà còn thắp lên ngọn lửa đam mê, truyền cảm hứng để những giá trị quý báu không bị lãng quên, mai một.

Lớp cha trước, lớp con sau

Tiếp tục đọc “Bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số – Trăn trở của những người trong cuộc (chuỗi 3 bài)”