Bắc di cư: Dân Công giáo tị nạn từ miền Bắc và vai trò của họ tại Việt Nam CH, 1954-1959

Posted on by The Observer – NCQT

Nguồn: Peter Hansen (2009). “Bac Di Cu: Catholic Refugees from the North of Vietnam, and Their Role in the Southern Republic, 1954–1959”, Journal of Vietnamese Studies, Vol. 4, No. 3, pp. 173 -211.

Biên dịch và Hiệu đính: Đỗ Hải Yến

Gia Kiệm, một thị trấn khoảng tám mươi ngàn dân, nằm cách thành phố Hồ Chí Minh chừng năm mươi kilômét về phía Bắc, trên đường đến Đà Lạt. Thị trấn nổi bật bởi sự phồn thịnh và quy củ, nhưng điểm đặc biệt nhất là sự phong phú của các nhà thờ Công giáo vốn nằm rải rác trên trục đường chính, chỉ cách nhau vài trăm mét. Gia Kiệm không phải là một cộng đồng lâu đời. Trên thực tế, trước năm 1954, đó còn chưa phải là một ngôi làng. Nhưng vào năm đó, Giám mục Thaddeus Lê Hữu Từ đã chọn Gia Kiệm làm nơi tái định cư cho hàng ngàn dân Công giáo bỏ chạy vào Nam từ Giáo khu Phát Diệm của ông ở miền Bắc. Dân Công giáo từ các giáo khu khác ở miền Bắc như Bùi Chu và Thanh Hóa nhanh chóng gia nhập đoàn giáo dân của Lê Hữu Từ tại Gia Kiệm. Tên của các giáo xứ mới thành lập tại Gia Kiệm gợi nhắc gốc gác miền Bắc của họ: Phát Hải, Thanh Sơn, Phúc Nhạc, Ninh Phát, Kim Thượng, v.v…[1] Tiếp tục đọc “Bắc di cư: Dân Công giáo tị nạn từ miền Bắc và vai trò của họ tại Việt Nam CH, 1954-1959”

Các đô thị hiệu quả đóng vai trò then chốt giúp Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thu nhập cao

Axel van Trotsenburg's picture
Also available in: English

Quá trình đô thị hóa nhanh chóng là một điểm nhấn quan trọng trong quá trình phát triển của Việt Nam trong những thập kỷ qua. Năm 1986 dân số đô thị của Việt Nam chỉ là dưới 13 triệu người; hiện nay con số đó đã là 30 triệu. Các thành phố đã trở thành trụ cột phát triển mạnh mẽ, tăng trưởng kinh tế của khu vực đô thị cao gấp hai lần mức bình quân của cả nước, đóng góp trên một nửa tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

Các khu vực đô thị ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng, và điều đó không có gì đáng ngạc nhiên. Một thực tế được thừa nhận trên phạm vi toàn cầu là nếu quản lý tốt, quá trình đô thị hoá sẽ góp phần làm tăng năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế nhờ hiệu ứng tập trung, chẳng hạn như thị trường lao động sẽ có quy mô lớn hơn và hoạt động hiệu quả hơn, chi phí giao dịch thấp hơn và tri thức được lan tỏa dễ dàng hơn. Tuy nhiên, khi quan sát cụ thể hơn, có thể thấy đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay cần những thay đổi lớn về tư duy để đảm bảo rằng quá trình này sẽ đóng góp toàn diện vào mục tiêu trở thành nước thu nhập cao. Tiếp tục đọc “Các đô thị hiệu quả đóng vai trò then chốt giúp Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thu nhập cao”

Người Jing (Kinh) trên đất Trung Hoa, 500 năm lưu lạc vẫn tự hào hai tiếng Việt Nam

NN – Trong vùng Tam Đảo thuộc tỉnh Quảng Tây, bên Tàu có ba làng người Việt, gọi là Jing (Kinh). Tài liệu tại địa phương cho biết họ đã rời Việt Nam và định cự tại đây khoảng 500 năm. Tuy nhiên, đồng bào Việt vẫn giữ gần như hầu hết các nét đặc thù của dân tộc Việt mặc dù áp lực đồng hóa thường trực của văn hóa Trung Hoa.

Bác sĩ Lê Văn Lân đã đi thăm tận nơi 3 làng Việt bên Tầu vẫn được sống như tự trị ở vùng duyên hải Quảng Tây. Tên ba làng đó là Ô Vĩ, Vu Đầu, Sơn Tâm, thuộc huyện Giang Bình, quen gọi là Kinh Tộc tam đảo. Dân trong ba làng vẫn giữ tiếng nói, kiểu ăn mặc, phong tục Việt, vẫn ăn tết, hát dân ca cổ truyền, dùng đàn bầu, đàn nhị, sáo, trống, cồng. Đồ ăn của họ thì cơm vẫn là chính, dùng nước mắm, lại có xôi chè, bánh tráng nướng, bún riêu, bún ốc. Họ vẫn dùng chữ nôm, và dĩ nhiên cũng nói tiếng Tầu địa phương.

Tiếp tục đọc “Người Jing (Kinh) trên đất Trung Hoa, 500 năm lưu lạc vẫn tự hào hai tiếng Việt Nam”

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – 6 kỳ

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay: Tại sao lại là Johnathan Hạnh Nguyễn ?

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – Kỳ 2: Vào dinh xin chữ ký tổng thống

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – Kỳ 3: Phần thưởng nóng

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – Kỳ 4: Vận động viện trợ nhân đạo, xúc tiến đầu tư…

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – Kỳ 5: Mở đường kiều hối

Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – Kỳ 6: Giữ đường bay bằng mọi giá

***

06:21 AM – 18/05/2015 TN

Trong lịch sử hàng không dân dụng VN có một Việt kiều đã chấp nhận mạo hiểm, dám đánh đổi mạng sống của mình để mở đường bay quan trọng, tạo một lối mở ra thế giới cho đất nước từ 30 năm trước…

Lễ đón chuyến bay đầu tiên VN9033 từ TP.HCM đáp xuống Manila vào ngày 9.9.1985 - Ảnh: T.L
Lễ đón chuyến bay đầu tiên VN9033 từ TP.HCM đáp xuống Manila vào ngày 9.9.1985 – Ảnh: T.L

Bây giờ có thể nói việc mở đường bay không quá khó khi mà VN đã gia nhập nhiều tổ chức, bình thường hóa quan hệ với nhiều nước trên thế giới. Chỉ cần có lượng khách đi lại khá thường xuyên là có thể… bay!

Nhưng vào những năm đầu thống nhất đất nước, việc mở đường bay, đặc biệt là bay thẳng đến những nước được gọi là “phía bên kia” không hề dễ dàng chút nào. Phần vì chúng ta chưa thật sự chủ động mở cửa, phần vì lệnh cấm vận của Mỹ còn thắt chặt. Việc ký kết các hiệp định hàng không, mở đường bay thẳng vì thế luôn đối mặt với nhiều khó khăn. Tiếp tục đọc “Johnathan Hạnh Nguyễn – Người đi mở đường bay – 6 kỳ”

Việt Nam sẽ là quốc gia siêu già vào năm 2050

Thứ tư, 02/12/2015 – 11:49 AM (GMT+7)
Việt Nam sẽ là quốc gia siêu già vào năm 2050

NDĐTSáng 2- 12, tại TP Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, Bộ Y tế và Tổ chức Y tế thế giới tổ chức Đối thoại về chính sách y tế người cao tuổi. Tại đây các chuyên gia trong nước và các tổ chức quốc tế đều chỉ rõ, Việt Nam là một trong mười nước có tỷ lệ già hóa nhanh nhất thế giới. Việt Nam sẽ là quốc gia siêu già vào năm 2050.

Tỷ lệ người cao tuổi ở Việt Nam tăng nhanh và liên tục từ 7,1% dân số (năm 1989) lên 10,5% (năm 2013). Nước ta đã chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011, nhanh hơn sáu năm so với dự báo (2017).

Tiếp tục đọc “Việt Nam sẽ là quốc gia siêu già vào năm 2050”

Tản mạn về từ Hán Việt thời – thì (phần 6.2)

Nguyễn Cung Thông

nguyencungthong@yahoo.com

Image14

Trong tiến trình hội nhập với đà tiến hóa của văn minh hiện đại, chúng ta cần phải nhìn lại một cách khác quan vài đặc tính của tư duy người Việt Nam qua các tập tục từ ngàn xưa và phản ánh qua ngôn ngữ cận đại, trọng tâm của loạt bài này. Có hiểu quá trình cấu tạo các khái niệm về thời gian như chữ thời thì mới hy vọng phần nào hiểu được tại sao người Việt Nam thường đi đến các buổi họp mặt (như làm việc, giỗ, tiệc trà, đám cưới …)  không theo đúng thời hạn và sau đó là tìm ra các phương pháp cải cách lề lối suy nghĩ không hợp thời như vậy.

Các tính tốt hay tích cực như tinh thần cộng đồng, giúp đỡ lẫn nhau (Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn) thì ráng giữ lấy, còn một số tư duy không phù hợp với thời đại nữa thì cần phải xem lại như ‘chứng bệnh’ giờ cao-su (giờ dây thun). Tiếp tục đọc “Tản mạn về từ Hán Việt thời – thì (phần 6.2)”

Việt Nam-Trung Quốc chính thức ký kết Hiệp định về thác Bản Giốc

DT – Việt Nam và Trung Quốc vừa chính thức ký kết Hiệp định khai thác tài nguyên du lịch thác Bản Giốc và Hiệp định về tự do đi lại của tàu thuyền ở cửa sông Bắc Luân.

Với việc ký kết 2 văn kiện pháp lý quan trọng này, Việt Nam và Trung Quốc đã chính thức khép lại hoàn toàn những tranh chấp do lịch sử để lại, mở ra một thời kỳ hợp tác mới giữa hai nước.

Thác Bản Giốc (Ảnh: Trương Cộng Hòa)>
Thác Bản Giốc (Ảnh: Trương Cộng Hòa)

Khu vực thác Bản Giốc và cửa sông Bắc Luân là những khu vực rất nhạy cảm, có lịch sử tranh chấp lâu đời và dư luận hai nước Việt Nam, Trung Quốc đặc biệt quan tâm. Nhiều năm qua, các khu vực này đã được đưa ra bàn bạc trong nhiều vòng đàm phán của Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc Việt Nam-Trung Quốc nhưng chưa giải quyết được. Ngay sau khi hoàn thành phân giới cắm mốc trên đất liền năm 2008, Việt Nam và Trung Quốc nhất trí giải quyết tổng thể các khu vực tồn đọng trong đó có 2 khu vực này bằng giải pháp “cả gói”, dựa trên nguyên tắc công bằng hợp lý, tôn trọng các dấu tích lịch sử, ưu tiên ổn định đời sống cư dân biên giới, phù hợp các văn bản pháp lý do lịch sử để lại. Tiếp tục đọc “Việt Nam-Trung Quốc chính thức ký kết Hiệp định về thác Bản Giốc”

Bệnh tan máu bẩm sinh – Quả bom nguyên tử đã nổ ở Việt Nam

DTĐó là khẳng định của GS.TS Nguyễn Anh Trí, Viện trưởng Viện Huyết học – Truyền máu TƯ trước thực trạng 10 triệu người mang gien bệnh tan máu bẩm sinh nếu kết hôn, sinh con sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp tới giống nòi, chất lượng dân số Việt Nam.

 Nhiều trẻ nhỏ bị mắc căn bệnh tan máu bẩm sinh do cả bố và mẹ không biết mình mang gien gây bệnh

Nhiều trẻ nhỏ bị mắc căn bệnh tan máu bẩm sinh do cả bố và mẹ không biết mình mang gien gây bệnh

Hơn 10 triệu người mang gien bệnh tan máu bẩm sinh

Theo GS.TS Nguyễn Trí,ước tính tại Việt Nam đã có hơn 10 triệu người mang gen bệnh tan máu bẩm sinh (thalassemia), trong đó có những dân tộc thiểu số, tới 48 – 49% dân số mang gen bệnh nguy hiểm này. Và nếu không được phát hiện, những người mang gien bệnh tan máu bẩm sinh gặp nhau, kết hôn, sinh con… thì tỉ lệ người mắc bệnh tan máu bẩm sinh sẽ tăng theo cấp số nhân (trường hợp cả vợ và chồng đều là người mang gen đột biến thì thai có nguy cơ 25% bị mắc bệnh ở thể nặng). Tiếp tục đọc “Bệnh tan máu bẩm sinh – Quả bom nguyên tử đã nổ ở Việt Nam”

Vài ý nghĩ về Thơ Việt hôm nay và những cách ứng xử với Thơ

Thời gian dài vừa qua, đời sống văn hóa & tinh thần nói chung, đời sống văn chương nói riêng đã diễn ra tình trạng loạn chuẩn tới mức báo động, và nổi lên những hiện tượng kỳ dị- nổi bật nhất là tình trạng “lạm phát thơ” ( như tên một bài viết), mà đỉnh cao (hay thực chất là biến tướng quái đản của nó) là hiện tượng người làm thơ dám tự nhận “mượn bút tiền nhân”…

Là một người yêu thơ, và đang làm một công việc có thể nói là lấy thơ ca làm gốc, tôi xin mạnh dạn góp mấy lời lạm bàn về hiện trạng trên.

Đúng là có sự thật: “Nhan nhản những tập thơ vô thưởng vô phạt xuất hiện trong các giải thưởng, trên quầy sách, trên bàn thờ tổ tiên hay trên những trang mạng cá nhân. Đó là thứ thơ sáo mòn, nhạt thếch và cũ rích, tưởng như vừa khai quật trong bãi thải của quên lãng…Nhưng cũng không ít người say mê với nó và tưởng mình không thua gì Nguyễn Bính, Xuân Hương khi được một số độc giả khen vuốt ve trên mạng ảo…” (“Hiện tượng vè hóa, văn xuôi hóa và cũ hóa Thơ…cần báo động” – Nguyễn Trọng Tạo – trieuxuan.info ). Quả thực có chuyện: “Thơ thập- diện- mai- phục… thơ làm tắc nghẽn mọi ngóc ngách, ngõ hẻm, đường sá, giao lộ tinh thần khiến cho thơ sạch không có lối đi.” ( “Vấn nạn thơ đầy đường”- trannhuong.com). Bản thân tôi cũng đã bày tỏ thái độ trước sự lạm phát thơ này trong vài bộ phim truyện truyền hình phát trên Văn nghệ chủ nhật, như phim “Trời cho- trò chơi”: một ông được đền bù đất đai đã vung tiền cho mình và vợ con làm sang- vợ mở phủ, con gái mua sắm, còn bản thân thì cho in thơ “con cóc” của mình để khoe và để biếu (do một cò mồi kích thích dẫn dắt mà diễn viên Xuân Bắc thủ vai rất đạt)

Tiếp tục đọc “Vài ý nghĩ về Thơ Việt hôm nay và những cách ứng xử với Thơ”

Khi sông Cái mỉm cười

Nguyễn Anh Tuấn
Đọc trường ca “Sông Cái Mỉm Cười” của Nguyễn Nguyên Bảy

Một chiều mưa phùn gió bấc, tôi qua cầu Long Biên, dừng xe ngắm nhìn dòng sông Hồng trơ cạn… Đây là dòng sông đỏ lựng phù sa mà biết bao nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, hoạ sĩ, nhà điện ảnh… đã tìm thấy nguồn cảm hứng nghệ thuật vô tận và mãnh liệt của mình! Và tôi bỗng nghĩ đến cái Dự án “Thành phố Sông Hồng”- một công cuộc chỉnh trang lại đê điều sông Hồng lớn nhất trong lịch sử kể từ khi Hà Nội và châu thổ sông Hồng có đê ngăn lũ; và ít ai biết được rằng: Dự án đó lại xuất phát từ tình yêu sông Hồng và ý tưởng của một hoạ sĩ- hoạ sĩ Vũ Văn Thơ…

Nhưng Dự án này khi triển khai, với nhiều nhà khoa học có lương tâm thì lại nổi cộm khá nhiều vấn đề hệ trọng. Nhà sử học Lê Văn Lan đã lên tiếng cảnh báo: Dự án trên“không hiểu vô tình hay là hữu tình…về mặt lịch sử, văn hoá gắn liền với Thủ đô Hà Nội thì chẳng thấy ai đề cập đến!” Tệ hơn, như GS Lê Văn Lan đã vạch ra: Dự án còn định “cấy” một khu đô thị Hàn Quốc vào, “ như thế khác nào đánh mất mình và Hà Nội sẽ không còn nữa!” Và ông đã đặt câu hỏi hộ nhiều người: “ Hôm nay đây,chúng ta đều biết nước sông Hồng đang dần bị cạn kiệt, thì lịch sử sông Hồng,là cội nguồn của nhiều dòng đời liệu có bị cạn theo?  Trách nhiệm này thế hệ của chúng ta có phải trả lời trước lịch sử hay không? ”(Dòng chảy sông Hồng sẽ về đâu?- VN Trẻ )…Trong những ý nghĩ miên man như thế, tôi đã nhớ đến trường ca “Sông Cái mỉm cười” của nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy – một người Hà Nội đau đáu nhớ thương Hà Nội đang sống xa Hà Nội hàng ngàn cây số…

1. Không phải ngẫu nhiên mà NNB dùng trường ca “Sông Cái Mỉm Cười” để kết cho phần thơ “Kinh thành Cổ tích”*. Và trong thế giới của Kinh thành Cổ tích, Sông Cái đương nhiên cũng phải là con sông Cổ tích!

Tiếp tục đọc “Khi sông Cái mỉm cười”

Vụ Nhân Văn Giai Phẩm từ góc nhìn của Đại tá Công an

Được đăng bởi nguyentrongtao
và VANDANVIET.COM

NTT: Nhà văn Lê Hoài Nguyên tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo dõi văn nghệ sĩ và văn hóa) đã gửi tới NTT.ORG một chuyên luận dài về Nhân Văn Giai Phẩm, và chúng tôi đã đăng làm 5 kỳ từ đầu tháng 8/2010, được nhiều trang mạng đăng lại. Nay tác giả đã chỉnh sửa lại bài viết của mình và nhờ NTT.ORG đăng lại trọn vẹn bài viết này. Các bạn hãy đọc nó như đọc một “góc nhìn” về sự thật.

VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM MỘT TRÀO LƯU DÂN CHỦ, MỘT CUỘC CÁCH TÂN VĂN HỌC KHÔNG THÀNH

LÊ HOÀI NGUYÊN


I – Mấy vấn đề có tính phương pháp luận

Hiện nay còn tồn tại nhiều cách đánh giá về vụ Nhân Văn-Giai Phẩm. Có người cực đoan cho rằng cốt lõi đây là vụ án chính trị phản động không dính líu gì đến văn học, mà chỉ có một số anh em văn nghệ sĩ bị lôi kéo vào, Đảng và nhà nước đã không xử án văn nghệ sĩ (1). Người thì cho là một vụ án văn học, thuần túy oan sai về văn học, để đàn áp văn nghệ sĩ, nhà nước đã biến một vụ việc văn học thành một vụ án chính trị. (2).Tât nhiên là để bảo vệ các khuynh hướng, để đánh giá đúng thực chất của Nhân Văn Giai Phẩm không phải dễ dàng, mà phản bác hoàn toàn cũng cần hết sức thận trọng. Tiếp tục đọc “Vụ Nhân Văn Giai Phẩm từ góc nhìn của Đại tá Công an”

Miền Trung thời El Nino

10:02 AM – 14/11/2015 TNTS – Vũ Đức Sao Biển

Miền Trung nước ta có vị trí địa lý khá đặc biệt. Nó là một dải đất dài chạy dọc theo vòng cung bờ biển, địa hình chủ yếu là núi non và đồi gò, vùng bình nguyên hẹp và nhỏ.

Miền Trung thời El Nino
Ảnh: Shutterstock

Địa hình ấy có chiều dài mà thiếu chiều ngang, lại chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ gió mùa, đặc biệt là gió foehn khô nóng mùa hè từ khu vực vịnh Thái Lan thổi sang, qua nước bạn Lào rồi đổ xuôi theo dãy Trường Sơn Đông tạo tình hình khô nóng.

Cuối tháng 10 dương lịch, tôi về miền Trung. Đáng lẽ như nhiều năm trước, trời cuối thu miền Trung sẽ có màu nắng lụa rất đẹp, dịu dàng và trong như lọc; buổi chiều sẽ có gió heo may thổi nhẹ qua khắp đồng bằng, bờ tre, bãi mía, nương dâu. Đáng lẽ như nhiều năm trước, mùa này miền Trung đã có lũ lụt – những trận lũ lụt vừa hoặc nhỏ. Đó là hiệu ứng của vùng không khí lạnh từ phương bắc tràn về, kết hợp với những cơn bão trung bình đưa mây về quần tụ trên núi cao. Mây sẽ tạo mưa nhiều cho vùng thượng nguồn, chảy xuống thành lũ lụt ngập khắp đồng bằng. Thế nhưng năm nay và tháng 10 này, miền Trung không thấy mùa lũ lụt. Quảng Nam – vùng đất nằm đúng trung lộ của đất nước, ba năm qua không có lụt, dù là cơn lụt nhỏ. Tiếp tục đọc “Miền Trung thời El Nino”

Hòa hợp – hòa giải cần đôi mắt mới

(TNO) Thời điểm để đặt ra câu chuyện hòa hợp, hòa giải dân tộc đã trôi qua từ lâu. Vấn đề này hiện nay cần được nhìn nhận dưới những góc độ khác. Nhận định này được Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh, nhà ngoại giao lão thành, nguyên thành viên đoàn đàm phán Hiệp định Paris 1973 chia sẻ với Thanh Niên Online.

>> Hòa hợp tạo ra sức mạnh cho dân tộc

Hòa hợp - hòa giải cần đôi mắt mới - ảnh 1
Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh – Ảnh: Trường Sơn

Ông Huỳnh lý giải: Lúc đầu đàm phán Paris, tư tưởng của ta là giành thắng lợi, buộc Mỹ rút, lập chính phủ liên hiệp và sau đó chính phủ sẽ đoàn kết toàn dân. Điều này có nghĩa là toàn dân Việt Nam dù phe này phe kia, tập hợp ba lực lượng: lực lượng cách mạng, lực lượng đối địch, lực lượng thứ ba cũng sẽ đoàn kết lại dưới sự lãnh đạo của chính phủ liên hiệp. Lúc đó chưa có khái niệm hòa hợp dân tộc. Tiếp tục đọc “Hòa hợp – hòa giải cần đôi mắt mới”

Chuyện trưởng thôn tự tử vì lợn nái đẻ toàn con đực

(LĐĐS) – Số 45 ƯU ĐÀM – VANDUCDUNG@GMAIL.COM – 1:7 PM, 22/11/2015

Chuồng nuôi con lợn nái nhà anh Lanh đẻ toàn con đực khiến anh Lanh phải treo cổ tự tử.

Chỉ vì quan niệm lợn nái đẻ toàn con đực hoặc toàn con cái sẽ mang xui xẻo đến cho dân làng mà một vị trưởng thôn đã treo cổ tự tử. Những cái chết vì chuyện không đâu khiến dân làng cho rằng “con ma bắt” từ đó sinh hoang mang, lo lắng và lũ lượt bỏ làng ra đi.

Nóc (bản) Ông Đại (thôn 2, xã Trà Dơn, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam nằm chót vót trên đỉnh núi. Từ trung tâm xã lên đây phải mất một giờ đi xe máy và thêm ngần ấy thời gian đi bộ. Ngoài những cánh rừng già đang cạn kiệt vì nạn phá rừng thì ở ngôi làng xa xôi này chẳng có gì khác ngoài nghèo đói và hủ tục. Giữa cánh rừng già, ngôi làng vốn yên bình quanh năm mây phủ này bỗng bao trùm một màu u ám sau cái chết của anh Xuân Ngọc Lanh (31 tuổi). Cái chết của vị trưởng thôn trẻ tuổi khiến người dân hết sức hoang mang vì họ tin rằng anh Lanh bị “con ma rừng” bắt treo cổ chết vì không chịu giết thịt con lợn nái đã từng đẻ toàn con đực. Tiếp tục đọc “Chuyện trưởng thôn tự tử vì lợn nái đẻ toàn con đực”

Bí ẩn mồ chôn tập thể lớn nhất Sài Gòn

VEKhu vực vòng xoay Dân Chủ (quận 10 và 3) từng là nơi chôn 1.831 người già, trẻ bị vua Minh Mạng ra lệnh xử tử trong cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi 180 năm trước.

Ngã sáu Công trường Dân Chủ, đường 3/2, Cách Mạng Tháng 8 là khu vực sầm uất tại TP HCM với nhà cao tầng san sát, xe cộ tấp nập. Nhưng ít người biết trước đây nó từng là nghĩa địa lớn nhất Sài Gòn với tên gọi “đồng mồ mả”. Đây cũng là vị trí được cho là có ngôi mộ tập thể (Mả Ngụy) gần 2.000 người già, trẻ, trai, gái bị xử tử vì tội phản nghịch trong cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi vào năm 1833-1835 dưới thời vua Minh Mạng.

bi-n-mo-chon-tap-the-lon-nhat-sai-gon

Bản đồ người Pháp vẽ năm 1878, Sài Gòn tập trung chủ yếu hai bên đường Impériale (nay là Hai Bà Trưng) về phía rạch Thị Nghè và từ đường Chasseloup Laubat (nay là Nguyễn Thị Minh Khai) về hướng sông Sài Gòn và rạch Bến Nghé. Phía còn lại của hai con đường này là ranh giới của một khu vực rộng lớn gần như không có người ở, được họ đặt tên là Đồng Mả Mồ (Đồng Tập Trận).

Tiếp tục đọc “Bí ẩn mồ chôn tập thể lớn nhất Sài Gòn”