Huyền thoại “một ăn ba trăm” hay ảo giác về năng suất lúa ở đất phương Nam

Văn hóa

PHẠM HOÀNG QUÂN 8/5/2022 6:00 GMT+7

TTCTĐối với một di sản rất quan trọng về lịch sử Đàng Trong như Phủ biên tạp lục thì nội dung có vài điều sai trật cũng là điều bình thường, nhưng phải thấy rằng có những câu trong đó mà người đời nay càng dẫn thì càng làm giảm giá trị tổng thể sách ấy, như trường hợp huyền thoại “một ăn ba trăm”. Cái lỗi lớn của học giới đương thời là thay vì chú giải những điểm bất hợp trong tư liệu cổ thì lại tin theo rồi trích dẫn tán tụng nhơn rộng thêm ra

 Nông dân Nam Kỳ gặt lúa, -ảnh chụp năm 1925. -Ảnh: Pictures from History / Alamy

Tiếp tục đọc “Huyền thoại “một ăn ba trăm” hay ảo giác về năng suất lúa ở đất phương Nam”

Sự “điêu tàn” của một nền điện ảnh

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Xin mượn tạm tên tập thơ của thi sĩ họ Chế để miêu tả cảnh tượng cơ quan cũ của tôi trong ngày 30 tháng 4 lịch sử, cùng tâm trạng chung của nhiều cô bác, anh chị em từng làm việc tại đây: Hãng phim truyện VN, 4 Thụy Khuê Hà Nội, cơ sở làm phim truyện lớn nhất nước – mặc dù tính chất Điêu tàn mới chỉ nói được phần nào cái vẻ ngoài của hiện tượng cũng như bản chất sự việc…

Nếu một họa sĩ thiết kế phim truyện đang có ý định xây dựng bối cảnh về một Công ty, hay một Gia tộc từng có thời hoàng kim nay bị phá sản, rồi bị thời gian vùi trong lãng quên – chắc sẽ phải reo lên sung sướng, vì cái bối cảnh tự nhiên đang bày ra kia có giá trị thuyết phục hơn bất kỳ sự tưởng tượng của những họa sĩ điện ảnh tài ba nhất! 

Tiếp tục đọc “Sự “điêu tàn” của một nền điện ảnh”

Chùm ảnh: Đà Lạt những năm 1989-1990 qua ống kính Doi Kuro

redsvn

Loạt ảnh khó quên về Đà Lạt thập niên 1990 được đăng tải trên trang Facebook của nhiếp ảnh gia Nhật Bản Doi Kuro. Đà Lạt thập niên 1990 trong ảnh của Doi Kuro

Bên trong một quán cà phê ở Đà Lạt năm 1989.

Hai cha con trên một con đường ở Đà Lạt năm 1990.

Tiếp tục đọc “Chùm ảnh: Đà Lạt những năm 1989-1990 qua ống kính Doi Kuro”

Ảnh khó quên về miền Trung thập niên 1990 của Doi Kuro

redsvn

Khi du lịch chưa bùng nổ, cuộc sống ở Hội An, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Phan Thiết, Phan Rang thập niên 1990… toát lên sự chân chất, mộc mạc. Ảnh khó quên về miền Trung thập niên 1990 của Doi Kuro

Hình ảnh được đăng tải trên trang Facebook của nhiếp ảnh gia Nhật Bản Doi Kuro.

Vẻ thanh bình của Hội An năm 1989.

Tiếp tục đọc “Ảnh khó quên về miền Trung thập niên 1990 của Doi Kuro”

100 bức ảnh tuyệt vời về Sài Gòn thập niên 1990 của Doi Kuro

redsvn

Trên trang Facebook của mình, nhiếp ảnh gia Nhật Bản Doi Kuro đã đăng tải một loạt ảnh đặc sắc do ông thực hiện ở Sài Gòn thập niên 1990.

Trong các năm 1989 – 1990, Doi Kuro đã di dọc mảnh đất Việt Nam và chụp hàng trăm bức ảnh đời thường rất sinh động bằng máy ảnh phim. Ông cũng đã trở lại Việt Nam nhiều lần trong các năm 1996 – 1999 và thực hiện một số bộ ảnh khác vào giai đoạn này.

Dưới đây là gần 100 bức ảnh về Sài Gòn qua ống kính của Doi Kuro.

100 bức ảnh tuyệt vời về Sài Gòn thập niên 1990 của Doi Kuro

Hàng bóng bay và những người đạp xích lô, 1989.

Tiếp tục đọc “100 bức ảnh tuyệt vời về Sài Gòn thập niên 1990 của Doi Kuro”

Hệ lụy kéo dài của một dự án thủy điện

Hoàng Thanh/nld.com.vn – 22/04/2022

Sau 9 năm thu hồi đất để làm thủy điện Đắk Đrinh là tình trạng dân làng đánh nhau vì tranh giành đất, là khu tái định cư bỏ hoang, mục nát vì dân không ở.

Những ngôi nhà tái định cư bỏ hoang, không có người ở

Thủy điện Đắk Đrinh nằm trên địa bàn 2 tỉnh Kon Tum và Quảng Ngãi với công suất 125 MW. Năm 2013, để thực hiện dự án này, hàng trăm hộ dân của xã Đắk Nên, huyện Kon Plong, tỉnh Kon Tum đã phải nhường toàn bộ nhà cửa, đất đai của mình. Đến nay, sau 8 năm kể từ khi thủy điện hoàn thành, chi phí bồi thường vẫn chưa được giải quyết dứt điểm. Theo ông Trần Thanh Minh, Chủ tịch UBND xã Đắk Nên, huyện Kon Plông, chỉ riêng ở xã này thì chủ đầu tư vẫn còn nợ hơn 33 tỉ đồng tiền bồi thường, hỗ trợ các hộ bị ảnh hưởng.

Tiếp tục đọc “Hệ lụy kéo dài của một dự án thủy điện”

Huế – những tháng ngày sục sôi – 10 Kỳ

***

Huế – những tháng ngày sục sôi – Kỳ 1: Những giọt nước tràn ly

 Tuổi Trẻ –  05/01/2012 21:22:00 Nguyễn Đắc Xuân

Đây là những hồi ức sống động về một thời xuống đường tranh đấu chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm của lực lượng sinh viên Huế. Là người trong cuộc, sinh viên Nguyễn Đắc Xuân, nay là nhà nghiên cứu nổi tiếng, đã tường trình những gì xảy ra tại Huế từ năm 1963, và tác động của nó đối với chính trường miền Nam lúc ấy.

Tôi là một sinh viên nghèo, gia đình ở nông thôn, chỉ gắn với Huế ở chỗ ngồi trong lớp học và bên cạnh tấm bảng đen, ở những gia đình tôi đến làm gia sư trên đường Phan Bội Châu (Phan Đăng Lưu ngày nay) và đường Trần Hưng Đạo, trước chợ Đông Ba. Trong môi trường đại học, dù có quy chế tự trị nhưng thực chất Tổng hội Sinh viên Đại học Huế lúc đó do đoàn sinh viên Công giáo nắm giữ. Những sinh hoạt đó xa lạ với tôi nên tôi luôn đứng bên tổ chức của sinh viên. Nhưng bất ngờ…

Giám mục Ngô Đình Thục (giữa), tổng thống Ngô Đình Diệm (phải) và cố vấn Ngô Đình Nhu  – Ảnh tư liệu

Tiếp tục đọc “Huế – những tháng ngày sục sôi – 10 Kỳ”

UN Women helps ease climate risks for ethnic minority farmers in mountains of Viet Nam

UNwomenDate: Friday, 21 May 2021

Author: Thao Hoang

Quang Kim, Viet Nam — The villagers of the Giay ethnic minority are often at the mercy of the weather, so UN Women is helping them avert losses in their main livelihoods of farming and raising chickens and fish.

Quang Kim, a commune in Ta Trang village near the capital of Lao Cai province in northern Viet Nam, is often hit by flash floods and landslides during the storm season.

Quang Kim, shown here on 6 April 6, 2021 is always at high risk of flooding. Photo: UN Women/Thao Hoang

Quang Kim, shown here on 6 April 6, 2021 is always at high risk of flooding. Photo: UN Women/Thao Hoang

“The income of my family depends much on planting rice and selling chicken and fish, but all were buried by the flood in October last year,” said Ho Thi Nhung, 38, who lives here with her husband and two sons. “In recent years the weather has become more unpredictable and extreme, and more rains make the chickens easily get sick and die. … Every six months I raised around 100 chickens, but more than half of them could not survive.”

Tiếp tục đọc “UN Women helps ease climate risks for ethnic minority farmers in mountains of Viet Nam”

Đạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa Thực dân tại Việt Nam – Phần I – Chương I: Cuộc viễn chinh Nam Kỳ: Một vấn đề Gia Tô giáo

 ĐPNN – 12/06/2010 17:28:00TS Cao Huy Thuần

image

Đêm 31-8-1858, một hạm đội do Đề đốc Rigault de Genouilly chỉ huy xuất hiện ở Đà Nẳng . Ngày 1-9 viên chỉ huy, sau khi thúc giục các quan ta phải giao thành lũy trong hai giờ, đã cho quân Pháp và Tây Ban Nha đổ bộ lên bờ . Sau một trận khá dữ dội, thành lũy bị tấn công và bị chiếm . Cuộc đổ bộ nầy mở một giai đoạn mới trong lịch sử Việt Nam : Giai đoạn thực dân thống trị.


Phần 1: Đạo Thiên Chúa và Sự Xâm Lăng Nam Kỳ

Phần 2: Chính Sách Thực Dân và Chính Sách Của Các Vị Truyền Giáo Tại Bắc Kỳ

Phần III: Dấu In Mọi Ý Tưởng Của Những Người Truyền Đạo Lên Tổ Chức Bảo Hộ

Tiếp tục đọc “Đạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa Thực dân tại Việt Nam – Phần I – Chương I: Cuộc viễn chinh Nam Kỳ: Một vấn đề Gia Tô giáo”

“Tiếng Việt từ TK 17: cách dùng đã, đã đã, nên tật, đã tật” (phần 34)


Nguyễn Cung Thông 1


Phần này bàn về cách dùng đã, đã đã, đã tật và làm đã, đã làm vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh/Bồ (chữ quốc ngữ). Ngoài các bản Nôm của LM Maiorica ghi ở đoạn sau, tài liệu tham khảo chính của bài viết này là bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan- Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false .

Tiếp tục đọc ““Tiếng Việt từ TK 17: cách dùng đã, đã đã, nên tật, đã tật” (phần 34)”

“Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes – tới Kinh Ave thời Philiphê Bỉnh và đến Kinh Kính Mừng – vài nhận xét thêm (phần 26B)”

Nguyễn Cung Thông 1


Phần này tiếp theo bài “Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes – các khuynh hướng dịch tiếng nước ngoài ra tiếng Việt: trường hợp bản Kinh Kính Mừng” (phần 26) nên được đánh số thứ tự là 26B. Bài này chú trọng đến các dạng chữ Nôm trong bản Kinh Kính Mừng (KKM) của LM Philiphê Bỉnh, đặc biệt là từ tài liệu của các LM de Rhodes và Maiorica, và cũng so sánh với các dạng chữ quốc ngữ trong tài liệu chép tay của cụ Bỉnh.

Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan- Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false .

Tiếp tục đọc ““Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes – tới Kinh Ave thời Philiphê Bỉnh và đến Kinh Kính Mừng – vài nhận xét thêm (phần 26B)””

“Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes – tới Kinh Tin Kính thời Philiphê Bỉnh – vài nhận xét thêm (phần 26C)”

Nguyễn Cung Thông


Phần này tiếp theo loạt bài “Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes” về các Kinh Lạy Cha và Kinh A Ve (đánh số 5 và 26). Bài này chú trọng đến các dạng chữ Nôm trong bản Kinh Tin Kính (KTK) của LM Philiphê Bỉnh, đặc biệt là từ tài liệu của các LM de Rhodes và Maiorica, và cũng so sánh với các dạng chữ quốc ngữ trong tài liệu chép tay của cụ Bỉnh.

Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan- Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.

Tiếp tục đọc ““Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes – tới Kinh Tin Kính thời Philiphê Bỉnh – vài nhận xét thêm (phần 26C)””

“Tiếng Việt từ TK 17: cách dùng đừng, chẳng khi nào đừng, chẳng có khi đừng” (phần 35)

Nguyễn Cung Thông

Phần này bàn về cách dùng đừng, chẳng khi nào đừng, chẳng có khi đừng, dừng, liên hệ giữa không và chẳng/chăng của câu phủ định vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh/Bồ (chữ quốc ngữ). Từ đó, ta có thể hiểu rõ hơn thành ngữ “cây muốn lặng, gió chẳng đừng” và các dị bản.

Tiếp tục đọc ““Tiếng Việt từ TK 17: cách dùng đừng, chẳng khi nào đừng, chẳng có khi đừng” (phần 35)”

Yếu tố văn hóa Cham Pa ở kinh đô Đại Việt và vùng phụ cận

02/08/2020 07:07 – Nguyễn Tiến Đông. Tia Sáng

Lời tòa soạn: Như chúng tôi đã đề cập trong những số báo gần đây về vùng Đồng bằng sông Hồng là hợp lưu của những luồng di dân từ hàng ngàn năm trước cho đến đầu thời Đại Việt. Bài viết dưới đây của TS Nguyễn Tiến Đông tiếp tục dòng thảo luận ấy ở một khía cạnh cụ thể hơn: người Cham pa đã đóng góp như thế nào vào không gian văn hóa ngay tại kinh đô Đại Việt và vùng phụ cận.


Ngay trên chính Hoàng thành này, những dấu tích văn hóa Cham Pa đã hiển hiện khi các nhà khảo cổ học khai quật khu di tích 18 Hoàng Diệu. Trong ảnh, sinh viên đại học nghe nhà khảo cổ học Nguyễn Tiến Đông giới thiệu những di tích thời Lý – Trần (Khu A). Ảnh: Viện Khảo cổ học (2004).

Làm nhạt nhòa sự mô phỏng phương Bắc

Ngay từ buổi đầu của nền độc lập, nhà Tiền Lê đã cất quân đi đánh Cham Pa, sử cũ chép rằng:“Năm Nhâm Ngọ thứ 3[982]… Vua thân đi đánh nước Chiêm Thành thắng được. Trước đây, vua sai Từ Mục và Ngô Tử Canh sang sứ Chiêm Thành, bị họ bắt giữ, vua giận, mới đóng thuyền chiến, sửa binh khí, tự làm tướng đi đánh, chém được Phê-mỵ-thuế tại trận; Chiêm thành thua to; bắt sống được binh sĩ không biết bao nhiêu mà kể; bắt được kỹ nữ trong cung trăm người và một thầy tăng người Thiên Trúc…”(Ngô Sĩ Liên 1967).

Tiếp tục đọc “Yếu tố văn hóa Cham Pa ở kinh đô Đại Việt và vùng phụ cận”